
Liên doanh xe hơi Nam Hàn đã chính thức vượt mặt "người khổng lồ" Ford của Mỹ để vươn lên chiếm vị trí đệ tứ anh hào trên thị trường xe hơi thế giới, sau Toyota, General Motors và Volkswagen.
Lần đầu tiên trong lịch sử, Hyundai-Kia đã vượt mặt Ford.
Đây là điều mà chỉ cách đây khoảng 10 năm, ngay cả những nhân viên lạc quan nhất của Hyundai cũng không dám mơ. Tuy nhiên, kết quả thống kê 6 tháng đầu năm nay cho thấy, điều đó đã chính thức trở thành sự thật. Theo đó, trong nửa đầu năm nay, Hyundai-Kia đã bán được 2.153.000 xe, trong khi Ford chỉ tiêu thụ được 2.145.000 sản phẩm. Đáng chú ý, Mỹ chính là thị trường lớn nhất của Hyundai-Kia.
So với cùng kỳ năm 2008, doanh số của Ford đã sụt giảm hơn 30%. Tuy nhiên, đó là tình trạng chung của cả 10 hãng xe lớn nhất thế giới hiện nay, do chịu sự tác động to lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Đặc biệt hầu hết các hãng đều bị sụt giảm mạnh ở mức hai con số, trong đó Ford là giảm mạnh nhất.
Volkswagen là hãng xe lớn duy nhất có mức sụt giảm doanh số dưới 10%. Điều đó giúp họ thu hẹp đáng kể khoảng cách với hai cái tên xếp trên là Toyota và General Motors. Hai hãng này đều phải hứng chịu mức sụt giảm nặng nề, lần lượt là 26% và 21,8%.
Mặc dù cũng đã sáp nhập như Hyundai và Kia nhưng Nissan và Renault lại báo cáo kết quả kinh doanh riêng, vì thế mà họ lần lượt bị xếp ở vị trí thứ 8 và thứ 10. Nếu gộp doanh số của cả hai hãng, tổng số xe hơi mà họ tiêu thụ được sẽ là hơn 2,6 triệu chiếc, dư sức chiếm vị trí thứ tư của liên doanh Nam Hàn.

Sau đây là bảng xếp hạng cụ thể 10 hãng xe lớn nhất thế giới, tính đến hết 6 tháng đầu năm nay. Số liệu được tổng hợp và công bố bởi Automotive News Data Center:Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2009
Hãng sản xuất Giữa đầu năm 2009 Nửa đầu năm 2008 Biến động (%)
1 Toyota 3.564.105 4.815.442 -26.0
2 General Motors 3.552.722 4.541.125 -21.8
3 Volkswagen 3.100.300 3.265.200 -5.1
4 Hyundai-Kia 2.153.000 -
5 Ford 2.145.000 3.093.000 -30.6
6 PSA Peugeot-Citroen 1.586.900 1.844.700 -14.0
7 Honda 1.586.000 2.022.000 -21.6
8 Nissan 1.545.976 2.013.611 -23.2
9 Suzuki =0 A
1.152.000 1.283.000 -10.2
10 Renault 1.106.989 1.326.164 -16.5
Bích Huyền: Thưa giáo sư, bắt đầu bằng chuyện vinh danh ở Đại Học UCLA [University California Los Angeles]. Trong số bốn người được vinh danh kỳ này chúng tôi nhận thấy có người Tầu, người Đại Hàn... Xin giáo sư cho biết về ý nghĩa cũng như mục đích của giải thưởng mà giáo sư mới nhận được.
Phạm Cao Dương: Thưa chị, sự vinh danh hay giải thưởng này được thực hiện hằng năm. Nó cũng như các năm trước. Nếu có khác thì khác ở chỗ là năm nay là năm 2001, năm mở đầu cho Thế Kỷ 21 và Thiên Niên Kỷ Thứ Ba, từ danh xưng đó trong năm nay đã phản ảnh thời điểm này. Đó là Di Sản Ngàn Năm và Lòng Tri Ân, tôi tạm dịch từ tiếng Anh là Millennium Legacies and Tributes.
Tôi nghĩ khi lựa chọn danh xưng này các người tổ chức buổi lễ nhắm vào những gì Trung Tâm Nghiên Cứu Người Mỹ Gốc Á, ở UCLA đã làm trong hơn ba mươi năm qua là đã đem những di sản văn hóa có từ nhiều ngàn năm của Á Châu, vào văn minh tây phương mà nước Mỹ là điển hình nhất trong thế kỷ vừa qua, đồng thời sẽ đặt nền tảng cho sinh hoạt trong thiên kỷ tới, nói cách khác là - họ muốn nhìn lại quá khứ để hướng về tương lai nhưng là một quá khứ và một tương lai ngàn năm trong đó Nghiên Cứu và Giáo Dục, đặc biệt là Giáo Dục, là hai hoạt động chính. Tôi chỉ là người Việt Nam tình cờ và may mắn được góp phần vào nổ lực này mà thôi.
Bích Huyền: Thưa giáo sư, xin giáo sư cho biết những vận động tạo một chỗ đứng cho lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ của người Việt, nói chung là Việt Học, ở các học đường, đặc biệt là các đại học ở Hoa Kỳ đã được mọi người, trong đó có giáo sư, quá trình được thực hiện như thế nào?
Phạm Cao Dương: Thay vì trả lời trực tiếp vào câu hỏi xin chị cho tôi dài dòng hơn một chút. Việc vận động này bắt nguồn từ nhận xét chung của tất cả mọi người Việt chúng ta, trong đó có tôi: Chúng ta, những người Việt ở hải ngoại có nhu cầu bảo tồn văn hóa, bảo tồn trong các thế hệ trẻ và bảo tồn cho chính mình. Vận động này có thể thực hiện được bằng nhiều cách, trong đó có giáo dục. Làm thế nào để truyền đạt những kiến thức về lịch sử, về văn hóa và khả năng nói tiếng Việt xuống cho các thế hệ trẻ. Tôi nói các thế hệ trẻ chứ không nói thế hệ trẻ vì tôi nghĩ tới một việc làm lâu dài, thường trực chứ không phải chỉ cho một thế hệ. Để giải đáp câu hỏi này, cộng đồng Việt Nam ở khắp mọi nơi trên thế giới chứ không riêng gì Hoa Kỳ đã cố gắng rất nhiều.
Chúng ta, đặc biệt là những sinh viên trẻ đã đóng góp rất nhiều vào việc mở những lớp Việt ngữ vào cuối tuần ở các chùa, các nhà thờ, các cơ sở giáo dục ở các địa phương mà chúng ta mượn được. Các phụ huynh cũng tích cực mang con em đến trường. Các em nhỏ cũng vui vẻ làm theo để làm vui lòng cha mẹ, anh chị. Nhưng phương tiện của ta rất giới hạn. Mức độ giảng dạy không vượt quá trình độ tiểu học. Lên cao hơn nữa các em vì phải học nhiều môn học khác nhau, vì phải cạnh tranh với các bạn học ở trong lớp, vì các môn về Việt Nam Học không được giảng dạy ở trong trường nên có giỏi về các môn này, khả năng của các em cũng không được kể, hay được cho tín chỉ để tính vào văn bằng tốt nghiệp. Từ đó dù các em có muốn học cũng không thể nào tiếp tục được, chưa nói tới mức độ cao hơn là bậc đại học.
Trong khi đó thì ngay ở bậc trung học các môn ngoại ngữ như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, các cổ ngữ như La Tinh, Hy Lạp... và ở một số trường - tiếng Nhật, tiếng Trung và ngay cả tiếng Hàn cũng được giảng dạy. Các em phải lấy các lớp ngoại ngữ, vì đó là học trình bắt buộc để tốt nghiệp ở nhiều học khu và là điều kiện để được thâu nhận vào các đại học bốn năm. Vấn đề là nhà trường có mở các lớp này hay không và học sinh có ghi tên học hay không.
Một điều chúng ta cần để ý là một số ngoại ngữ hiện không còn được giảng dạy ở một số trường trung học ở Mỹ nữa. Lý do là vì không có học sinh chọn học vì không thực tiễn, học rồi không dùng gì được. Ở nhiều nơi người ta chọn tiếng Tây Ban Nha, vì ngay ở trong trường hay ra ngoài phố là người ta có thể thực hành ngay được, và sau này có lợi thế để kiếm việc.
Ở California chúng mình có rất nhiều trường ở những nơi đông người Việt, tại sao mình không vận động để tiếng Việt được dạy ở các trường trung học. Còn ở bậc đại học người ta cũng đòi sinh viên phải học ngoại ngữ và những môn có tính cách quốc tế học để tốt nghiệp. Tại sao mình không vận động để có những lớp này? Mình không có đủ phương tiện thì mình dùng phương tiện sẵn có của người. Vấn đề là làm thế nào và ai làm. Chúng ta không làm thì không ai làm cho ta cả. Nhà trường sẽ không mua việc vào người. Con không khóc thì mẹ không cho bú. Cái may mắn của chúng ta là trong suốt hơn hai mươi lăm năm vừa qua, chúng ta đã có nhiều người đứng ra làm công tác này. Riêng tôi, vì là người có cái may còn hoạt động trong nghiên cứu và trong giáo dục, có ít nhiều liên hệ với các giới chức trong ngành này nên đã góp được một phần nào đó. Tôi đã viết thư, đã viết bài, đã gặp, đã trình bày và thuyết phục các nhà chuyên môn, các giới lãnh đạo ở các trường và các đại học ngay từ những ngày đầu ở Mỹ, mở đầu là ở miền Bắc California, ở các học khu và các đại học lớn ở đây như Berkeley, San Francisco, San Jose, Sacramento, sau này là ở miền Nam California như UCI [University California Irvine],UCLA, Cal State Long Beach, Cal State Fullerton, và mỗi khi những nơi này cần người tới nói chuyện về Việt Nam hay dạy một vài buổi dạy về Việt Nam là tôi đều tới, tới để tạo sự chú ý cho mọi người rồi sau đó thuyết phục giới hữu trách về nhu cầu cộng đồng Việt Nam và chính trong cơ sở của họ có. Sau đó là tổ chức những buổi gặp gỡ giữa các nhân vật có thẩm quyền và người trong cộng đồng, nhiều khi tôi đã mời rất nhiều người cùng tới, con số có khi lên tới hai, ba chục hay hơn nữa - khi có người Miên, người Lào, tới trên bốn chục người.
Trong nhiều trường hợp khác tôi đã gợi ý và thúc đẩy các nhân vật trong cộng đồng mà tôi quen biết đến vận động hay tới dự những buổi họp quan trọng. Ở đây tôi thấy cần phải ghi nhận một vài nhân vật tên tuổi đã giúp tôi làm công tác này như Bà Mai Công, Chủ Tịch Hội Cộng Đồng Việt Nam ở Orange County, Nghị Viên Tony Lâm của thành phố Westminster, Ông Đỗ Hoàng Điềm, một nhà hoạt động trẻ; Ông Nguyễn Văn Chuyên, thuộc văn phòng Nghị Sĩ Tiểu Bang California... Những vị này với tư thế riêng của mình đã đóng góp được những phần quan trọng trong các vận động mà nhiều năm sau tôi mới được biết kết quả. Nhiều khi kết quả tới ngay và nhà trường yêu cầu tôi dạy ngay, không có thì giờ thông báo cho sinh viên biết để ghi tên và sửa soạn nội dung và bài dạy. Điều này đã đưa tôi vào thế kẹt. Không có sinh viên thì lớp mở cũng như không và nhà trường sẽ nại cớ sau này không mở nữa. Có lớp, có sinh viên mà thầy dạy dở, thì sinh viên cũng bỏ không học tới chót. Đồng thời đang là người vận động lại trở thành người thực hiện, phải chịu sự chi phối của hệ thống, tôi trở thành khó hoạt động hơn, vì hết là người của quần chúng, của cộng đồng. Cũng may là mọi chuyện đã xảy ra một cách suông sẻ.
Năm 1981 lớp về người Đông Dương đầu tiên ở Đại Học Long Beach đã được mở. Số sinh viên tương đối đông hơn là nhà trường dự định. Sau đó là Fullerton, rồi Irvine, rồi UCLA. Cũng cần nói thêm là ở San Francisco nếu không có sự bàn ra, nếu không gọi là cản trở thì lớp học đầu tiên về người Việt tại Mỹ đã được mở ngay từ năm 1977. San Francisco là trường hiện có nhiều giáo sư người Việt dạy về môn này nhất. Còn ở Đại Học UC San Diego thì Giáo Sư Nguyễn Hữu Xương, một giáo sư về môn Vật Lý chính thức ở đây đã mở một lớp về Việt Nam trong hai năm liền. Ông đã mời các học giả, các nhà giáo người Việt từ nhiều nơi tới dạy, mỗi người một vài buổi và tôi cũng có may mắn được góp phần. Nói cách khác mình phải vận động, phải kiên nhẫn, phải vận động lâu dài mới có kết quả. Bây giờ thì chúng ta đã có những chân dạy toàn thời gian và đã có những giáo sư trẻ được tuyển chọn vào đại học Irvine, vào UCLA, San Diego, San Jose, San Francisco... Tất nhiên có những chỗ mình góp phần vận động nhưng đến khi tuyển người, cộng đồng Việt Nam không có người có đủ điều kiện thành ra nhà trường sẽ chọn người khác để dạy và dạy về Việt Nam vì có nhu cầu. Cái này thì mình chịu. Trước đây có các em muốn chuyên học về Việt Nam đến hỏi ý kiến, tôi không dám khuyến khích vì lỡ ra họ không kiếm được việc thì kẹt. Bây giờ vẫn còn kẹt vì ở đại học một giáo sư được tuyển, trừ trường hợp đặc biệt sẽ ở lại ít ra là ba chục năm, chỗ đâu cho người mới?
Bích Huyền: Còn ở bậc trung học thì sao, thưa giáo sư?
Phạm Cao Dương: Ở bậc trung học thì hơi khác một chút. Ở bậc trung học các phụ huynh có nhiều ảnh hưởng hơn và ở bậc trung học trước đây có các chương trình song ngữ người ta có thể nghĩ tới việc dạy tiếng Việt và tùy theo đường lối của từng học khu, từng trường, từng khu vực. Có nơi người ta cởi mở không bảo thủ, chương trình song ngữ được chấp nhận và từ đó việc dạy tiếng thiểu số. Thêm vào đó là sự trợ cấp tài chánh của chánh phủ liên bang. Trường trong khu vực không phải mất tiền, dân chúng địa phương không chỉ trích. Có người đứng ra thúc đẩy và thực hiện. Tiếng Việt được dạy như là một phần của giáo dục song ngữ hay gì đó, rồi sau trở thành ngoại ngữ và hoàn toàn hợp pháp, đúng chương trình và tồn tại nếu có học sinh theo học và nhà trường không gây khó dễ, và phụ huynh sẵn sàng tranh đấu hổ trợ. Còn ở Quận Cam thì hơi khác. Ở Quận Cam người ta bảo thủ hơn, do đó cho đến giờ (2001) việc dạy tiếng Việt mới chỉ có ở trường Trung Học Westminster mà thôi, trong khi mình còn có nhiều trường khác có tiềm năng rất lớn nhưng chưa có gì cả. Phụ huynh Việt Nam mình thì thụ động quá hoặc muốn cho con em mình hội nhập thật mau, từ đó chỉ học tiếng Anh thôi. Đến khi họ nhận ra những hậu quả thì đã quá muộn.
Bích Huyền: Ngoài những khó khăn kể trên còn có những khó khăn nào khác nữa không, thưa giáo sư?
Phạm Cao Dương: Có chứ, thưa chị. Nhưng khó khăn lớn nhất là sự dè dặt của người Mỹ, đặc biệt là trong những năm đầu, lúc mình mới sang. Sau năm 1975 và kéo dài cho mãi đến giữa thập niên 1980, người Mỹ rất dè dặt khi nói tới Việt Nam. Đối với họ Việt Nam là Chiến Tranh Việt Nam, là những gì không tốt đẹp mà họ muốn để lại phía sau. Khi mình đề nghị dạy về Việt Nam phần lớn người ta khéo léo từ chối, nhưng cũng có người nói thẳng ra lý do, khiến có lần tôi cảm thấy bực bội và tôi đã nói với một nhân vật khá cao cấp ở một đại học Mỹ, là tôi rất tiếc là nhà trường trong suốt thời gian trước đó đã không làm công việc này, và đến bây giờ vẫn không chịu làm công việc này, trong khi các thanh niên Mỹ vẫn bị gửi sang chiến đấu, chết hay bị thương ở Việt Nam mà không biết Việt Nam là gì cả. Con cháu họ muốn tìm hiểu về Việt Nam cũng bị từ chối. Tôi hỏi ông ta rằng sự từ chối này có thể gọi bằng danh từ gì. Ông ta hỏi lại tôi. Tôi bảo đó là Tội Ác Trí Thức, là Intellectual Crime, vì người trí thức làm công việc giáo dục như ông ta đã không làm trách nhiệm của mình. Sau này tôi thấy mình đã quá lời nhưng trong hoàn cảnh đó rất khó mà tôi giữ được bình tĩnh.
Bích Huyền: Giáo sư đã nói tới những khó khăn về phía người Mỹ, còn về phía người Việt thì sao ạ?
Phạm Cao Dương: Thưa, đương nhiên là có. Trước hết là hoàn cảnh tỵ nạn của người Việt. Vì là tỵ nạn chúng ta tới Mỹ với hai bàn tay trắng, không có gì mang theo, ngoại trừ nhiệt tâm muốn học hỏi và muốn con em mình học hỏi. Người Việt cũng không quen với lối vận động của người Mỹ, không có một tổ chức cộng đồng để làm công tác này, ít ra là trong những năm đầu. Rồi chúng ta lại còn nghi kỵ nhau. Trong khi đó thì người Mỹ trước khi làm điều gì họ luôn luôn nghĩ tới ngân sách, tới phương tiện tài chánh.
Muốn mở những lớp về Việt Nam ở các đại học, họ bảo không có sẵn ngân sách nhưng dễ lắm, họ sẵn sàng để cho chúng ta endow (cấp cho) một cái chair, nghĩa là quyên góp tiền để tài trợ cho việc mướn một giáo sư để giữ chỗ. Người Nhật đã làm việc này ở Đại Học Standford, người Đại Hàn làm điều này ở Đại Học USC (University Southern California), ở UCLA, gần đây người Ấn Độ cũng làm ở Berkeley, ở UCLA... Họ bỏ ra nhiều triệu bạc để làm. Tại sao Việt Nam không theo gương ấy? Họ bảo cộng đồng Việt Nam ở Quận Cam đông như vậy chỉ cần một người bỏ ra mười đồng là xong chứ khó gì!
Họ cũng nói tới số tiền ngót bốn trăm triệu của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bị chính phủ Mỹ phong tỏa trong nhiều năm, sau này Sài Gòn bị chiếm và được chính phủ cộng sản Việt Nam dùng để bồi thường cho các công ty Mỹ, sao không vận động xin các công ty Mỹ và chỉ xin số tiền lời tích lũy trong bao nhiêu năm là đủ làm bao nhiêu chuyện rồi. Họ cũng nói rằng tiền này là tiền thuế của người dân miền Nam, trong đó có người Việt tỵ nạn, chính phủ Mỹ không nên quên người tỵ nạn khi trao cho Hà Nội số tiền ấy... Đúng hay sai, đó là những ý kiến và ý kiến của người Mỹ. Bên cạnh việc bỏ tiền mua các chân dạy học, các sắc dân mà tôi vừa kể và qua luôn cả chính phủ của họ ở Á Châu, họ còn đóng góp thêm tiền cho việc mua sách vở, để đài thọ các công trình nghiên cứu. Các nhà giầu của họ còn cho các trường đại học tiền để thực hiện các công trình xây cất, để có những giảng đường mang tên người của họ. Chúng ta (cộng đồng Việt Nam) không có gì cả. Chúng ta bắt đầu có những triệu phú nhưng các triệu phú của chúng ta chưa lưu tâm đến những công tác này.
Trong khi đó thì chúng ta hầu như không để ý tới vai trò của đại học và các trung tâm nghiên cứu trong xã hội Mỹ. Đó là nơi học hỏi, đào tạo, nghiên cứu để sau đó tạo ảnh hưởng, tạo dư luận trong xã hội Mỹ, dù đó là dư luận về chính trị, về xã hội hay về kinh tế tài chánh, kể cả tình báo. Một thí dụ là vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa của ta, sách vở về các quần đảo này thuận lợi cho người Tầu rất nhiều, còn của Việt Nam Cộng Hòa và sau này là từ Hà Nội rất hiếm, hầu như không có. Tại sao vậy? Khỏi nói, ai cũng có thể đoán ra. Một sinh Mỹ muốn tìm hiểu, anh ta sẽ khai tâm mình bằng những sách do người Mỹ, người Đức, người Tầu viết có lợi cho nước Tầu trước hết.

Bích Huyền: Tình trạng thật đáng buồn phải không ạ? Tuy nhiên mình cũng đã đạt được một số những thành quả để khởi đầu cho thiên niên kỷ tới. Bây giờ xin giáo sư cho biết những lớp nào giáo sư đã dạy, giáo sư đã dạy những gì và đã dạy như thế nào?
Phạm Cao Dương: Sử Việt Nam, sử Đông Nam Á, Văn Hóa Việt Nam, Tiếng Việt, Người Việt Ở Mỹ, Quan Hệ Việt Mỹ... đủ hết, thưa chị. Mình không được lựa chọn. Tùy theo nhu cầu. Mình phải chứng minh là có nhu cầu và nhu cầu sẽ tồn tại lâu dài nếu không nói là thường trực. Cái khó là họ chỉ mở một vài lớp và không có gì bảo đảm là sẽ tiếp tục; thành thử không thể trông đợi các học giả hay những người có đầy đủ bằng cấp từ nơi xa tới dạy. Mọi người đều có công ăn việc làm tốt cả rồi. Muốn có người thường trực và một chương trình tử tế phải cả chục năm kiên trì vận động. Ở UCLA tôi bắt đầu bằng và đôi khi hai lớp từ năm 1985 và ở UC Irvine từ năm 1989 với sáu lớp trong năm đầu, các lớp trung bình trên dưới một trăm sinh viên, có khi lên tới trên một trăm rưởi sinh viên. Hai đại học này bây giờ đã có những giáo sư trẻ toàn thời gian giảng dạy.
Con số hàng ngàn sinh viên theo học mà giáo sư Nakanishi nói tới là căn cứ vào sự ghi danh này. Nhưng phần lớn các giáo sư trẻ của ta chuyên về Người Việt Ở Mỹ, tiếng Anh gọi là Vietnamese Americans, còn về Việt Học thực sự thì chưa có vì không có mấy em học và nếu có học thì thiên về chính trị học nhiều hơn. Ngoài ra Việt Nam chỉ là một nước trong số mười nước ở Đông Nam Á, nên phải cạnh tranh với các nước khác, đồng thời người Mỹ cũng học nhiều về Việt Nam hơn trước, cạnh tranh do đó rất mạnh. Mình còn phải vất vả lắm mới đưa được người vào.
Về tài liệu giảng dạy thì sách giáo khoa không có, tôi phải dùng sách khảo cứu mà các sách khảo cứu thường được viết dưới những nhãn quan khác nhau, đôi khi thiên lệch, không đúng với sự thật. Để có tài liệu cho sinh viên học, tôi phải dùng lối của người Mỹ là soạn một tuyển tập trong đó tôi trích dẫn những bài viết của các tác giả Việt Nam. Một điều tôi nghĩ chị có thể lấy làm vui nếu chị biết là tôi có dùng một số đoạn trong sách "Lối Cũ Chẳng Sao Quên" của chị, lúc đầu là bản tiếng Việt, sau là cả Việt lẫn Anh, để sinh viên có thể biết những gì đã xảy ra cho các phụ nữ miền Nam có chồng đi tù cải tạo.
Mặt khác, để làm sống động hơn tôi cũng dùng lối của người Mỹ là mời khách tới lớp nói cho sinh viên nghe. Tôi đã mời rất nhiều người quen thuộc trong cộng đồng Việt Nam mà nếu lập danh sách tôi sẽ phải dùng cả trang giấy. Nhiều người đã không ngần ngại đến rất nhiều lần, bất cứ lúc nào. Anh Lê Đình Điểu, một người bạn nay không còn nữa, là một trong những người đó nếu chị cho phép tôi chỉ kể một trường hợp.
Bích Huyền: Còn trường hợp Văn Khố Đông Nam Á ở Đại Học UC Irvine; người ta nói giáo sư là người đã đưa ra sáng kiến thành lập văn khố này, có đúng không ạ?
Phạm Cao Dương: Kể ra thì cũng đúng và người thường hay nói tới điều này là Bà Anne Frank, quản thủ văn khố này. Không những nói, bà còn viết trong bản tin của văn khố này nữa. Tôi nói kể ra vì thực sự sáng kiến này là của Giáo Sư Huỳnh Sanh Thông từ Đại Học Yale. Khoảng năm 1985, Giáo Sư Thông có lập ra một văn khố tương tự và tôi có hổ trợ ông bằng cách thu thập sách báo về người Việt tỵ nạn ở Quận Cam gửi sang Đại Học Yale cho ông. Sau tôi thấy việc làm này không thực tế vì cộng đồng ta đông đảo ở đây, còn ở Yale không có là mấy, tại sao không làm cho một đại học ở trong vùng để bà con ta có thể sử dụng. Tôi đã viết thư cho vị giáo sư giám đốc Chương Trình Văn Hóa So Sánh (Comparative Culture Program), một chương trình hồi đó đảm trách việc giảng dạy và nghiên cứu về các sắc dân thiểu số ở UCI, đề nghị UCI làm công việc tương tự. Ông này lại chuyển thư tôi sang cho vị quản thủ thư viện và hai năm sau, năm 1987, tôi nhận được điện thoại của Bà Anne Frank cho biết đề nghị của tôi đã được chấp thuận và đề nghị tôi cộng tác với bà để thực hiện. Lúc đầu họ chỉ cho Bà Frank một căn phòng rất nhỏ vì tôi nghĩ họ không tin là dự án này có thể thành công được. Nhưng cuối cùng như quý vị thấy, nó đã thành công và bây giờ đã trở thành văn khố về người Đông Nam Á tỵ nạn duy nhất trên toàn nước Mỹ và có lẽ trên toàn thế giới. Ở Minnesota người ta cũng có một văn khố tương tự nhưng chỉ chuyên về người Hmong mà thôi. Đây là một thành công quan trọng vì từ nay ai muốn nghiên cứu về người Việt tỵ nạn thì phải ghé Quận Cam, phải ghé Little Saigon, bên cạnh văn khố UCI. Công lớn cho công cuộc này là của Bà Anne Frank. Có điều ta cần phải vun xới nó thường trực bằng cách thăm viếng, sử dụng nó, gởi sách vở, gởi tài liệu để tặng cho nó để chứng tỏ sự lưu tâm của ta, chứng tỏ nhu cầu của ta vì người Mỹ rất thực tế, nhu cầu không còn người ta sẽ sẵn sàng dẹp bỏ, không thắc mắc, y hệt họ đã làm với Việt Nam Cộng Hòa vậy.
Bích Huyền: Còn về tờ Thế Kỷ 21. Giáo sư có nhớ là trong buổi lễ bế giảng, khóa huấn luyện báo chí 2001 vừa qua, Ông Đỗ Ngọc Yến có nói rằng giáo sư là người đã sáng lập ra tờ này. Điều đó có đúng không ạ?
Phạm Cao Dương: Ông Yến ông ấy thương tôi và muốn gỡ rối cho tôi hôm đó nên nói như vậy chứ tôi làm gì có khả năng làm báo và khả năng tiền bạc mà đòi sáng lập một tờ báo như vậy. Chắc chị còn nhớ khi được mời lên phát biểu cảm tưởng, tôi có nói là tôi không có khả năng làm báo vì, tôi vốn lười, bản tính tà tà, chẳng thể nào viết bài, giao bài đúng hạn được, nên không là nhà báo, không dám làm báo. Ông Yến nói như vậy và bảo tôi là cựu ký giả... cho vui, vậy thôi. Còn nói là sáng lập, là có sáng kiến ra một tờ báo nào đó để sau đó nó thành tờ Thế Kỷ 21, thì có lẽ đó là tờ Tập San Sử Việt. Nguyên do là vì Giáo Sư Nguyễn Khắc Kham, một vị thầy cũ của tôi ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, gợi ý, bảo tôi ra một tờ báo chuyên về lịch sử Việt Nam chuyên đăng những bài khảo cứu về lịch sử Việt Nam. Hồi đó tôi biết ông Yến thích nghiên cứu và thích đọc nhiều sách về Chiến Tranh Việt Nam lắm. Ông ấy lại là chủ nhiệm tờ Người Việt, và Người Việt đã đăng hai bài tôi viết mời gọi mọi người viết hồi ký, trong dự án tôi gọi là dân chủ hóa công tác viết sử. Tôi có làm một dự án ngắn về tờ Tập San Việt Sử rồi đưa cho ông Yến. Nhưng sau đó thì ông Yến và anh em Người Việt lại mời tôi tới tham dự một buổi họp để bàn về một tập san khác mang tên là Thế Kỷ 21. Do đó hôm ấy ông Yến nói như vậy... cho vui thôi.
Bích Huyền: Còn về Cộng Đồng Việt Nam ở hải ngoại, trước kia nghe nói giáo sư có tham gia rất tích cực, có đúng không, thưa giáo sư?
Phạm Cao Dương: Thưa chị đúng. Nhưng đó là quá khứ. Hồi đó cộng đồng mình còn rất ít người. Bây giờ đông người, lại thêm giới trẻ đã bắt đầu lớn, bắt đầu tham gia. Mình nên đứng sang một bên và giữ vai trò hỗ trợ mà thôi.
Bích Huyền: Thưa vâng, xin cảm ơn giáo sư. Và bây giờ xin được hỏi giáo sư câu hỏi cuối cùng. Trong suốt hơn một phần tư thế kỷ vừa qua, giáo sư đã hoạt động không ngừng, vừa nghiên cứu, viết lách, vừa giảng dạy, vừa tranh đấu cho lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Việt có được một địa vị khá vững vàng trong các học đường Mỹ và dường như giáo sư vẫn chưa mệt mỏi. Vậy động cơ nào đã khiến cho giáo sư hăng say và bền bỉ như vậy?
Phạm Cao Dương: Nói là cái nghiệp thì cũng đúng, nói là bị đưa đẩy thì cũng đúng. Tôi làm nghề dạy học và dường như có nghiệp dạy học ngay từ hồi còn nhỏ vì mọi người trong gia đình tôi, từ ông bà, cô chú tôi, đến anh chị tôi cứ gọi tôi là thằng 'ông đồ'. Chị thấy có vui không, đã 'thằng' lại còn 'ông'. Tôi chẳng hiểu tại sao. Có lẽ tại dáng dấp của tôi khi mặc áo dài ngày xưa. Riêng khi chơi với chị tôi, thì tôi chơi trò "đi dạy học" và chị tôi ở nhà lo thổi cơm. Không ngờ sau này tôi phải đi kèm trẻ rất sớm và bắt đầu đứng lớp từ năm 1958, và sống hẳn bằng nghề dạy học từ năm 1961 rồi về dạy ở Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, tức trường dạy người ta ra làm thầy từ năm 1962. Nghề dạy học đã theo đuổi tôi ra cả hải ngoại cho đến tận bây giờ liên tục hơn bốn mươi năm rồi. Làm nghề này cũng giống như con Lân ngày Tết. Lân thấy pháo là muốn múa và múa thật hăng, còn tôi trông thấy bục thấy phấn cũng vậy.
Nhưng quan trọng hơn tôi nghĩ là sự tin tưởng của tôi vào sự hình thành và lớn mạnh của khối người Việt ở hải ngoại từ sau năm 1975. Sự hình thành này sẽ đưa dân tộc Việt Nam tới một kỷ nguyên mới, vì nó sẽ đưa tới sự hình thành của một nước Việt Nam lớn hơn và gồm có hai phần, một phần ở Việt Nam chính quốc, ở Đông Nam Á; phần thứ hai là khối Người Việt ở hải ngoại khắp mọi nơi trên thế giới, kể cả các nước cựu cộng sản. Nếu hồi thế kỷ thứ 19, một học sinh người Anh có thể hãnh diện mà học rằng: "Mặt trời không bao giờ lặn trên Đế Quốc Anh" thì bây giờ người ấy không còn học như vậy được nữa. Đế Quốc Anh không còn nữa. Thời ấy đã qua rồi. Nhưng một kỷ nguyên mới đã mở ra và người Việt chúng ta đã lãnh ấn tiên phong. Biến cố 30/4 /75 đã xua đẩy hằng triệu người Việt ra khỏi Việt Nam, khiến cho họ bị bung ra khắp thế giới và đã được các dân tộc khác trong tình liên đới nhân loại cưu mang giúp đỡ, để đến bây giờ chúng ta đã có mặt ở khắp mọi nơi, và nếu ta muốn nói tới một nơi "mặt trời không bao giờ lặn" thì đó là những nơi có người Việt cư ngụ. Thành phần thứ hai này bằng đủ mọi cách phải tồn tại như là một thành phần Việt Nam, phải gắn bó chặt chẽ với Việt Nam chánh quốc. Muốn vậy việc bảo tồn bản sắc, từ đó văn hóa ở mỗi một người Việt Nam trong tương lai là điều chúng ta phải làm, trong đó văn hóa, giáo dục là những công tác chính yếu.
Công việc tôi làm bắt đầu từ sự tin tưởng này, và tôi cũng viết nhiều bài để giải thích. Bài đầu tiên tôi viết có nhan đề là Dân Tộc Việt Nam Trước Viễn Ảnh Của Năm 2010, được anh Yến cho đăng trên Thế Kỷ 21 số ra mắt. Trước đó tôi cũng đã viết một bài khác để đưa ra một cái nhìn lạc quan về cuộc di cư tỵ nạn của đồng bào ta ở hải ngoại. Bài ấy có nhan đề là Các Khía Cạnh Màu Xanh Của Ngày 30 Tháng Tư, đăng trên một nguyệt san ở Quận Cam, rồi sau đó trên nhiều báo khác vào năm 1979. Quá sớm đối với thời ấy, và tôi đã bị chỉ trích nặng nề. Lúc đó tôi chỉ nhìn vào cuộc di cư tỵ nạn như là một cuộc du học bất đắc dĩ, và so sánh nó với cuộc du học thời cụ Phan Bội Châu và phong trào Đông Du mà thôi. Bây giờ thì không ai còn phản đối tôi nữa. Riêng tôi, tôi vẫn tin ở định mệnh của dân tộc. Sách Trời đã định sẵn cho mình như là các cụ mình ngay ở thời Nhà Lý đã nói, phải không thưa chị? Có điều mình không tự cố gắng, không nổ lực làm, không làm những điều mình thấy phải làm thì coi chừng Trời sẽ lấy lại, để trao những người khác xứng đáng hơn cũng giống như Thiên Mệnh Trời Trao cho các vua mà thôi.
Cho đến giờ thì chúng ta đã làm, và giới trẻ cũng đã làm. Tôi muốn nói tới sự vận động thành lập chương trình Đông Nam Á ở Đại Học UCLA, trong đó em Nguyễn Thị Như Quỳnh, một sinh viên Việt Nam, đương nhiên! Đã là người đứng mũi chịu sào. Em đã thành công và đã được mời phát biểu ý kiến khi Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á của đại học này ra mắt mọi người, trong buổi lễ đơn giản nhưng không kém long trọng và ấm áp. Em Quỳnh bây giờ vẫn hoạt động và hoạt động cho các nghiệp đoàn. Sự hăng say và kiên trì của em chắc chắn sẽ còn đem lại nhiều thành quả.
.................
Trích trong Giai Phẩm Xuân báo Người Việt /2002
Thủ đô Pyongyang (Bình Nhưỡng), Bắc Hàn
Lâu nay mình không để ý đến kinh tế Bắc Hàn bởi vì nói đến Bắc Hàn là nói đến một đất nước Cộng Sản độc tài, tệ nạn cuồng tín sùng bái lãnh tụ và tính hiếu chiến cùng kỹ thuật quân sự tiên tiến. Mình cứ tưởng ở đất nước Cộng Sản bị xếp vào "Liên Minh Ma Quỷ" này kinh tế chắc là tồi lắm.
Hôm nay, mình tìm tài liệu về hỏa tiễn mà Bắc Hàn tuyên bố sẽ bắn vào đầu tháng 4 tới (2009) thì sẵn tìm xem về kinh tế Bắc Hàn luôn.
Tình cờ khám phá ra một điều là - hóa ra Bắc Hàn còn "thịnh vượng" hơn Việt Nam. Thu nhập đầu người cao hơn Việt Nam tính theo GDP thực (Nominal GDP), cho dù tính theo sức mua PPP (Purchasing Power Parity) thì kém hơn. Cụ thể là theo số liệu của CIA The World Factbook, thu nhập trung bình trên đầu người năm 2008 của Bắc Hàn là $1,116 so với Việt Nam là 1,055, và xếp hạng thế giới là đứng thứ 139 so với 144 của Việt Nam.
Tiện thể, xem luôn một nước Cộng Sản sống dai khác là Cuba, thì ra con số này $4,830, xếp hạng 89 thế giới. Còn nước Cộng Sản đàn anh Trung Quốc là $3,174, xếp hạng 107 thế giới.
Như vậy, trong 5 quốc gia Cộng Sản còn tồn tại đến ngày hôm nay thì không phải Bắc Hàn là quốc gia nghèo khó nhất. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có chế độ Cộng Sản ít độc tài hơn Bắc Hàn và có nền kinh tế được xem là khởi sắc trong những năm gần đây, nhưng trên thực tế hiện nay Việt Nam chỉ khá hơn Lào trong số 5 quốc gia thuộc nhóm này (GDP đầu người của Lào là $777, xếp hạng 153 thế giới).
Pyongyang Metro, đường tàu điện ngầm Bình Nhưỡng được xây từ năm 1973
Khách sạn Ryugyong, đây là tòa nhà cao thứ 24 trên thế giới
Sân vận động Rungrado May Day có sức chứa lên đến 150 nghìn người

Dzu Kaka


Tokyo 20-1-2008
Trang nhật ký của Lê Mỹ Hân
Mình Đi Yêu Nước
Mình đang nói chuyện với anh Ngọc thì anh Tùng xuất hiện, trên tay cầm ba chai nước trà. Thấy mình, anh đưa một chai mời uống cho ấm bụng. Mình biết anh Tùng cũng là qua anh Ngọc giới thiệu trong lần đi dự lễ giỗ tổ Hùng Vương hồi tháng Tư năm 2007.
Chừng 10 phút sau, một nhóm khoảng năm người kéo lên, tay bắt mặt mừng. Không khí có vẻ trở nên náo nhiệt. Có nhiều người mấy năm rồi mới gặp lại nhau, đây cũng chính là dịp dành cho đồng hương Việt tụ họp gặp mặt.
10 giờ 30, mình đếm có khoảng trên 30 người, đa phần đều là cô bác lớn tuổi. Những người lãnh đạo cộng đồng bắt đầu xuất hiện với những khuôn mặt quen thuộc, mình thì thầm bên tai anh Ngọc:
- Ráng sao cho trên 50 người, Nhật Bản mình phải vượt bên Anh quốc mới oai chứ! Em thấy có cả cờ vàng kìa!
Gần 11 giờ, bà con kéo đến khá đông, số người lên đến cả trăm, đủ các thành phần già, trẻ, gái, trai và có thêm các bé thiếu nhi cũng theo bố mẹ đến tham gia đi biểu tình, mà ở Tokyo số người Việt sinh sống quá ít ỏi.
Bên Hiệp Hội tổ chức khá chu đáo, mình nhìn thấy biểu ngữ, cờ vàng, cờ Nhật được xếp gọn gàng trong giỏ xách mang theo. Đúng 11 giờ, cả đoàn người rầm rộ kéo lên cổng Đại Sứ Quán Trung Cộng.
Đến một góc ngã tư gần đại sứ quán, anh Dũng tập hợp bà con cô bác lại dặn dò:
- Mình tập trung ở đây đợi cho đoàn biểu tình của người Nhật giải tán thì mình mới được phép lên trên đó. Ta phải tuân theo luật pháp của Nhật.
Thì ra có một đoàn biểu tình của người Nhật cũng đến đây từ trước. Tò mò mình rủ anh Ngọc lên xem thử, và cũng có ý muốn chụp một vài tấm hình. Hai anh em đi bộ qua cái ngã tư, chỉ một quãng đường ngắn ngủi mình mà thấy có rất nhiều công an đứng rải rác quanh đấy. Mình nghe rõ họ gọi bộ đàm nói chuyện với nhau rằng đang có một đoàn người Việt Nam đến Đại Sứ Quán Trung Cộng biểu tình. Hai anh em đi thêm một khúc mà chẳng thấy đám đông nào cả, ngoại trừ một tốp công nhân đang sửa chữa tòa nhà gần bên hông Đại Sứ Quán Trung Cộng. Đoàn người Nhật biểu tình đã giải tán từ lúc nào rồi. Mình và anh Ngọc rủ nhau quay trở lại, đến ngay khúc đường đối diện cổng Đại Sứ Quán Trung Cộng thì bị một gã đàn ông đầu hói lên tận đỉnh, mặc áo khoác màu đen chặn ngang. Ông vạch áo ra, để lộ cái thẻ cảnh sát và hỏi tụi mình có phải là người Việt Nam đi biểu tình không. Khi mình gật đầu thì ông nói đứng lại đây chờ đồng hương đang tiến đến.
Quả là bà con mình đang tiến lên thật, hùng dũng như một đoàn quân đi cứu nước. Cờ vàng, cờ Nhật bay phất phới, mấy cái băng rôn ghi bằng hai thứ tiếng Nhật-Việt được dương cao. Bà con cô bác già trẻ gì trên đầu cũng đội mũ vẽ 2 lá cờ biểu tượng cho tình thần yêu nước. Những tiếng hô vang dội cộng với tiếng chân bước dồn dập của đoàn người, khiến cho mình xúc động, và dòng máu yêu nước trong lòng mình bắt đầu trào dâng. Hòa chung với mọi người, mình cũng hét thật to, gào muốn khản cả cổ:
-ĐẢ ĐẢO TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC HOÀNG SA, TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM!
-ĐẢ ĐẢO TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC!
Vì lề đường trước Đại Sứ Quán Trung Cộng quá chật hẹp, mà số người tham dự biểu tình lên tới cả 100, nên cảnh sát yêu cầu bà con đứng dài qua tới tận bên cửa hông. Nhưng vì ai cũng muốn tập trung đứng đối diện cổng chính nên ban tổ chức phải sắp đặt cứ 5 phút cho một tốp người được thể hiện lòng yêu nước. Và sau đó lại đổi chỗ cho những người khác.
Ở phía bên cửa hông này, mình đứng bên cạnh một vị cao niên có giọng nói rõ ràng mạch lạc, bác không cần loa nhưng tiếng kêu gọi của bác vẫn lanh lảnh cất cao:
-ĐẢ ĐẢO TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC HOÀNG SA, TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM!
Lập tức đoàn người hưởng ứng hô vang:
- ĐẢ ĐẢO!

- ĐẢ ĐẢO!
- ĐẢ ĐẢO!Bác tiếp tục dõng dạc cất lời:
- CHÚNG MÀY ĐÔ HỘ VIỆT NAM CẢ NGÀN NĂM, CHA ÔNG TAO ĐÃ ĐÁNH CHO CHÚNG MÀY KHÔNG ĐƯỜNG THOÁT. NGÀY NAY CHÚNG MÀY KHÔNG TỪ BỎ GIÃ TÂM CHIẾM LUÔN HOÀNG SA TRƯỜNG SA CỦA CHÚNG TAO. TRẢ LẠI TRƯỜNG SA, HOÀNG SA CHO VIỆT NAM! ĐẢ ĐẢO TRUNG CỘNG!
Đoàn người lại hô vang:
- ĐẢ ĐẢO! -ĐẢ ĐẢO!
-ĐẢ ĐẢO!Tiếp ứng với vị cao niên này là một bác gái khá lớn tuổi, giọng hét của bác hùng hồn cũng không kém gì bác trai. Tiếng đả đảo Trung Cộng vang dội lên không trung.
Nhiều hành khách qua đường dừng chân lại thăm hỏi, khi họ biết người Việt mình biểu tình chống Trung Cộng cướp Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam, họ giơ ngón tay cái biểu lộ sự đồng tình.
Giờ biểu tình cho phép đã kết thúc, nhưng tinh thần của bà con vẫn còn hăng hái nên phần lớn kéo nhau qua công viên gần đó để tiếp tục cuộc biểu tình. Ông chủ tịch Hiệp Hội Người Việt đã lên tiếng cảm ơn bà con cô bác anh chị em và các cháu đã không quản đường sá xa sôi, trời mùa đông giá lạnh đến nơi đây để tụ hợp biểu dương lòng yêu nước.
Mình im lặng đứng nghe, mình và những người có mặt ở đây quả là may mắn vì được sống trong một xã hội tự do, được quyền phát biểu chính kiến mà không bị ai ngăn cản. Trái lại ở quê nhà, đảng cộng sản ra lệnh cho công an đàn áp người biểu tình giã man chỉ vì họ tỏ tình yêu nước. Nhìn những hình ảnh được đưa lên trên blog 360... máu mình như muốn sôi lên. Bên cạnh, đoàn người bắt đầu hát:
Việt Nam, Việt Nam tôi yêu quê hương tôi...
Mình rẽ đám đông lân la đến gần vị cao niên hồi nãy, mình hỏi tên, tuổi và có ý muốn đưa bác vào trong bài viết của mình. Nhưng bác xua tay từ chối. Qua tìm hiểu, mình biết bác là người cựu sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Bác nói tiếng Anh khá lưu loát, bác đã từng qua Mỹ tu nghiệp 3 lần. Khi mình đưa ra câu thắc mắc rằng tại sao bác dám đi biểu tình, bác dám hô to những lời kết tội Trung Cộng mà sao bác lại từ chối không cho nêu danh tánh lên mặt báo. Cháu cũng từng về Việt Nam nhiều lần, và cháu sẽ phải về nhiều lần nữa vì bố cháu, anh chị em bà con dòng họ và cả mồ mả của tổ tiên nhà cháu vẫn còn đấy! Nhưng cháu không sợ. Bác im lặng vài giây rồi vỗ vai mình nói nhỏ:
- Đây là việc riêng, cho phép bác giữ im lặng.
Mình tôn trọng bác nên không hỏi gì nữa. Thú thật, mình vẫn không hiểu nổi tại sao nhiều người vẫn còn sợ cộng sản đến như vậy. Ôi trời đất ơi! cái bóng ma cộng sản còn ám ảnh trong tâm chí người dân Việt tị nạn quá chừng! chẳng trách mỗi lần về Việt Nam, mình chứng kiến rất nhiều vị Việt Kiều Mỹ chạy tíu tít đổi tiền lẻ để nhét vào hộ chiếu, mong cho công an cửa phi cảng khỏi gây khó dễ mình.
Trên đường ra ga trở về nhà, mình vẫn đi bên cạnh vị cao niên nọ. Bác thủ thỉ tâm sự:
- Cháu ạ, cái sự việc tụi cộng sản cắt đất cắt biển dâng cho Trung Cộng này, bác đau lòng lắm. Ông cha mình đã đổ bao xương máu gìn giữ từng tấc đất của quê hương, thế mà cái bọn khốn nạn đó nó lại đem bán cho Tàu Cộng.
- Thưa bác, ai mà chẳng đau lòng. Mình đi biểu tình như thế này chỉ để thể hiện lòng yêu nước chứ chúng nó đem bán rồi làm sao mình đòi lại được.
Mình quay qua nhìn thẳng vào mắt bác, mình như thấy trong ánh mắt già nua đó cả một ngọn lửa căm hờn tóe ra. Chỉ có ở ngoài Việt Nam, mình mới thấu hiểu được tâm tư của những người con tha phương nhưng luôn một lòng hướng về đất mẹ, những tấm lòng yêu nước nồng nàn.
Mọi người vẫn còn đứng tụ hợp trước nhà ga bịn rịn chia tay nhau, một nhóm khá đông rủ lên quán anh Ngọc bàn luận tiếp. Mình rất tiếc không tham dự được vì lỡ hẹn với chồng đến thăm nhà người bạn vào lúc 2 giờ chiều, anh đang chờ mình ở ga Nihombashi. Mấy hôm trước, mình rủ anh tham gia biểu tình với mình nhưng anh từ chối, anh bảo rằng người phát xít chân chính không bao giờ biểu tình mà họ sẽ hành động. Người Phát xít luôn trung thành tuyệt đối với tổ quốc chứ không bao giờ bán nước giống cộng sản.
Cộng sản ở đâu cũng vậy, họ ăn cắp và tự tay phá hủy đất nước của mình, giết hại đồng bào của mình. Còn phát xít thì khác, người phát xít luôn nghĩ đến quyền lợi của người dân mình. Vậy giữa CỘNG SẢN và PHÁT XÍT ai tốt hơn ai?
Lê Mỹ Hân
Trang nhật ký của Lê Mỹ Hân
Tokyo 20-1-2008
(Trích trong nhật ký Lê Mỹ Hân ngày 20-1-2008)
Cách Mạng Tháng TámGiải Phóng Hay Xâm Lăng?
Cách Mạng Hay Cướp Nước?
Khi Cộng quân Bắc Việt tràn vào Sài Gòn ngày 30 tháng tư năm 1975 và Hà Nội tuyên bố Miền Nam đã được “giải phóng”, thì giới bình dân đã đáp lại bằng cái giọng nói lái quen thuộc: “Giải phóng à? “Phỏng Giái”. Giới có học thì chau mày: giải phóng cái gì, xâm lăng thì có.
Nhưng trước đó 30 năm, cả nước chưa có ai dám gọi “trung đội vũ trang tuyên truyền giải phóng quân” của Võ Nguyên Giáp (thành lập ngày 19-12-1944) là quân xâm lăng; hay Ủy ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm chủ tịch (được bầu trong cái gọi là Quốc Dân Đại Hội ở Tân Trào ngày 8-7-1945) là Ủy Ban Xâm Lăng. Cũng như ngày “cách mạng tháng tám thành công” chưa ai dám gọi là ngày Cộng Sản xâm lăng Việt Nam.
Vì lúc ấy chưa mấy người hiểu Cộng Sản là gì và mưu mô của nó thâm độc ra sao.
Ngô Đình Nhu trước khi bị thảm sát chẳng bao lâu đã tiên đoán: “Nếu như Cộng sản Miền Bắc thôn tính được miền Nam, thì việc Trung Hoa thôn tính Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian” (1)
Nói thế là vì đến lúc ấy (đầu thập niên 60) ông ta và nhiều người khác đã hiểu bản chất Cộng Sản ra sao, và mối liên hệ môi với răng giữa Cộng Sản Trung Hoa và Cộng Sản Việt Nam như thế nào. Ông ấy cũng đã biết chiến thắng Điện Biên và các trận đánh ở Việt Bắc, như Đông Khê, Thất Khê được... Trung Cộng tiếp viện dồi dào....đã để lại trên lưng Cộng Sản Bắc Việt những món nợ kếch sù mà chỉ có lấy non sông ra mới trả nổi.
Gần đây sau các vụ cắm mốc biên giới Việt Hoa rồi thành lập huyện Tam Sa đến các vụ ngư dân Việt Nam bị các toán hải tuần Trung cộng bắt giữ gần các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và đặc biệt là dự án Bô-xít tại Tây Nguyên trung phần (*) nhiều người đã kêu toáng lên rằng, nước mất đến nơi rồi. Có lẽ trong số những người ấy cũng chẳng mấy ai đã đọc cuốn Chính Đề Việt Nam của Ngô Đình Nhu. Nhưng xem ra ai cũng tỏ dấu lo sợ (?) cho số phận Tổ Quốc lâm nguy.
Ngay từ đầu năm 2002, khi thứ trưởng ngoại giao Việt Cộng Lê Công Phụng (nay là đại sứ Việt Cộng ở Hoa Thịnh Đốn) tuyên bố đã ký với Trung Cộng hiệp ước quy định làn ranh biên giới giữa hai nước (2), chúng tôi đã viết bài Mất Đất và Mất Nước, trong đó chúng tôi quả quyết nước đã mất từ 30 tháng 4 – 1975, để lưu ý mọi người đừng để vụ mất chưa đầy một ngàn cây số vuông đất vùng biên giới mà sao nhãng quyết tâm lấy lại toàn bộ đất Nước đã mất vào tay Cộng Sản. (3)
Đúng vậy. Nước đã mất từ ngày đó, ngày mà bọn Mafia (chữ của luật sư Nguyễn Mạnh Tường tác giả cuốn hồi ký Kẻ Bị Vạ tuyệt Thông: Un Excommunié) con đẻ của chủ nghĩa Mác-xít, một quái thai của lịch sử đã chiếm trọn Tổ Quốc Việt Nam thì chúng đã biến Tổ Quốc thiêng liêng đó thành cái tổ cuốc trong đó đã có những quả trứng cò sắp nở thành cò con. Và có thể còn có cả trứng quạ nữa.
Chúng tôi không có ý dùng ẩn dụ để thậm xưng hay dài dòng.
Nhiều người đã phản bác lại rằng: nước đâu có mất, chỉ mất một nền đệ nhị Cộng Hòa của miền Nam. Những người đó không biết rằng nước không phải chỉ có đất đai, sông ngòi, núi non non. Mà nước chủ yếu là những dân tộc sinh sống trên đó. Họ là chủ của những đất đai sông ngòi, núi non đó.
Hãy nghe một nhà thơ nổi danh khắp thế giới bày tỏ cảm tưởng của mình trước cảnh một nửa Việt Nam bị mất vào tay Cộng Sản từ 1954:
Ôi mảnh đất nửa trên hình chữ S
Ước lìa ngươi, ta ước lìa ngươi
Ta trót yêu ngươi từ thuở lên mười
Ngươi lừa phản nên đời ta mắc kẹt
Tình yêu đã trở thành thù ghét
Nếu rời ngươi, dù cụt mất một chân
Chặt nốt một tay, ta cũng không cần
Mà coi đó là điều may mắn nhất
Vì sống gần ngươi là ta mất tất
Vì sống gần ngươi ta thành súc vật. (4)
Thi nhân thốt lên những lời ai oán đó vào năm 1967, khi nước mới một một nửa. Thì khi Cộng Sản vào chiếm nốt miền Nam, nghĩa là từ khi toàn bộ lãnh thổ hình chữ S lọt vào tay bọn xâm lăng, cái cảm tưởng của nhà thơ đã được bày tỏ một cách ồ ạt, tập thể bởi trên một triệu ngươi tự chặt tay, chặt chân là mọi liên hệ vật chất tinh thần, mồ mả cha ông, nhà cửa ruộng vườn và những mối tình ruột thịt thân thưong, người yêu, bạn bè v.v... để liều chết ra đi, rời bỏ hẳn cái mảnh đất hình chữ S đã mất ấy.
Cũng vì nước đã mất nên có những tù nhân khi được phóng thích để trở về nhà đã không chịu ra khỏi tù khiến cai tù phải lôi ra như anh Thi trong hồi ký của Kiều Duy Vĩnh; hay treo cổ tự tử như Ngụy Như Cần trong Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, vì thấy sống ở đất nước đã bị Cộng Sản xâm lăng chẳng khác gì sống trong tù lớn, còn khổ hơn trong tù nhỏ.
Năm 1961, khi tôi ngồi viết cuốn biên khảo đầu tay, tôi đã đặt tên cuốn sách của tôi là SÁCH LƯỢC XÂM LĂNG CỦA CỘNG SẢN. (5) Dùng hai chữ xâm lăng là tôi đã quả quyết Cộng Sản chỉ có tấn công để chiếm đất, chiếm quyền cho đảng Cộng Sản, cho Quốc Tế Cộng Sản, mà kẻ chỉ huy tối cao là các lãnh tụ Cộng Sản Liên Xô chứ không phải “giải phóng” như chúng rêu rao. Chính cái gọi là Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam mà nhiều nhà báo và học giả ngoại quốc lúc ấy đều cho là kết quả của chính sách mất lòng dân của Đệ Nhất Cộng Hòa, đã bị chúng tôi vạch rõ trong tác phẩm đó, rằng nó chính là con đẻ của Cộng Sản Miền Bắc dùng làm một thứ vũ khí xâm lăng miền nam, giống hệt như các mặt trận Thống Nhất, Mặt trận Dân Chủ, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, mặt trận Tổ Quốc, nằm trong sách lược mặt trận nói chung của các đảng Cộng Sản. Chúng tôi đã phân tích và giải thích cặn kẽ bằng những chứng liệu của Cộng Sản do những cán bộ cao cấp biên soạn, không thể chối cãi. (6)

Sau 30 tháng Tư Đen, khi bọn Mafia vào chiếm miền Nam, hàng triệu người chạy trốn ra biển, liều chết để khỏi phải sống với bọn đầy tớ ngoại bang. Và rồi hàng trăm ngàn người nếu không phải là gần một triệu người bị bắt bỏ tù không biết ngày về, không có án lệnh.
Dân số Việt Nam hiện giờ là 84 triệu. Số đảng viên Mafia là 4 triệu. Đảng này phát sinh từ Quốc Tế Cộng sản, bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác Lê “bách chiến bách thắng”, một thứ quái thai. Về cái quái thai này chúng tôi sẽ trở lại với chi tiết hơn. Thế mà ngay từ khi chiếm trọn cả nước, cái đảng đó đã chẳng cho trên 80 triệu dân được có một quyền gì. Bốn quyền chính trị, lập pháp, hành pháp, tư pháp và báo chí, tất cả đều nằm gọn trọng tay đảng.
Về lập pháp, bọn Mafia chỉ có không đầy 5% dân số lại chiếm trên 90 phần trăm số ghế trong cái gọi là quốc hội. Để cho danh chính ngôn thuận phải gọi là “đảng hội” mới đúng. Chữ nghĩa của đảng Mafia chẳng ăn nhằm gì. Số 10 phần trăm nói là thuộc về 80 triệu dân, thực ra những thường dân nào muốn ứng cử vào cái gọi là quốc hội đó đều phải do Mặt trận Tổ Quốc của đảng giới thiệu và được trung ương đảng chấp thuận. Như vậy có thể nói không ngoa “quốc hội”, một cơ quan quyền lực tối cao của một nước, một trăm phần trăm nằm trong tay đảng Cộng Sản.
* Về hành pháp, các chức vụ trong chính phủ từ thủ tướng trở xuống đều do các đảng viên nắm giữ.
* Về tư pháp, các quan tòa đều do người của đảng.
* Về báo chí, trong nước hiện có trên 700 tờ báo, tất cả đều do người của đảng điều hành. Tư nhân chỉ có một vài tờ báo chui.
Ngoài việc nắm toàn bộ và chặt chẽ, 4 quyền trụ cột của một quốc gia dân tộc ra, Cộng đảng còn chi phối mọi hoạt động và tổ chức xã hội dân sự. Từ cái gọi là mặt trận tổ quốc cho đến các tổ chức đoàn thể nhất là đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh cho đến những hội đoàn nhỏ trong xóm phường, cũng đều bị điều khiển bởi những đảng viên cốt cán.
Như vậy có phải mọi quyền dân đều mất, tức cả nước đã mất vào tay bọn Mafia, con đẻ của chủ nghĩa Mác, quái thai của lịch sử không?
Tại sao lại gọi là quái thai của lịch sử?
Vì Thuyết Mác Xít thai nghén và ra đời vào lúc dân nghèo, gọi là giai cấp vô sản trên thế giới đang bị bóc lột gây nên những bất công và vết thương xã hội ở giữa thế kỷ 19. Nó có vẻ hay, đẹp và đầy hứa hẹn như một thần dược cho căn bệnh của nhân loại. Nhưng chẳng dè, với thời gian, đụng chạm vào thực tế, nó lại chính là độc dược chết người. Những con bệnh nào nếm vào đều sống dở chết dở. Và cuối cùng tất cả các chế độ CS ở Đông Âu và Liên Xô đều tắt thở.
Nhiều người gọi nó là một đại ngụy biện hay thuyết đại bịp. Thế mà khi mới ra đời nó được phần đông nhân loại, kể cả những đại trí thức hoan nghênh, ca ngợi. Vì nó hứa một thiên đường ngay ở trần gian, trong đó nhân loại sẽ sống sung sướng. Thế giới sẽ là thế giới đại đồng. Xã hội sẽ không còn bất công. Không còn cần chính phủ. Không còn biên giới quốc gia. Mọi người sẽ làm việc tùy sức và hưởng thụ theo nhu cầu. Hóa ra đó chỉ là một ảo tưởng. Cũng giống như cái ảo ảnh của một con sông, cái hồ, con suối trên sa mạc nóng cháy mà người lữ hành sắp chết khát nhìn thấy từ xa nhưng đi mãi chẳng bao giờ đến nơi.
Hơn một thế kỷ sau, khi nhìn thấy thực tế của thuyết Mác Xít, người đời đã đánh giá nó là một học thuyết không tưởng. Tiên dược lại thành độc dược. Mộng đẹp lại biến thành ảo mộng và ác mộng.
Một lý do nữa khiến cái tà thuyết đó được chúng tôi gọi là quái thai của lịch sử vì chủ trương chuyên chính vô sản của nó. Việt Cộng và Trung Cộng dịch mấy từ Mác-xít “dictature du Prolétariat” hay dictatorship of the Proletariat” là chuyên chính vô sản, chứ không dịch là độc tài của vô sản như người quốc gia. Nghe thì hay lắm. Nhưng thực chất chỉ là một nền độc tài của giai cấp vô sản.
Theo Duy Vật sử quan của Mác thì sau khi toàn thắng, đánh bại toàn bộ giai cấp bóc lột, giai cấp vô sản sẽ lập một chế độ đại đồng trong đó chỉ còn giai cấp vô sản nắm quyền chuyên chính.
Nhưng trong thực tế, liền ngay sau khi nắm được chính quyền, (chứ không đợi cho tới khi toàn thắng trên khắp thế giới như thuyết Mác-xit dạy) tất cả các nước Cộng Sản đều thiết lập chế độ độc tài (chuyên chính vô sản)…
Gọi là chuyên chính vô sản, vì đó là nền độc tài của giai cấp vô sản. Nhưng trong thực tế, nền độc tài của các chế độ Cộng Sản lại là nền độc tài của đảng Cộng Sản, tự nhận l0 đại diện cho giai cấp vô sản. Chứ giai cấp vô sản không nắm thực quyền nào trong cái chê độ đó cả. Những kẻ nắm quyền đều là một thứ giai cấp tư bản đỏ, giầu sụ và chuyên bóc lột, đàn áp giới nghèo, tức giai cấp “vô sản”.
Chính những cái phi lý, ngụy biện, mâu thuẫn trắng trợn giữa lý thuyết và thực tế của các chế độ Cộng Sản khiến ta có thể gọi học thuyết Mác là quái thai của lịch sử.
Khi thuyết Mác xít mới ra đời, chưa được thử thách bằng thực tế, người ta thấy nó tốt đẹp bao nhiêu thì sau khi áp dụng vào thực tế nó đã trở thành xấu xa, quái dị bấy nhiêu.
Ai chịu trách nhiệm về việc đem cái tà thuyết phi lý, quái dị độc hại đó vào nước ta để ta mất nước vào tay nó?
Gần đây, nhân vụ “bô xít” đầy “ác xít”, vì nhuốm màu “mác-xít” quái dị kia, từ trong nước cũng như ở hải ngoại phát ra những tiếng kêu inh ỏi: nước mất đến nơi rồi! Tổ quốc (hay tổ cò?) đang lâm nguy! Lần này thì chính một số kẻ trách nhiệm về việc đưa chất ác xít cực độc của thuyết Mác- xít vào cũng làm bộ đạo đức giả lên tiếng gọi là “phản biện”. Tiếc rằng tiếng nói của họ còn được hàng vạn người gọi là trí thức hoan nghênh, hy vọng họ sẽ là chỗ tựa an toàn cho lớp trẻ đứng dậy liều chết chống lại mối nguy từ phưong Bắc (!??).

Thay vì lên tiếng yếu ớt một cách lố lăng, đáng lẽ họ phải viết những cuốn hồi ký lấy tên là Hồi Ký Của Một Thằng Ngu để thú nhận mình đã ngu, thật ngu, quá ngu khi đem áp dụng một chế độ quái dị, độc hại nó đã làm cho dân ta suy yếu cùng cực gần một thế kỷ nay, cho nên ngày nay đã trở thành cái mồi ngon cho kẻ thù phương Bắc. Đáng lẽ những kẻ tự phong là “khai quốc công thần” đó phải thú nhận chính mình đã theo lệnh Quốc Tế Cộng Sản và bọn đồng đảng Phương Bắc như những Mao Trạch Đông, La Quý Ba, Trần Canh, Vi Quốc Thanh v.v...tiến hành cuộc chiến tranh khốc liệt nhắm vào đồng bào khiến hàng triệu người chết.
Và sau khi chiếm được cả nước, bọn cướp nước đã dìm toàn dân vào vòng u tối, nô lệ, hèn nhát, sợ sệt, ngu muội, tham lam. Và như vậy đảng cầm quyền ở Việt Nam ngày nay đã bị bọn Tầu phù cấy sinh tử phù, khiến cho chẳng những bị bọn chúng nắm trọn sinh mạng trong tay, mà còn làm cho dân ta, nước ta cũng nhiễm một thứ virus cực độc thuộc loại liệt kháng như bệnh “Ếch” (aid/ HIV). Chính vì thế mà trong người dân không có ai hay tổ chức nào có được hành động cụ thể có thế cứu được một Lê thị Công Nhân hay một Nguyễn tiến Trung non dại, yếu ớt khỏi bị tù tội, hành hạ đến sống dở chết dở, chứ đừng nói đấu tranh về chính trị và pháp lý để đòi lại những vùng đất vùng biển đã bị Tầu Cộng chiếm đoạt, nói chi đến việc quật khởi để hất bọn cướp nước xuống. Những vận động tố cáo, lên án những vụ hà hiếp đàn áp dân oan cũng chẳng đem lại kết qua gì khả quan. Tại sao vậy? Đã đến lúc Việt Nam thân yêu lại làm mồi cho một cuộc Bắc Thuộc ngàn năm chăng?
0o0
Trở lại vấn đề nhận tội và sám hối của các lãnh tụ Cộng Sản phải viết những cuốn hồi ký. Nói là nói vậy thôi. Chứ ở cái tuổi gần đất xa trời này, mấy người đó đâu còn đủ sinh khí để làm nên trò trống gì nữa. Đáng lẽ ra hồi giữa thập niên 80 thế kỷ trước mà Võ Nguyên Giáp dám theo gương Gorbachev hay Yeltsin thì đã phúc cho dân tộc ta. Hoặc giả khi còn sống ông Hồ đã có đủ can đảm viết một cuốn hồi ký lấy tên là Hồi Ký của một Tên Đại Bịp, để cảnh báo cho quốc dân đồng bào và những tay trí thức gà mờ đã lỡ nghe theo ông ta mà ủng hộ, tung hô một kẻ chí ư tài giỏi về nghệ thuật đánh lừa người dân.
Mọi thứ nay đã quá muộn. Cái thây ma nằm ở trong lăng Ba Đình, dù cho có phù phép của thần thánh cũng không ngồi dậy để viết bản tự khai, tự thú, tự kiểm được đâu.
Ngoài ra cũng còn phải quan tâm đến thực tế chính trị hiện đại: Vì một sự trớ trêu của lịch sử, kẻ cướp đã chiếm địa vị chính thức là chủ mất rồi. Lá cờ đỏ màu máu lại nghiễm nhiên tung bay tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và tại hầu hết các thủ đô khắp thế giới. Và trớ trêu hơn nữa là - sở dĩ có sự kiện đó là vì hình ảnh già Hồ vẫn còn được trưng bày và đánh bóng không những chỉ tại Việt Nam mà còn được lưu trữ tại những thư viện lớn trên khắp các lục địa.

Đây là thực tế chúng ta phải can đảm nhìn vào mà tự vấn tại sao đến nông nỗi này?
Tại sao cái ngày Cộng Sản chính thức công khai xâm lăng Việt Nam là ngày 19 tháng 8 này lại được ghi vào trong lịch sử là ngày cách mạng thành công? Rõ ràng hai chữ “Cách Mạng” phải hiểu là cách mạng vô sản theo thuyết Mác Xít. Nhưng tại sao dân ta, đại đa số vẫn coi đó là cách mạng của dân tộc nước Việt Nam ta thành công? * (Ai đẻ ra nó?)
Nhân sắp đến ngày tưởng nhớ đau thương này, chúng tôi xin long trọng cải tên nó là ngày Cộng Sản xâm lăng. Nguyên do sự mất nước vào ngày 30 tháng tư..
Một cơ may duy nhất cho chúng ta để sau này con cháu chúng ta học được bài học quý giá của lịch sử hầu đứng lên cứu nước, đó là đồng bào ở hai phía, thuộc cả hai miền hãy nhìn lại lịch sử, và nhìn nhận ra chính vì chúng ta dại dột, không biết gì về cái quái thai Cộng Sản, không biết gì về mưu mô thâm độc của nó, nên đã lầm mà theo nó từ những ngày đầu ủng hộ nó, nên cái gọi là cuộc “cách mạng 19 tháng 8” của nó mới thành công; và nước đã bị xâm lăng kể từ ngày đó.
Ngày nay nhiều người đặt dấu hỏi:
• Tại sao bỗng dưng thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức khi thấy Việt Minh chuẩn bị “Cách Mạng”, nghĩa là sắp sửa xâm lăng? Vì yếu bóng vía, hay vì lầm tưởng Việt Minh mới có chính nghĩa?
• Tại sao vua Bảo Đại lại thoái vị, trao ấn kiếm cho Trần Huy Liệu đem về cho Hồ Chí Minh? Vì thích làm dân của một n ước độc lập, hay vì chẳng biết rõ Cộng Sản là gì, chẳng biết Hồ Chí Minh là ai?
• Tại sao các tổ chức yêu nước ở Hoa Nam che chở cho Hồ Chí Minh? Phải chăng vì lầm tưởng Cộng Sản mà yêu nước thì cũng cùng một phe? Nghĩa là chẳng biết gì về Cộng Sản, vẫn nghĩ Cộng Sản vẫn có thể yêu nước.
• Tại sao các vị như Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần nhập bọn với Hồ Chí Minh lập nên chính phủ Liên Hiệp để cho người dân cả nước lầm tưởng Việt Minh giải phóng chứ không xâm lăng?
Nếu lúc ấy bộ mặt thật của Cộng Sản đã hiện rõ, thì tình hình đã khác hẳn..
Cũng như một số nhân vật và chính khách miền Nam đã vì lý do này hay lý do khác, tiếp tay với một số nhà báo và chính khách Mỹ - lật đổ Đệ Nhất Cộng Hòa để mở đầu cho hỗn loạn và băng hoại, biến miền Nam thành con mồi cho Cộng Sản chiếm nốt cả nước.
Chỉ có nhận khuyết điểm, tìm ra nguyên nhân đích thực của sự mất nước, mới có thể cứu nước. Vì cái thể chế “chuyên chính vô sản” hiện nay không có gì giống bất cứ một nền độc tài nào trên thế gian, kể các chế độ quân chủ chuyên chế thời cổ đại. Thể chế “chuyên chính vô sản” nó là con quái vật do một quái thai thành hình; cho nên đừng hy vọng lấy dân chủ để đánh đuổi quân xâm lăng, vì chính chúng đã tự thú nhận: Bỏ điều 4 hiến pháp là tự tử.
0o0
Chúng tôi biết việc nhận khuyết điểm và sám hối là việc vô cùng khó khăn. Vì hiện còn rất nhiều người muốn bào chữa cho cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và chính quyền đệ nhị Cộng Hòa, trong đó có rất nhiều cán bộ Đại Việt nắm giữ những chức vụ quan trọng. Những người này thường nói Mỹ xấu chơi, bỏ rơi đồng minh nên VNCH mới thua. Chứ không chịu nhận rằng: Mỹ cũng bị đánh bại về quân sự, cần phải bằng mọi giá rút chân ra khỏi vũng lầy chiến tranh bằng quân sự này để tự cứu mình và mở mặt trận khác rộng lớn hơn hòng đánh thắng Cộng Sản thế giới.
Chúng tôi thiết nghĩ, khi trách đồng minh bỏ rơi hay phản bội, chúng ta cũng nên tự hỏi - mình đã cố gắng đủ chưa. Và nhất là khi chính phủ Phan Huy Quát đã tự ý để cho Mỹ đem quân ồ ạt vào từ tháng 3 năm 1965, các vị đó có bắt Mỹ ký giấy tờ gì để bảo đảm rằng không được tự ý rút lui bỏ lại đàn em không? Để cho người Mỹ tự do vào rồi lại trách họ tự do rút lui, thì có hợp tình hợp lý và công bình không? Và như vậy là ta khôn hay ta dại?
Hơn nữa nhiều người còn bảo Mỹ bỏ rơi con tốt vì đã bắt được con xe. Họ cho rằng vì Nixon đã nắm được Trung Quốc rồi nên bỏ rơi Việt Nam. Họ đã lấy nguyên nhân làm hậu quả.
Ngay từ 1968, sau vụ Mậu Thân, chiến bại về quân sự của Việt Cộng, với trên 5 vạn thương vong, đã trở thành chiến thắng về tâm lý và chính trị, khiến cho những Robert McNamara, Lyndon B. Johnson nắm chắc phần thua nên một người đã từ chức và một người không dám ra ứng cử nữa. Và từ đó Mỹ đã muốn thương thuyết với địch để có thể rút quân về, chứ Nixon đâu có phải là người đầu tiên có ý “bỏ rơi” Việt Nam! Vả lại ngay khi tranh cử Nixon đã hứa rút quân về... việc bỏ rơi Việt Nam không phải là hậu quả của Thông Cáo Chung Thượng Hải, mãi đến năm 1972 mới ký. Trái lại, để có thể rút quân trong danh dự, mà phải thương thuyết với Trung Cộng.
Ông Diệm từng chủ trương khi nào thật cần thì có thể ký với Mỹ một hiệp ước song phương và chỉ cho quân Mỹ đóng ở biên giới gần sông Bến Hải. Đó là một lập trường khôn ngoan, nhưng những người không có tinh thần tự lập, chỉ muốn ỷ vào ngoại nhân đã gián tiếp giết ông để cho Mỹ tự do đem quân vào rồi tự do rút quân đi. Nay thì chuyện đã rồi, không còn cách nào cứu vãn được nữa.
Nhân nhớ lại ngày dân ta mắc lỡm mà hoan hô “Cách Mạng Mùa Thu”, cũng là ngày mở màn những đợt XÂM LĂNG đầu tiên của Cộng Sản đưa tới sự mất nước, chúng tôi mong rằng cả hai phía (tội nhân và nạn nhân ở cả hai chiến tuyến) đều nên xét mình và sám hối để mở mắt cho hậu sinh. Đó là điều kiện cần để con cháu chúng ta sẽ sáng suốt hơn cha ông có thể tìm ra những phương cách hữu hiệu, giành lại được đất nước và bảo vệ Tổ Quốc khỏi sự thôn tính của kẻ thù Phương Bắc.
Minh Võ
15-8-2009
No comments:
Post a Comment