1.7.2008
Bùi Minh Quốc
Không biết đã có nhà nghiên cứu nào mò mẫm vào cái phạm trù đặc biệt này: tính thiêng của thơ? Phần tôi, bằng sự trải nghiệm của hơn năm mươi năm cầm bút, với tất cả sự dè dặt, chỉ xin giãi bày đôi chút cảm và nghĩ.
Cảm và nghĩ này bắt đầu vụt loé trong tôi vào năm 1992, khi đọc Chân dung nhà văn của Xuân Sách. Trước kia chỉ nghe truyền miệng, các “Chân dung” cứ trượt đi trong cái bầu khí bỗ bã cười đùa tếu táo, có bài nghe xong tôi còn thầm trách ông Sách ác khẩu. Giờ thì đọc đến đâu giật mình đến đấy. Và ngộ ra: thơ thiêng lắm! Năm ấy tôi ghi lại, bằng thơ, cảm nghĩ của mình:
Thơ thiêng lắm người ơi
Phản thơ thì phải chết
Chẳng ai giết mình mà mình tự giết
Cuộc tự giết ấy đã được nhà thơ Chế Lan Viên tự thổ lộ vào lúc cuối đời (1989) trong bài “Trừ đi”:
Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi
Quái lạ, sao vậy nhỉ?
Tôi (tức Chế Lan Viên) là người làm thơ, một thần đồng thơ từ 16 tuổi, một (trong không nhiều) thi sĩ hàng đầu của đất nước, mà sao tôi lại giết thơ?
Vì tôi không còn là tôi nữa.
Cần phải hỏi tiếp: Vậy chớ vì sao tôi không còn là tôi nữa?
Tại vì…
Tại vì…
Có cà lăm mấy thì cũng phải tự nhận 2 cái “tại vì” này:
• Tại vì có một sức mạnh ở bên ngoài tôi đã tàn bạo đang tay vo tròn bóp méo tôi.
• Tại vì ở ngay trong tôi có một sức mạnh ma quỉ nào đó chỉ riêng tôi biết xui khiến tôi phải tự vo tròn bóp méo mình.
Các nhà triết học gọi đó là trạng thái tha hóa của con người, là đánh mất bản ngã, đánh mất cái tôi. Cũng có người gọi là bán linh hồn cho quỉ dữ.
Năm 1960, sau một thời gian dài không xuất hiện, Chế Lan Viên bỗng tái xuất với tập thơ Ánh sáng và phù sa được giới phê bình nêu bật như ngôi sao trên văn đàn miền Bắc trong tư thế một nhà thơ tiền chiến nhờ đi theo Đảng đã vươn tới góp phần quan trọng làm nên thành tựu thơ cho nền văn học cách mạng. Giữa bản hợp xướng tôn vinh ồn ã, nghe truyền miệng lạc dòng một giọng thơ thì thầm khép nép nhưng rất lạ và… “láo” - thơ chân dung, của một anh lính nào đó có tên là Xuân Sách vừa từ dưới đơn vị chuyển về tạp chí Văn nghệ Quân đội. Một câu thơ tâm ngẩm tầm ngầm truyền lan như điện giật: “Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa”. Thế thôi, chỉ vẩy bút chấm phá sơ sơ thế thôi, đã thấy hiện ra mồn một cái bản lai diện mục ẩn kín của nhân vật đang rất “hoành tráng” bề ngoài. Ghê thật. Cái thủ pháp vẽ chân dung kiểu này quả là độc chiêu có lẽ ông trời phú riêng cho Xuân Sách. Bài thơ chân dung không nói là vẽ ai, nhưng mọi người nghe qua đã biết liền đấy là Chế Lan Viên, nhờ ngón lẩy chữ tài tình:“ánh sáng”, “phù sa”.
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa.
Thế đấy, khi đã lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa thì cũng là bắt đầu tự giết rồi. Đấy là dùng thơ để đổi lấy cái gì đó ngoài thơ, phản thơ chứ gì nữa. Quá trình tự giết từ đấy tự vận hành bên trong con người mình, không cưỡng nổi bởi lực đẩy của những tham vọng ngoài thơ, phản thơ. Cứ thế, âm thầm, một mình mình biết. Và đinh ninh rằng chỉ một mình mình biết. Nhưng mà không, nhầm to. Có người khác biết. Người đó là Xuân Sách. Thế cho nên đến lúc có người đọc cho Chế Lan Viên nghe bài thơ chân dung Xuân Sách vẽ mình, Chế Lan Viên chỉ cười cười lặng lẽ, lảng lảng, không cãi, và những lần hội họp này khác có gặp Xuân Sách thì vẫn bắt tay bình thường, sự thể ấy cũng chính Xuân Sách đã kể với tôi.
Chế Lan Viên không cãi.
Nhưng Tố Hữu thì cãi.
Ông bảo, Xuân Sách viết “máu ở chiến trường hoa ở đây” là Xuân Sách phịa (iời cãi này đã in trong một bài tường thuật đăng trên báo Văn nghệ).
Nhưng dù cố cãi thế nào thì Tố Hữu cũng không thể gạt ra khỏi đời thơ của mình mấy câu thơ này:
Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xta-lin
Theo nhận xét của riêng tôi, đây là những câu thơ vong bản nhất, cổ kim chưa từng có, trong thơ Việt.
Hãy cứ tạm tin rằng khi đặt bút viết những câu thơ vừa dẫn trên, Tố Hữu chưa có thông tin gì về tội ác trời không dung đất không tha của Stalin đối với nhân dân Liên Xô, trí thức Liên Xô, và trước hết là đối với những đồng chí cộng sản thân thiết từng kề vai sát cánh cùng ông ta từ thuở nằm gai nếm mật, mặc dù các thông tin đó đã công bố không ít trên sách báo phương Tây. Và cũng tạm tin rằng tấm lòng kính yêu sùng bái của Tố Hữu đối với Stalin là thành thực. Nhưng dám vẽ ra cái cảnh con mình, một đứa bé Việt Nam cất tiếng đầu lòng không gọi “Mẹ” mà gọi “Xta-lin” thì thật là một sự bịa đặt gượng ép lố bịch quá quắt, đến nỗi tôi phải nghĩ rằng đó là của ai khác viết ra chứ không phải của tác giả “Nhớ đồng” (tên một bài thơ của Tố Hữu mà tôi rất mê trong tập Từ ấy với những câu như “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ/ Xao động bên trong một tiếng hò”). Đâu rồi chàng trai yêu nước yêu dân yêu tự do trong Từ ấy? Theo đà chín chắn hơn của tuổi tác, chất vong bản không nhạt đi mà vẫn y nguyên thế, nếu không nói là đậm hơn trong lời lẽ bóng bẩy hơn:“Mao Trạch Đông/ Bóng Người cao lồng lộng/ Ấm hơn một ngọn cờ hồng” (Tố Hữu – “Đường sang nước bạn”). Lời tụng ca cất lên vào lúc tuy chưa có Cách mạng Văn hóa Vô sản nhưng đã có Cải cách Ruộng đất và Đại nhảy vọt mà Tố Hữu quá biết đã gây tai họa như thế nào. Ở đây, rung động thơ không còn thuần khiết cái trinh bạch của tâm hồn cá thể trữ tình nữa mà đã có sự chi phối của ý thức hệ giai cấp. (Thảm trạng ý thức hệ giai cấp lấn lướt và thôn tính ý thức hệ dân tộc diễn ra trong tâm thức đại đa số đảng viên, nhất là đảng viên trung cao cấp, đã đưa Đảng và toàn dân tộc sa vào một bi kịch khủng khiếp dai dẳng như thế nào và hiện vẫn còn là một vấn nạn lớn đã được một số nhà nghiên cứu có tư duy độc lập phân tích phê phán khá kỹ, xin tìm đọc Đào Phan, Hà Sĩ Phu, Lữ Phương, Lê Hồng Hà…).
Những câu thơ nêu trên là cái dấu mốc cho thấy Tố Hữu đã tự vo tròn bóp méo mình, đánh mất mình, đã phản thơ.
Lô-gích tất yếu của sự phản bội: Tố Hữu, một thi sĩ cách mạng hàng đầu, trở thành đao phủ thủ hàng đầu hạ độc thủ các đồng nghiệp Nhân văn.
“Người yêu người sống để yêu nhau” – Tố Hữu viết thế, có thật lòng không? Trong cái “yêu” ấy, có chỗ nào của cái “yêu” mà Tố Hữu đã ban cho anh em Nhân văn? Phùng Quán cũng “yêu” – “Yêu ai cứ bảo là yêu/ ghét ai cứ bảo là ghét.” Cũng một chữ “yêu”, ở hai nhà thơ cách mạng, một người nằm dưới lưỡi dao hành quyết của người kia, thì ai nói thật lòng? Chắc chắn chỉ là Phùng Quán – “dù ai cầm dao dọa giết/ cũng không nói ghét thành yêu” - điều đó đã được định luận bằng cả cuộc đời “nhất quán tận can trường” của ông.
“Cái ghế quan trường giết chết thơ” – Xuân Sách viết thế, trong bài vẽ chân dung Chính Hữu. Nhưng đâu phải chỉ Chính Hữu. Nhìn kỹ lại, từ Tố Hữu đến các văn nghệ sĩ dưới quyền ông trong hệ thống phẩm trật quan trường hầu hết đều thế cả, nói cho chính xác thì không phải cái ghế nó giết mà cái lòng hám ghế nó thôi thúc đương sự tự giết mình, giết thơ.
Tự giết mình đồng thời cũng không ngần ngại giết cả đồng nghiệp, tiêu biểu là Tố Hữu như nêu trên, và một người kế tục cũng khá tiêu biểu: Nguyễn Khoa Điềm, tác giả câu thơ nổi tiếng thời chiến tranh qua giai điệu của Trần Hoàn “mai sau con lớn làm người tự do”, sang thời hậu chiến trở thành người “tự do” ném vào máy nghiền cuốn Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn mà nguyên trưởng Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, cố nhà văn Trần Độ coi là “một tiểu thuyết hiện thực lớn”. Bằng các cuộc giết ấy, Nguyễn Khoa Điềm leo nhanh lên những nấc ghế ngày càng cao, đến tận hàng ghế tối cao, ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, nắm giữ guồng máy điều khiển gò siết trói buộc tư duy của toàn Đảng toàn dân.
Nếu là người thuộc loại chuyên chú dốc lòng theo nghiệp vua quan thì chắc chỉ có việc rung đùi trên ghế, nhưng ở những người đã trót tự nguyện mang lấy nghiệp thơ văn, thì cái sức mạnh thiêng liêng của thơ, của văn chương chữ nghĩa nó buộc phải đối mặt với vấn đề này: cái mà ta tự giết và giết đồng chí, đồng nghiệp để đổi lấy cái mà ta nghĩ rằng giá trị hơn (“cái ghế quan trường”), rốt cuộc có giá trị hơn thật không?
Tố Hữu phải nói lại về anh em Nhân văn những lời ngược hẳn trước kia (Nhật Hoa Khanh ghi). Chế Lan Viết “Bánh vẽ”, “Trừ đi”, Nguyễn Đình Thi viết “Gió bay”, Nguyễn Khải viết “Đi tìm cái tôi đã mất”.
Bài của Nguyễn Khải hiện đang gây chú ý cao độ đối với văn giới Việt Nam . Và không chỉ văn giới. Giáo sư Chu Hảo, giám đốc Nhà xuất bản Tri thức cho tôi biết, trong cuộc gặp ngày 19.5.2008 tại Hà Nội vừa qua giữa Ban Bí thư với một số trí thức tên tuổi, ông đã trao cho văn phòng Ban Bí thư bài “Đi tìm cái tôi đã mất” và đề nghị các ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần phải đọc trước khi ra nghị quyết về “Xây dựng đội ngũ trí thức…”
Nhà thơ Dương Tường nhận xét, trong một bài trả lời phỏng vấn:
“Trong Khải, luôn có hai con người. Một Nguyễn Khải khôn khéo giả dối và một Nguyễn Khải thành thật trắng trợn. Một Nguyễn Khải hèn nhát và một Nguyễn Khải khinh ghét tay Nguyễn Khải hèn nhát kia. Và sự tranh chấp giữa hai con người ấy không bao giờ ngã ngũ.”
Nhà phê bình Vương Trí Nhàn:
“Gọi là ‘Đi tìm cái Tôi đã mất’ cho sang. Ở đây tác giả không định đi tìm cái gì cả... Thế tại sao Nguyễn Khải lại viết ‘Đi tìm cái Tôi đã mất’? Theo tôi, trường hợp này cũng giống như Chế Lan Viên viết ‘Di cảo thơ’, và Tố Hữu tâm sự với Nhật Hoa Khanh. Thực chất cái việc các ông ‘cố ý làm nhòe khuôn mặt của mình’ như thế này là cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào đó mình đã sử dụng).”
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi:
“Bài viết của anh Vương Trí Nhàn sắc sảo quá, nhưng như một số bạn bè trao đổi với nhau, cũng khí cay nghiệt quá.”
Vương Trí Nhàn có cay nghiệt quá không?
Xin trình ra đây một tư liệu để chúng ta cùng tham chiếu:
“Bỗng nhiên có một nhà làm chính trị, cũng là dân làm văn làm báo của Đảng từ trước cách mạng, nhưng đã mất ngôi, mất quyền, bèn đứng ra tổ chức một tờ báo cho những nghệ sĩ ham chuộng tự do được tự do bày tỏ nỗi niềm. Mình thì nói tự do về nghệ thuật, họ thì nói tự do về chính trị, họ muốn giành quyền, muốn đòi quyền, nhưng tự họ không thể làm được những chuyện đó, thân phận họ tầm thường, tài nghệ thì vớ vẩn, tập hợp thế nào được dư luận và công chúng, nhất là công chúng của chúng ta, mượn cả tiếng kêu thống thiết và cảm động đòi tự do để sáng tạo của chúng ta nữa. Nhà chính trị ấy là ông Nguyễn Hữu Đang, ông đó mới thật là linh hồn, kẻ xúi giục và tổ chức ra mọi sự của cái thời ấy, mưu mô bị vỡ lở, kẻ chủ mưu phải ngồi tù, mấy anh em mình không đi tù nhưng bị treo bút mất mấy chục năm còn đau đớn khổ cực hơn cả đi tù. Mấy ông chính trị thất thế, lắm tham vọng, lắm mưu mô, có đi tù tôi cũng không thương. Đã theo cái nghề ấy phải chịu cái nghiệp ấy, chỉ thương anh em mình lòng trong dạ thẳng, nông nổi thơ ngây, cứ nghĩ bụng dạ họ cũng như mình, nào ngờ họ lại nghĩ ngợi sâu xa đến thế.”
Đấy là tôi trích thư của nhà văn Nguyễn Khải, phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam viết ngày 01/9/1988 từ TP HCM gửi Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Hội. Thư này được bộ phận thường trực Hội chính thức sao gửi đến từng hội viên. Thời gian này đang chuẩn bị tiến tới Đại hội lần thứ tư của Hội. Những lời miệt thị tàn nhẫn mà Nguyễn Khải chĩa vào ông Nguyễn Hữu Đang thoạt tiên khiến tôi ngạc nhiên, nhưng bình tĩnh mà nghĩ mới thấy thực chất là nhằm vào ông Trần Độ, Trưởng Ban Văn hóa Văn nghệ. Chẳng lẽ, sâu xa trong lòng mình, Nguyễn Khải có thể nhẫn tâm đến thế với Trần Độ, một cán bộ lãnh đạo hiếm hoi mà Nguyễn Khải biết rất rõ là người luôn thật lòng yêu quý kính trọng văn nghệ sĩ và có công lớn qua việc chuẩn bị rất công phu để Bộ Chính trị cho ra được “Nghị quyết 05 về văn hóa văn nghệ” làm nức lòng toàn thể anh chị em văn nghệ? Nguyễn Khải cũng biết rất rõ Trần Độ là người đã khéo léo vận động để Tổng thư ký Nguyễn Đình Thi đề xuất đưa Nguyên Ngọc (bí thư Đảng đoàn Hội, bị thất sủng sau vụ “Đề dẫn”) trở lại làm Tổng biên tập báo Văn nghệ, và Nguyên Ngọc đã mau chóng đưa tờ báo tiến lên đứng ở tuyến đầu của cuộc chiến đấu cho đổi mới, đổi mới thật chứ không phải “giả vờ đổi mới” (chữ của Nguyễn Duy trong một bài thơ viết cũng trong thời gian ấy). Không, có lẽ đây chẳng qua là Nguyễn Khải dứt khoát vứt béng cái tôi của mình đi để tỏ rõ với cấp trên rằng trước kia dù mình có trót hăng hái đồng tình với Nguyên Ngọc và Trần Độ nhưng nay thì đã dứt khoát lập trường với hai người ấy. Với sự thính nhạy đặc biệt, Nguyễn Khải đã sớm thấy bên trên Trần Độ có người ngoài miệng hô “cởi trói” nhưng thâm tâm chỉ muốn đối với văn hóa văn nghệ thì mọi sự cứ phải trói chặt lại y như cũ. Và chính tại hội nghị ngày 11/9/1988, Ban chấp hành Hội Nhà văn đã ra nghị quyết giáng cho báo Văn nghệ một chùy rất nặng, cũng tức là giáng cho Nguyên Ngọc và Trần Độ, dẫn đến việc Nguyên Ngọc, rồi Trần Độ phải rời khỏi chức vụ. (Nguyễn Khải khôn khéo tránh mặt không dự hội nghị, chỉ gửi bức thư mà tôi trích dẫn bên trên, nội dung thật là hiểm, tạo thêm nhân cốt cho quả chùy đang chuẩn bị vung lên.)
Tố Hữu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải đã ra người thiên cổ. Những gì ngòi bút các ông viết ra – nói như Gorki - rìu cũng không bổ được, còn nguyên đó. Các ông sống thế nào, mọi người dần dần rồi sẽ biết cả, kể cả những gì còn ẩn khuất. Những chữ nghĩa của các ông mà Xuân Sách lẩy thành thơ chân dung, cũng còn nguyên đó. Hậu thế sẽ tiếp tục đọc và suy ngẫm, và chiêm nghiệm.
Nguyễn Khoa Điềm thì hiện đang sống và viết ở Huế, sau khi thôi chức ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương.
Sau cái đận Nguyễn Khoa Điềm nghiền sách của Bùi Ngọc Tấn, dễ đến mấy lần tôi nói với nhà thơ Xuân Sách: “Ông Sách ơi, thế này thì chân dung Nguyễn Khoa Điềm phải có phần 2 chứ?”. Ông Sách chỉ tủm tỉm cười: “Ờ…Ờ…”. Chờ mãi không thấy ông viết phần 2.
Hóa ra tôi ngu quá. Đọc kỹ lại cái chân dung Nguyễn Khoa Điềm, tôi mới thấy tôi ngu quá. Mà ông Sách thâm thật.
Xin dẫn ra đây cái chân dung ấy:
Một mặt đường khát vọng
Cuộc chiến tranh đi qua
Rồi trở lại ngôi nhà
Đốt lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngon a cay ơi
Ngủ ngon a cay à
Và càng thấy ông Sách thâm khi đọc mấy câu nhại của Hà Sĩ Phu:
Ngủ cho ngoan Mẹ ơi
Ngủ cho ngoan Mẹ hỡi!
Ngự trên lưng Mẹ
Con vô Thiên đường
Mẹ mà thức dậy
Con cho “lên… phường!”
....
Ai mà thức dậy
Vung chày là xong
Ông Sách thâm. Và thơ rất thiêng. Văn chương chữ nghĩa rất thiêng. Cái thiêng bắt nguồn từ một đòi hỏi hết sức nghiệt ngã của cái nghiệp này: lúc nào cũng phải xuất phát từ tấm lòng thành tuyệt đối – một sự “chân thành không biết sợ” (chữ của Stefan Zweig nói về Lev Tolstoy. Sống và viết, viết và sống phải trung thực, đơn giản có vậy thôi. “Chảy từ mạch máu ra là máu, từ cái vòi nước ra thì chỉ là nước lã”, tưởng không thể không nhắc lại luôn cả lời ấy của Lỗ Tấn.
Đã có nhiều bài bình luận phân tích về Thơ chân dung của Xuân Sách. Nhưng tôi thích nhất mấy lời bình ngắn gọn sau đây của Hà Sĩ Phu:
“Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên” [1]
Nét này vẽ bác Lan Viên?
Bác Hữu?
Bác Cận?
Hay riêng bác Hoài?
Chân dung các bác ngời ngời
Chém cha riêng cái nửa đời phía sau
Một đời, hai nửa, vì đâu?
Nửa say quỷ kế, nửa đau nhân tình.
Quả thật
Thơ thiêng lắm, người ơi
Phản thơ thì phải chết
Chẳng ai giết mình mà mình tự giết
Treo nỗi nhục muôn đời.
Đà Lạt 28.06.2008
© 2008 talawas
________________________________________
[1] Hai câu trong bài thơ của Xuân Sách vẽ chân dung Hoài Thanh.
Nhân dịp báo chí đưa tin về nhà Lưu Niệm Tố Hữu, mình không vui vì ông ấy tuy văn chương thuộc loại có tiếng tăm một thời, nhưng lại thiếu cái tâm của một thi sĩ .
Đó là lý do đợt này mình đăng tải về văn nghệ sĩ mà chủ yếu là các nhà thơ , nhà văn bị hàm oan từ Phong trào Nhân Văn Giai phẩm đến nay. Nếu các bạn có thì giờ thì qua những bài đăng tải trong blog đợt này đọc thêm. ( khá phong phú, hàng ngàn trang - mình sẽ giới thiệu sau)
anhemnhasoc wrote on Sep 15, '10
Nhà Thơ Hữu Loan nổi tiếng cương trực và liêm khiết, nên ông mới trở về Quê để sống và làm việc. Giờ hiếm có nhà thơ nào được như Ông.
Gặp trưởng lão làng thơ Việtfor everyone
Gặp trưởng lão làng thơ Việt
Hồ Bất Khuất
18.9.2008
Cái tên “Hữu Loan” từ lâu đã “làm tổ” trong lòng những người yêu thơ. Chỉ với bài “Màu tím hoa sim”, ông đã làm tím thi đàn Việt
Từ ám ảnh thuở học trò đến chuyến đi ngẫu hứng
Khi là học sinh chuyên văn của tỉnh Nghệ An, tôi chứng kiến cánh học trò chuyền tay nhau chép bài thơ “Màu tím hoa sim”. Hơn thế nữa, trong những lần đi rừng hái củi, mấy người bạn còn khe khẽ hát: “Ôi những đồi hoa sim, những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt…” Tôi rất xúc động. Cái tên Hữu Loan găm vào tôi từ ngày đó.
Thú thật là ngoài chuyện bài thơ hay ra, người ta còn kể nhiều chuyện khá ly kỳ về Hữu Loan. Điều đấy khiến tôi tò mò. Tôi có mong ước được gặp gỡ và trò chuyện với người “làm tím thi đàn Việt
Thời gian cứ thế trôi, tôi tốt nghiệp đại học rồi đi làm báo. Công việc và chuyện “cơm áo gạo tiền” cuốn đi mải miết. Bạn bè cùng học, cùng uống rượu thành nhà văn, nhà thơ; họ in sách tặng tôi xếp đầy cả tủ. Bản thân tôi cũng bỏ tiền mua những tập không được tặng, nhưng tôi tìm mãi vẫn không thấy tập thơ nào của Hữu Loan. Tôi vẫn khắc khoải, mong ngóng một điều gì đấy.
... Vào những năm tám mươi của thế kỷ trước, trong một lần đi công tác tại Thanh Hoá, khi xe của chúng tôi đi qua một làng quê, người ngồi bên cạnh tôi thì thầm: "Hình như nhà thơ Hữu Loan kìa". Theo tay anh chỉ, tôi thấy một người đàn ông trên 60 tuổi đẩy một chiếc xe thồ đầy đá. Chiếc U-uát chạy nhanh quá, tôi không nhìn rõ mặt người đẩy xe, nhưng thấy dáng ông đi tự tin và vững chãi. Tuy nhiên, hình ảnh ấy có vẻ không phù hợp với một thi sĩ. Chắc có điều gì uẩn khúc ở đây? Tôi mong được một lần gặp Hữu Loan.
Mãi đến bây giờ tôi mới có dịp thực hiện mơ ước từ ngày bé của mình. Vào một ngày đẹp trời, có người rủ tôi đi thăm nhà thơ Hữu Loan. Tôi mừng húm vì nghĩ rằng, người này có mối quan hệ thân thiết với nhà thơ nổi tiếng. Nhưng hoá ra không phải vậy. Anh cũng chỉ là người mến mộ nhà thơ và biết mỗi địa chỉ. Nhưng khi đã muốn thì có thể tìm…
Cách thành phố Thanh Hoá khoảng 26 km, trên quốc lộ 1A (hướng Hà Nội – Vinh), có biển chỉ dẫn "Nga Sơn" đi về phía biển. Theo con đường này đi được chừng 2 km, chúng tôi hỏi hai cô gái đi xe máy cùng chiều. Thật may, hai cô này quê ở Nga Lĩnh và biết nhà của thi sĩ Hữu Loan. Hai cô tình nguyện dẫn đường cho chúng tôi. Trước khi về nhà mình, các cô nói: "Đi theo đường này khoảng vài trăm mét, thấy cái nhà 2 tầng, ông Hữu Loan ở đó.”
Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 02/4/ 1916 tại xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936, đã từng giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Nga Sơn, Uỷ viên Văn hoá trong Uỷ ban Lâm thời tỉnh Thanh Hoá. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là chiến sĩ một đơn vị ở Liên khu 4, chủ bút báo Chiến sĩ. Sau năm 1954, ông làm ở báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt
Tuy đã tìm được gần đến nơi, nhưng trong tôi cảm xúc lẫn lộn. Tôi chưa tưởng tượng được nhà thơ Hữu Loan hơn 90 tuổi, ở trong một ngôi nhà tầng sang trọng, lên xuống cầu thang như thế nào. Và nữa, ông có thể không có nhà. Nếu ở nhà, ông có thể không tiếp chúng tôi, vì trước khi đến đây chúng tôi chẳng liên hệ, chẳng có thông tin gì cả, ngoại trừ cái địa chỉ: thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn.
Vợ chồng nhà thơ Hữu Loan
Nhưng mọi sự không như tôi tưởng. Cái nhà 2 tầng hoá ra không phải của gia đình Hữu Loan, mà chỉ là một cái nhà nổi bật ở gần đó. Nhà thơ Hữu Loan ở trong một ngôi nhà cấp 4 chật chội, cũ kỹ; bù lại, có mảnh vườn khá rộng, có dừa vươn mình soi bóng, giàn mướp nở hoa vàng rực rỡ và một ao cá nhỏ xinh.
Tôi hồi hộp bước vào và thấy một ông già tóc bạc trắng. Đấy là nhà thơ Hữu Loan; ngồi cạnh một phụ nữ đã cao tuổi nhưng trông vẫn khoẻ mạnh, là vợ nhà thơ. Thấy chúng tôi vào, vợ chồng nhà thơ không ngạc nhiên, không tỏ ra vui mừng, đon đả, nhưng thân mật. Ông bà không hỏi chúng tôi là ai, đến đây làm gì, chỉ mời nước và quay quạt về hướng chúng tôi. Có lẽ những cuộc viếng thăm của các nhà văn, nhà báo, hay đơn giản chỉ là của những người yêu thơ đã trở nên quen thuộc với vợ chồng nhà thơ Hữu Loan.
Mối tình thánh thiện, đau thương và tuyệt tác thơ "Màu tím hoa sim”
Gia đình ông Lê Đỗ Kỳ là một gia đình trí thức cách mạng. Ông là kỹ sư canh nông, đã từng giữ chức Tổng Thanh tra Canh nông Đông Dương. Vợ là con một nhà khoa bảng đất Thanh Hoá. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông Kỳ là đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên. Vợ ông trở thành cán bộ của Hội Phụ nữ. Ba người con trai đầu của ông đi bộ đội. Người con cả là Lê Đỗ Khôi, hy sinh trên đồi Him Lam ngay trước giờ chiến thắng Điện Biên. Người con thứ hai là Lê Đỗ Nguyên, chính là Trung tướng Phạm Hồng Cư. Người con thứ ba Lê Đỗ An chính là Nguyễn Tiên Phong, nguyên bí thư Trung ương Đoàn, nguyên Phó Ban Dân vận Trung ương. Người con thứ tư là Lê Đỗ Thị Ninh, vợ của nhà thơ Hữu Loan, nhân vật chính của bài thơ "Màu tím hoa sim".
Chàng gia sư tài hoa và cô học trò xinh đẹp đã cảm mến nhau ngay từ khi chàng đặt chân đến nhà nàng. Chẳng thế mà nàng tự tay giặt là quần áo cho chàng, mặc dù trong gia đình có hàng chục người được thuê để lo việc nhà. Dù đã thầm yêu nàng tha thiết, nhưng vì "không môn đăng hộ đối" nên chàng chẳng dám ngỏ lời. Nhưng người quyết liệt lại là nàng. Nàng chủ động bắt chuyện với chàng, đưa chàng đi dạo ở những dải đồi nở đầy hoa sim tím. Rồi nữa, áo nàng mặc tím màu hoa sim. Trong những ngày chàng lãnh đạo khởi nghĩa ở địa phương thì nàng cũng tham gia công tác quần chúng. Khi chàng làm việc ở Uỷ ban Lâm thời tỉnh Thanh Hoá thì nàng là một trong những người tích cực vận động nhà giàu tham gia hưởng ứng “Tuần lễ vàng”. Cái không khí phơi phới, lạc quan của những đầu cách mạng thành công đã khiến cho tình yêu của họ vốn đã lãng mạn, càng thêm lãng mạn.
Trước một tình yêu chân thành, mãnh liệt, tinh tế và quả cảm của người con gái đẹp; thông minh, đa cảm, tài hoa như Hữu Loan không thể không tiếp nhận. Đây là hạnh phúc mà không phải ai cũng có được: Yêu và được con gái của nhà giàu yêu, rồi chính bố mẹ cô ta đứng ra làm đám cưới.
Hữu Loan cưới vợ trong một lần về phép ngắn ngủi, rồi lại ra đi, mải miết theo đoàn quân trong cuộc trường chinh chống Pháp. Nhưng cuộc đời thật khó lường, “không chết người trai khói lửa, mà chết người con gái hậu phương”. Vợ Hữu Loan chết khi mới 17 tuổi, số ngày sống với chồng chỉ tính trên đầu ngón tay.
Nhận được tin vợ chết, Hữu Loan từ đơn vị trở về, thấy mẹ ngồi bên nấm mồ, bình hoa ngày cưới đã thành bình hương. Trong tim Hữu Loan - người lính, người tình, người chồng, người con dâng lên những đợt sóng trào. Tình cảm thiết tha, mãnh liệt và nỗi đau sâu thẳm đã sản sinh ra bài thơ "Màu tím hoa sim". Tất cả những tình tiết, sự kiện, con người trong bài thơ đều là thật. Có lẽ đây chính là nguyên nhân để bài thơ trở nên bất tử.
Cho đến lúc này, người ta vẫn chưa biết nhà thơ Hữu Loan đã viết tất cả bao nhiêu bài thơ. Nhà thơ, nhà nghiên cứu Vũ Quần Phương thì khẳng định: Hữu Loan viết tất cả 24 bài. Một số nhà nghiên cứu khác nói ông viết được khoảng 40 bài. Một người con trai của ông đang tìm tòi, sưu tập bản thảo viết tay tất cả những bài thơ của ông. Anh chưa chính thức công bố vì chưa hoàn chỉnh, nhưng theo anh, toàn bộ sáng tác của bố anh không quá 60 bài thơ.
Cả cuộc đời dài gần trăm năm của mình, Hữu Loan làm thơ không nhiều, không in tập lớn, tập bé; nhưng chỉ cần với một “Màu tím hoa sim”, ông đã nhuộm tím thi đàn Việt
Chuyện đời mộc mạc
Nhà thơ Hữu Loan và tác giả Hồ Bất Khuất
Người ta đã viết nhiều về Hữu Loan và dành cho ông những lời lẽ tốt đẹp nhất. Tôi không muốn làm cái chuyện ấy nữa, chỉ ngồi ngắm nhìn, hỏi chuyện, nghe ông nói, đọc thơ. Ở tuổi 93, vẫn với ánh mắt cười rất hóm, nhà thơ Hữu Loan chậm rãi kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời mình.
“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, nhưng rất sùng bái chuyện học hành. Ngày bé, tôi tự học là chính. Năm 1938, tôi ra Hà Nội thi, gặp gỡ Nguyễn Đình Thi từ dạo đó. Trở về Thanh Hoá, tôi làm gia sư, vừa để kiếm sống, vừa để học thêm, vừa có điều kiện tham gia cách mạng.
Khi tôi đến dạy học ở nhà một người quyền quý, cô con gái của gia chủ nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ. Tôi bị ánh mắt và gương mặt đẹp thánh thiện ám ảnh, nhưng không dám nghĩ tới chuyện xa hơn.
Nhưng thật may mắn, tôi là chàng trai nghèo nhưng lại được cô học trò xinh đẹp là con của một người sang trọng và giàu có yêu. Chúng tôi đã được yêu nhau và hạnh phúc, tuy rất ngắn ngủi. Sau khi Lê Đỗ Thị Ninh chết, tôi nghĩ là mình chẳng bao giờ lấy vợ nữa, ấy thế mà…”
Ông dừng lời và đưa mắt tình tứ nhìn vợ là bà Phạm Thị Nhu ngồi bên cạnh. Đây là người phụ nữ gắn bó với ông suốt cả cuộc đời, sinh cho ông 10 người con. Bà Nhu nói:
“Tôi yêu ông này vì ngày ấy hay ra nghe trộm ông giảng Truyện Kiều cho học sinh. Trọng tài rồi mê người lúc nào không rõ nữa. Dù ông ấy hơn tôi những 20 tuổi, nhưng tôi vẫn mê ông và khiến ông bỏ ý định không lấy vợ nữa. Ông ấy lại còn viết bài thơ ‘Hoa lúa’ nịnh tôi nữa chứ.”
Nhà thơ Hữu Loan nhìn vào xa xăm rồi tiếp lời vợ:
"Màu tím hoa sim" là khóc người vợ đã chết, còn "Hoa lúa" là bài thơ viết cho bà đang ngồi đây!”
“Ông ấy nhớ toàn bộ bài này đấy, bảo ông ấy đọc cho mà nghe!” - Vợ thi sĩ thì thầm, nhưng cũng đủ cho tất cả mọi người trong căn nhà nghe rõ.
Bằng một chất giọng hơi khàn nhưng vẫn ấm, nhà thơ Hữu Loan đọc bài "Hoa lúa". Bài thơ khá dài, nhưng ông đọc thong thả, khi thì nhìn ra khoảng sân có dàn mướt đơm hoa, kết trái; khi thì nhìn về phía người đàn bà đã gắn bó cùng ông hơn nửa thế kỷ. Vợ ông ngồi lim dim, mãn nguyện. Có hạnh phúc nào hơn khi người mình say mê trở thành chồng mình, làm thơ tình tặng mình, thỉnh thoảng lại dồn hết tâm trí vào đó và tha thiết đọc lên.
Sự bình dị của nhân cách lớn
Thật khó mà tưởng tượng hết những khó khăn mà Hữu Loan vượt qua để duy trì cái gia đình có 12 miệng ăn giữa vùng quê nghèo khó trong những năm chiến tranh ác liệt. Hơn nữa, nhiều người trong bộ máy chính quyền địa phương lúc ấy không hiểu ông, còn gây thêm cho ông những khó khăn như tịch thu xe đạp của ông với lý do… phụ tùng không đồng bộ; xúi giục những người khai thác đá không bán cho ông.
Bằng nghị lực và sự dẻo dai hiếm có cả về tinh thần lẫn thể chất, Hữu Loan đã vượt qua tất cả mọi thử thách, tai ương. Ông đã sống, làm việc bền bỉ, trung thực, ngay thẳng để vợ con yên bình, vững tâm mà sống, mà lớn. Người ta không bán đá cho ông thì tự tay ông khai thác và chở đi bán. Một mình ông gần như đã san bằng một ngọn núi. Ông cũng đã trở thành “chuyên gia” mò cua, bắt ốc ở nơi những cây cói mọc lên để thành chiếu Nga Sơn nổi tiếng. Có lẽ trước khi khăn gói rời Hà Nội, ông đã lường trước mọi khó khăn nên không điều gì có thể làm ông gục ngã.
Nhưng theo ông, tình yêu và trách nhiệm với vợ con mới là nguồn sức mạnh lớn lao giúp ông đứng vững giữa cuộc đời. Ông bảo: “Tôi là người ương bướng, hay cãi. Ở lại làm trong cơ quan, đoàn thể, khó mà dung hoà với mọi người được. Nếu vậy thì làm sao nuôi nổi đàn con? Nghĩ vậy, tôi thấy về với vợ con là tốt nhất.”
10 người con của ông đã trưởng thành, có người là giáo viên, có người là kiến trúc sư, có người là nông dân… Bây giờ mọi thứ qua rồi nên ông nhớ lại mọi thứ, nhẹ nhàng, thanh thản. Hữu Loan cho biết, ông vẫn làm thơ nhưng rất ít, và hầu như không in ở đâu. Phần lớn thời gian ông suy ngẫm để tìm ra vế đối của những câu thách đố nổi tiếng kiểu “Da trắng vỗ bì bạch”. Ông cho biết đã đối khá chỉnh nhiều vế đối của Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm.
Cách đây mấy năm, Công ty Vitek đặt vấn đề xin được chuyển nhượng tác quyền bài thơ “Màu tím hoa sim” 100 triệu đồng. Lúc đầu ông không chịu với lý do “thơ tôi làm ra không phải để bán”, nhưng khi thấy có những người con vẫn còn khó khăn về vật chất, ông đã đồng ý. Sau khi nộp thuế 10 triệu đồng, ông mang 60 triệu chia cho các con, chỉ giữ lại 30 triệu cho tuổi già.
Hai vợ chồng nhà thơ Hữu Loan sống trong ngôi nhà nhỏ bé, ấm cúng, xung quanh là vườn cây xanh tốt; không xe hơi nhà lầu, không hội họp, phê bình, kiểm điểm, không đọc báo cáo… Hàng ngày ông trò chuyện với vợ, đọc thơ, chơi với các cháu và tiếp khách. Người làm tím thi đàn Việt
© 2008 talawas
|


No comments:
Post a Comment