for everyone
noidautinhco22 wrote on Mar 22
Mình vừa tìm đc toàn bộ cốt truyện dạng audio mời các bạn vào nghe(tất cả gồm 4 phần dạng playlist auto)
noidautinhco22 wrote on Mar 24
flam12 said
Đã nghe xong.May mắn thay, dân Nam Hàn hiện nay không phải chịu bị một đứa cộng sản mặt heo ngồi trên đầu cho tới chết chỉ vì 4 chữ "Thống nhất Quốc gia". Gái Nam Hàn không phải làm đĩ/đẻ mướn khắp thế giới như gái CHXH Việt Nam. ![]()
Cuối cùng họ xử sự với K H Hee dể thướng quá nhỉ?
|
noidautinhco22 wrote on Mar 24, edited on Mar 24
flam12 said
Càng ngẫm sâu càng thấy cái khôn của Nam Hàn. Nam Hàn Thắng rất lớn. Rất lớn.Tôi có ghen tức với South Korian/Nam Hàn. Còn lâu người Việt Nam mới có cái khôn sâu sắc đầy nhân ái đó. Bạn nên phồ biến rộng rãi cho người trong nước. ![]()
Nghe hết đoạn cuối mình mới thấy tụi gián điệp điều tra quá tinh tế,kg cần đánh mà khai hết và cuối cùng cùng dùng nhân đạo làm kẻ thù phải tâm phục,khẩu phục!!
Kiến thức cơ bản điều chỉnh âm thanh cho các sự kiện chuyên nghiệp_Viết bởi Mr.Trần |
for everyone
Kiến thức cơ bản về điều chỉnh âm thanh cho các show diễn ca nhạc sự kiện
Về mặt chuẩn bị thiết bị:
1. Mỗi căn phòng to nhỏ đều có 1 vài tần số riêng dễ cộng hưởng với âm thanh phát ra từ loa, làm cho âm thanh ở một tần số nào đó bị hú và đó là 1 trong những nguyên nhân chính của hiện tượng (ù,hú ) feedback. Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của người chỉnh âm thanh đó là lúc setup thì phải tìm ra những tần số đó và hiệu chỉnh trên EQ trước khi trình diễn.
2. Mỗi bộ loa hay Micro đều có sơ đồ đáp tuyến khác nhau, khiến âm thanh to nhỏ khác nhau ở tần số khác nhau. Không thể có những bộ loa hay mic có sơ đồ đáp tuyến bằng phẳng tuyệt đối cả (Loa Monitor dùng trong phòng thâu thể hiện âm thanh tương đối bằng phẳng, trung thực nhất và cũng đắt tiền hơn loa của những bộ dàn Hi-fi). Thường thì loại loa không tốt sẽ ra âm bass và treble yếu nhưng Middle lại mạnh. Điều này cũng khá quan trọng và cũng là 1 nguyên nhân của hiện tượng feedback (chủ yếu nằm ở tầm middle gần bass 250Hz - 750Hz). Màng loa to thì thể hiện bass tốt hơn, kể cả những âm thanh trầm nhất, ngược lại loa nhỏ thì âm treble rõ hơn.
3. Âm Bass vì lí do bước sóng dài nên phát ra được ở 1 khoảng cách xa cho nên người ngồi ở xa vẫn nghe đủ tiếng Bass, vì vậy người ta chỉ cần tìm vị trí đặt loa bass sao nghe hay là được. Âm Bass mang nhiều năng lượng cơ học và thường được để sát đất hoặc tường, đề truyền âm qua vật chất chứ không nhất thiết qua không khí. Loa cho âm Treble thường có tính chất định hướng cao nên cách sắp xếp loa tốt là khi mọi người ngồi ở vị trí nào cũng phải trông thấy loa là tốt nhất. Nếu phòng có chiều dài lớn người ta có thể đặt thêm bộ loa khác để hỗ trợ người ngồi đằng sau nghe rõ hơn.
4. Việc người ngồi chính giữa thường bị nghe thiếu âm hoặc lớn quá là thường thấy do hiện tượng khử âm và cộng hưởng do âm thanh cùng tần số và cùng pha (hoặc lệch 180°) phát ra từ 2 hay nhiều hướng. Điều này cũng giống như hiện tượng giao thoa của sóng ánh sáng hay sóng trên mặt nước. Âm thanh lệch pha thì sẽ tạo nến tiếng nhẽo hay rít nhỏ và gây khó chịu khi nghe lâu, điều này nhiều người không chú ý.
5. Công suất của loa và bộ khuếch đại là một chỉ số quan trọng khi xác định độ đảm bảo về chất lượng âm thanh khi chơi live. Do tính chất khuếch đại cơ bản mạch bán dẫn là không thẳng (ko đều) nên khi âm thanh đầu vào hoặc ra vượt quá 1 ranh giới nào đó thì những bộ khuếch đại sẽ bắt đầu làm hỏng tiếng, tiếng sẽ bị rè hoặc mất hẳn 1 vài tần số nào đó. Chính vì vậy người ta luôn đầu tư để sắm 1 bộ khuếch đại công suất càng lớn thì độ đảm bảo âm thanh không hỏng lớn hơn, tỉ lệ thuận với khích cỡ phòng. Cũng giống như bộ khuếch đại, màng loa cũng chỉ có giới hạn nhất định về công suất và cũng dễ làm hỏng tiếng khi quá ngưỡng. Chú ý: biểu dễn live với nhiều nhạc cụ và mic thì công suất đỉnh cao (peak) luôn lớn hơn nhiều khi chơi tập dượt và hiện tượng bị hỏng tiếng cũng dễ xảy ra hơn.
6. Nói đến việc setup âm thanh live ai cũng biết DI-box, một thiết bị quan trọng để kết nối giữa nhạc cụ, mic với Bộ trộn âm mà không gây thất thoát về chất lượng tín hiệu. Những điểm quan trọng của DI-box:
- Tín hiệu khi truyền qua 1 quãng đường dây dài không đồng trục (asymmetric) thì càng bị kém chất lượng đi (do tính chất sản sinh từ trường của dòng điện xoay chiều của tín hiệu) đặc biệt ở tần số thấp và mức tín hiệu cao, dễ sinh ra tiếng rồ thấp "krrr" (harmonic distortion). DI-box chuyển tín hiệu từ dây asymmetric (thường cắm từ nhạc cụ) thành đồng trục symetric (XRL) và có thể đảm bảo chất lượng khi dẫn đi xa tới bàn mixer (thường qua dây Multicore với nhiều dây XRL).
- Chênh lệch tổng trở giữa các nhạc cụ, mic và giữa các loa khác nhau là 1 trong số những nguyên nhân quan trọng làm cho âm thanh của các nhạc cụ hay mic thường cái to cái nhỏ, gây nhiều rắc rối khi chỉnh live (làm phải thường xuỵên chỉnh lại độ Gain của mạch tiền khuếch đại khác nhau). Vì vậy để có tổng trở thống nhất người ta thuờng cắm nhạc cụ và mic qua DI-box.
7. Mic tốt là Mic không thu những tạp âm ở xung quanh vào mà có tính định hướng cao. Mic Dynamic (dùng cuộn dây điện động) không thu trung thực ở mọi tần số, nhưng dễ dùng và không quá nhạy cảm như Mic Condenser (tụ điện). Ngược lại Mic Condenser lại thu được cả những âm tần thấp và cao, tuy nhiên cũng đắt hơn vì chế tạo khó và thường có tính đa hướng. Mic Condenser thường được dùng trong phòng thu, bộ trống, hay thu âm tổng thể của 1 khu vực nào đó. Vì nó quá nhạy cảm với va chạm nên không thích hợp cho ca sĩ cầm trêb tay. Mic Condenser phải cần 1 nguồn phụ phantom (thường là 48V) để cho mạch fet bên trong họat động. Mic tốt và dở có thể chênh nhau về giá cả rất lớn. Những Mic than của điện thoại xưa không thể nào dùng để trình diễn hay thu âm được. Mic Piezoelectric (thạch anh) nay ít dùng, đôi khi được gắn trên đàn ghita, thu âm dựa vào dao động trên mặt đàn và có tổng trở cao.
Về việc cân chỉnh trên bàn mixer (mixing console):
1. Giọng hát của mỗi người mỗi khác, người hát to khỏe, người hát ít hơi, người thì bass và middle rõ (thường với đàn ông), người thì chỉ nghe thấy âm treble (thường là phụ nữ) cho nên nhiệm vụ của người chỉnh âm thanh là điều chỉnh sao cho giọng của mỗi người đều rõ ràng, đầy đủ dải tần mà không đánh mất chất giọng riêng. Chỉnh cho rõ ràng thì ai cũng có thể nhận ra, tập luyện và làm đc, còn chỉnh cho cân đối về âm tần thì có vài điểm quan trọng sau:
- Giọng hát với nhiều âm bass và Middle luôn giúp thể hiện sức truyền đạt cao, gây tác động mạnh tới tâm lý người nghe. Vì vậy ai có sở hữu giọng hát như vậy thì rất có lợi, người chỉnh chỉ cần thêm chút treble để giọng hát thêm hấp dẫn. Nhiều Middle hay Bass quá đều dẫn đến feedback, vì vậy đôi khi người ta chỉnh âm tần này nhỏ xuống nếu quá mức.
- Giọng hát với nhiều âm treble thì tạo ra cảm giác nhẹ nhàng, êm ái, và thể hiện tiếng hát trong trẻo, thường được phụ nữ sở hữu. Tuy nhiên khi nghe cả buổi thì sẽ cảm thấy nhàm chán. Vì vậy người ta nên thêm chút Middle và Bass để tiếng hát đầy hơn. Chú ý là người nào giọng the thé thì có cho thêm bao nhiêu Mid và bass cũng ko đủ vì tín hiệu thu đâu có âm tần đó để khuyêc đại, điều này dễ gây thêm tiếng feedback ngẫu nhiên.
- Ngoài âm treble của giọng hát ra người có kinh nghiệm sẽ nhận thấy âm thanh ở tần số cao hơn thông thường một chút (đặc biệt 1kHz trở lên) sẽ làm cho giọng hát trong trẻo hơn nữa mà không gây ảnh hưởng tới chất giọng cơ bản. Thêm nữa, ở những giải tần đó những loa lớn phát ra thường thiếu hụt nhiều, cho nên đẩy EQ tổng của Mic ở giải tần này làm cho giọng hát hấp dẫn hơn. Ví dụ cụ thể: nghe giọng ca của các ca sĩ nữ, tần số 1kHz thường được người nhận ra rõ hơn tần số còn lại và có cảm giác lớn, hơn mặc dù cùng mức với tần số khác.
2. Cần phân biệt 2 hiệu ứng Echo và Reverb. Trong khi Echo giả tạo tiếng vọng lại như trong hang động, với thời gian dài hơn (1 đến vài giây), còn Reverb/delay thể hiện tiếng ngân, 1 hiệu ứng tương đối quan trọng để tại nên giọng hát hay âm thanh nhạc cụ thêm truyền cảm và có độ sâu giúp người hát đỡ tốn sức hơn. Phần lớn những bộ Karaoke thường có hiệu ứng Echo, nó không giúp giọng hay hơn nhưng người hát ngắn hơi cảm thấy yên tâm hơn; tuy nhiên nhiều Echo quálàm cho âm thanh thiếu rõ ràng vì sự lặp lại và đè lẫn nhau. Vì vậy tránh dùng Echo khi chơi live. Các yếu tố để điều chỉnh Echo và Reverb là Depth (độ sâu), Rate (độ lớn), Pre-delay time (thời hằng sớm hoặc trễ).
3. Compressor và Limiter là 2 hiệu ứng rất quan trọng cho một buổi trình diễn. Vấn đề là nhạc cụ hay giọng hát luôn to nhỏ khác nhau, lúc mạnh nhẹ, lúc xa gần cho nên người ta thường dùng Compressor để hạn chế tín hiệu khi tới 1 mức đã định sẵn. Âm lớn quá sẽ được nén xuống, nhỏ thì được giữ nguyên hoặc nâng lên. Hiệu ứng này giúp nhiều cho việc cân chỉnh âm thanh. Tuy nhiên nhiều quá sẽ làm mất đi tính động thực (dynamic) của âm thanh. Người ta có thể chọn nén ở nhiều dải tần khác nhau (bass, middle, treble) để kiểm soát được hiệu quả hơn hiệu ứng này.
Còn hiệu ứng Limiter giúp cho âm thanh không vượt quá 1 ngưỡng nào đó, tránh những hiện tượng quá tải (overcontrol) gây feedback hoặc bị hỏng tiếng (vượt quá mức tối đa của tín hiệu chuẩn 0dB) đối với những thiết bị xử lý bằng kỹ thuật số.
Compressor và Limiter tốt thường đắt tiền, và được đặt trước bộ công suất, hoặc qua đường send-return hay insert cho từng nhạc cụ trên bàn mixer.
2 lá thư gởi kẻ đạo đức giả nguyễn ngọc ngạn
(Bức thư 1 của Nguyễn HB)Tôi trước đây cũng có rất nhiều thiện cảm với ông Nguyễn Ngọc Ngạn. Nhưng nghiệp văn chương của ông Ngạn đến đây coi như số rách rồi.
Như lời biện minh của ông ta rằng tại sao mọi người không chống bầu sô mà lại chỉ chĩa vào mình ông thôi. Vậy ông nói chính trị chính em làm gì, ông lên mặt giảng đạo đức suốt 20 năm làm gì? Dư luận không chống ông , nhưng dư luận thất vọng về ông, dư luận quá ngỡ ngàng về một người suốt 20 năm tự cho mình là minh triết biết được thế nào là đúng sai, dậy dỗ mọi người về văn hóa Việt, về đạo đức…Nhưng con đường sống chết thì không biết lần mò ra làm sao!
Vậy hỏi ông một câu: Ngày giỗ ông bà tổ tiên trong đại tộc nhà ông, ông có mời phường chèo về mua vui cho con cháu nội ngoại không?
Văn hóa Việt là nhớ tới ngày mất. Văn hóa Tây là nhớ tới ngày sinh ra. Dư luận thật sự bàng hoàng về hành động này của ông. Ngày mà dân Việt chết thê thảm, chết lăn chết lóc thì là ngày ông lại tưng bừng ca hát. Vậy ông vui trên sự chết chóc của hàng vạn dân Việt đó. Dư luận đã mất niềm tin vào ông rồi. Từ nay thôi xin ông đừng nói tới văn hóa Việt nữa.
Ngày 30/4 là ngày ở trong nước gọi là lễ mừng chiến thăng. Thử hỏi chiến thắng gì?
Ngày 30/4 là ngày bố giết con, anh giết em, đồng hương giết lẫn nhau. Một ngày tang tóc đến như thế mà mừng à? Mừng cái gì.
Có thể tất cả những ngày khác như 2/9, hoặc 19/5…không còn quan trọng nữa nhưng ngày 30/4 phải là ngày quốc tang. Một ngày mà không riêng gì những người theo Quân Lực Cộng Hòa mà những người theo cộng sản cũng phải tĩnh tâm suy nghĩ.
Ông lại ghen với bầu sô. Đáng lẽ người như ông phải can ngăn bầu sô chứ, họ còn trẻ người non dạ không hiểu ÂM-DƯƠNG, không biết đường sống, đường chết, thấy tiền là lao như thiêu thân, dư luận biết vậy nên tha lỗi cho họ sao ông lại trách dư luận là không đánh bầu sô lại đánh ông. Vì người như ông hô một tiếng cả trăm ngàn người theo, và vì vậy sự lầm lỡ của ông thật tại hại đến chừng nào? còn bầu sô thì là phường giá áo túi cơm thôi, có tiền thì có tình hết tiền là hết tình, ông không phân biệt được điều này sao!
——————–
(Bức thứ 2 của HTML)
Kính gởi ông Nguyễn Ngọc Ngạn
Kính thưa ông
Tôi là một trong những người Việt Nam đang sinh sống tại Berlin và cũng là một người đã từng rất hâm mộ ông trên các show của Paris by night . Đáng lý cái tin ông và các nghệ sỹ đến Berlin trình diễn là một cái tin vui cho chúng tôi, vì chúng tôi sẽ được thưởng thức tại chỗ một đêm âm nhạc va nghệ thuật Việt Nam có tầm cỡ chuyên nghiệp của người Việt Hải Ngoại ngay trong một nhà hát lớn và sang trọng tại Berlin như từ lâu tôi vẫn thường ao ước. Nhưng khi các bạn hữu cho chúng tôi biết rằng ông và đoàn nghệ sỹ sẽ đến Berlin vào đúng ngày 30.4.2012 thì bản thân tôi không thể nào tin được là mình nghe đúng , lúc đầu tôi còn phân bua với bạn hữu biện hộ cho ông và nghĩ là đó chỉ là tin vịt của Việt Cộng, nhưng khi nhìn thấy những tờ quảng cáo dán đầy trong chợ Đồng Xuân (chợ VN nằm trong tay người Việt Đông Đức cũ và Việt Kiều) thì tôi mới tin đó là sự thật. Một cái sự thật xé lòng vì tôi không thể ngờ ông, cũng là một người như chúng tôi, một thế hệ đã từng trải qua những thăng trầm của một giai doạn khó khăn nhất trong lịch sử VN và đã từng khốn khổ trên con đường vượt biên, mà ông lại còn đau khổ hơn bản thân tôi vì trên đường tìm tự do ông đã mất cả những người thân yêu trong biển cả, lại nỡ nào quên đi tất cả . Chẳng đặng đừng mà chúng tôi và bạn hữu ỏ toàn Âu Châu đã quyết định phải có thái độ phản ứng đối với ông và ban tổ chức về đêm văn nghệ đó . Chẳng đặng đừng mà Người Việt Hải Ngoại lại phải đối đầu chống phá lẫn nhau. Đó là việc làm bắt buộc, dẫu biết rằng chúng ta chống nhau là chỉ làm thỏa lòng những kẻ thân Cộng.
Cho đến ngày 20.4.2012 thì chúng tôi nhận được tin Sĩ Nguyễn sẽ hủy bỏ Show ở Berlin ngày 30.4.2012. Tin đó làm chúng tôi nhẹ cả người, nhưng vẫn còn nghi ngại là đó chỉ là một quả lừa để chúng tôi ngừng tổ chức „đón tiếp“ ông.
Tiếp đến ngày hôm sau lại được xem một cai Video clip dài 28:53phút về cuộc đàm thọai giữa ông và cô Hoàng Anh, trong Video clip ông giải thích theo hướng nhìn của ông về lý do của đêm văn nghệ 30.4.2012 tại Berlin. Sau khi nghe ông trình bày tôi mạn phép được lấy tư cách của một người Việt Hải Ngoại tại Berlin để gửi đến ông những điều suy nghĩ về những lời phát biểu của ông trên mạng.
Ông nói rằng ông không có Internet nhưng ông đã sử dụng mạng để chuyển tải tâm tư của ông nên tôi , vì không có phưong tiện nào khác để liên lạc với ông, cũng phải sử dụng mạng để gửi thư này đến ông:
1.- Trong suốt buổi nói chuyện ông đã sử dụng nghệ thuật ăn nói điêu luyện để tránh nhắc lại chính danh cái ngày 30.4 và cố ý nhập nhèm với những ngày khác: quốc tế lao động 1.5, sinh nhật HCM 19.5… Ngày 30.4 không phải là ngày lễ, cho dù đứng trên chiến tuyến nào đi nữa (đối với Cộng Sản là ngày vui đại thắng, đối với Quốc Gia là ngày mất nước) thì đó là một ngày lịch sử mà con cháu chúng ta cả ngàn đời sau phải ghi nhớ (chứ không phải chỉ đến thế hệ thứ hai thứ ba là quên được rồi!!), một ngày lịch sử đánh dấu mốc về sự chuyển đổi thể chế ở VN mà hậu quả của nó không những chỉ dừng lại sau vài năm hậu chiến mà còn tồn tại sau 30-40 năm và còn lâu hơn nữa. Riêng đối với người Việt Hải Ngoại thì chắn chắn đó không phải là ngày vui rồi. Tôi tin rằng cứ mỗi năm đến ngày 30.4 thì không phải trên thế giới chỉ có một mình tôi hướng tâm tư về VN và để ra một phút giây nào đó trong ngày để ôn lại trong trí nhớ những giờ phút kinh hoàng đó.
2.- Vì những lý do nêu trên nên không thể nói là chúng tôi „quá diễn“ đối với ngày 30.4 hay đối với cá nhân ông Nguyễn Ngọc Ngạn. Chúng tôi không „đánh giặc hình thức“, chúng tôi cũng „ không tự trói tay mình, bị thụ động và lệ thuộc vào đối phương“ vì đó là tâm tư phát sinh từ trong trái tim của Người Việt Hải Ngoại, không ai khuyến khích hay vùi dập nó đi được. Chúng tôi cũng không muốn “ làm khổ nhau“ và “chế ra giặc để mà đánh“ vì nếu ông và ban văn nghệ đến Berlin vào những ngày khác (long weekend như ngày lễ Phục Sinh, lễ Thăng Thiên, lễ Pfingsten.. ) cũng trong mùa Xuân thì chúng tôi sẽ hoan nghênh và hăng hái mua vé đi xem chưong trình văn nghệ của ông vì đó là một nhu cầu, một thức ăn tinh thần của người Việt ở Berlin chưa được cung ứng đầy đủ như ở USA và Canada. Đằng này ông và đoàn văn nghệ lại đến đúng vào ngày 30.4 như một cái tát thẳng vào mặt chúng tôi ở Berlin nói riêng và như một sự khiêu khích vào Cộng Đồng Người Việt ở Châu Âu nói chung. Ông đã bảo „văn nghệ để giải trí“, nhưng tại sao lại chọn ngày 30.4 để giải trí. Chúng tôi không muốn „chụp mũ, dèm pha, chống đối“ mà chúng tôi ở trong cái thế „bị động“ vì việc làm của ông. Chúng tôi cũng chẳng muốn „bàn tán xôn xao“ nhưng khi làm một việc gì chung thì chúng tôi phải bàn định với Cộng Đồng để đi tới một quyết định chung.
Thưa ông Ngạn
Những gì tôi vừa nêu trên xuất phát từ trong trái tim tôi, một người Việt ở Berlin, không mầu mè, không show up. Chúng ta đang sống và hưởng một „cuộc sống văn minh“ và „văn minh là đối thoại“ như ông đã nói. Nếu ông tự cho mình là không „ngớ ngẩn“, thì ông hãy tự nhìn lại một cách bình tâm và sáng suốt về sự kiện ngày 30.4.2012 này của ông , đừng cứ mãi đổ lỗi cho người khác.
Chào ông
Những gì tôi vừa nêu trên xuất phát từ trong trái tim tôi, một người Việt ở Berlin, không mầu mè, không show up. Chúng ta đang sống và hưởng một „cuộc sống văn minh“ và „văn minh là đối thoại“ như ông đã nói. Nếu ông tự cho mình là không „ngớ ngẩn“, thì ông hãy tự nhìn lại một cách bình tâm và sáng suốt về sự kiện ngày 30.4.2012 này của ông , đừng cứ mãi đổ lỗi cho người khác.
Chào ông
Bác Sỹ Hoàng Thi Mỹ Lâm/ Berlin
viết ngày 22.4.2012
viết ngày 22.4.2012
Cô gái Tây khóc than mất hộ chiếu bên phố cổ
Đứng bên phố cổ Hà Nội, một cô gái Scotland vừa khóc vừa la to bằng tiếng Anh: "Ai lấy hộ chiếu của tôi vui lòng trả lại hoặc chỉ cho tôi cách nào lấy được. Tôi sẽ đưa thật nhiều tiền. Làm ơn! Có ai đó giúp tôi với!".
>Bị đuổi, bị chửi và bị dọa đánh ở Hà Nội
Mới đây, lần đầu tiên tôi đi thực tập ở miền Bắc. Trong những ngày ở Hà Nội tôi quen được một người bạn đến từ Scotland bởi một dịp tình cờ.
Lúc đó tôi vừa đi dạo một vòng Hồ Gươm, đang trên đường về lại khu phố cổ, ngang qua một nhà hàng thì nghe tiếng la khóc thất thanh của một người phụ nữ nước ngoài.
Tôi tiến lại gần thì nghe được cô ta vừa khóc vừa nói to bằng tiếng Anh: "Ai lấy hộ chiếu của tôi vui lòng trả lại hoặc chỉ cho tôi cách nào lấy được. Tôi sẽ đưa thật nhiều tiền. Làm ơn! Có ai đó giúp tôi với!".
Trên tay cô ấy là mấy tờ một trăm đôla Mỹ. Mọi người tụ tập rất đông nhưng không thấy ai nói năng hay giúp đỡ gì.
Tôi phải dịch to toàn bộ những gì cô ấy nói để mọi người cùng hiểu, hy vọng có ai đó giúp được. Nhưng chuyện không ngờ nhất lại xảy đến.
Một người phụ nữ tầm 35 tuổi bước đến khều cô gái Tây và chỉ lên nắp một chiếc xe hơi đậu gần đó. Mọi người nhìn theo và thấy trên đó là hộ chiếu của cô bạn người Scotland. Cô kiểm tra kĩ càng rồi đưa cho người phụ nữ ấy một tờ một trăm đôla Mỹ.
Người phụ nữ cầm tờ tiền và quay sang nói với một nhóm người bên cạnh: "Chiều qua mới thua con lô, hôm nay có tiền đánh tiếp rồi". Cả nhóm vừa cười vừa nói vừa băng qua đường về phố cổ.
Cô bạn người Scotland quay qua cảm ơn tôi và mời tôi uống cà phê. Tôi với cô ta vừa uống vừa hỏi chuyện. Cô ấy kể rằng chỉ vừa cầm hộ chiếu trên tay thì một phút sau đã bị mất.
Cô ta biết chính nhóm người phụ nữ kia đã lấy nhưng không có cách nào nói chuyện cho ra lẽ được. Tôi mới giải thích cho cô ấy rằng ở nơi nào cũng có người xấu người tốt, tại cô không gặp may thôi.
Cô bạn tôi chỉ lắc đầu và kể tiếp về những việc cô gặp phải từ khi cô đến Việt Nam hai ngày trước đó. Ngoài những cảnh đẹp ở Hà Nội ra thì hầu như đều là những ấn tượng không mấy tốt đẹp với cô ấy.
Mua sắm thì toàn bị thách giá gấp đôi trở lên, không mua thì cứ bị chèo kéo, bị nói gì đó nặng lời bằng tiếng Việt.
Chuyến đi thực tập Hà Nội với cuộc gặp gỡ tình cờ đã cho tôi đi từ bất ngờ này tới bất ngờ khác.http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2012/08/co-gai-tay-khoc-than-mat-ho-chieu-ben-pho-co/
Thành Nguyễn
angelaxuanhuong wrote on Aug 3
Thiệt là ngộ ..vậy chứ các chú Cảnh lúc đó ở đâu ta?.Hèn chi du lịch Việt Nam đối với người nước ngoài thật đúng với câu truyền miệng " Một đi không trở lại ?"
noidautinhco22 wrote on Aug 3
angelaxuanhuong said
Thiệt là ngộ ..vậy chứ các chú Cảnh lúc đó ở đâu ta?.Hèn chi du lịch Việt Nam đối với người nước ngoài thật đúng với câu truyền miệng " Một đi không trở lại ?" ![]()
Các chú cảnh đang bận "ăn"!!!!!
|

Đây là văn hóa giao thông của thành phố tự hào văn minh hiện đại nhất nước- Bị phiền vì bị hỏi đường quá nhiều, người dân tự chế bảng chỉ đường
Từ sau năm 1975, đô thị và giao thông đô thị ở Việt Nam đã phát triển một cách hoang dã. Đó là hệ quả của một thời đưa những người không có một chút am hiểu lên quản lý đô thị và giao thông đô thị.
Nhà cửa và các khu dân cư cho xây dựng bừa bãi không theo một tiêu chí quy hoạch hợp lý nào. Xe gắn máy cho nhập về thả cửa và không hề nghĩ gì đến việc phát triển hệ thống giao thông công cộng.
Quốc lộ 1 A là xương sống giao thông Bắc Nam, là huyết mạch vận hành và phát triển kinh tế của cả nước mà đến bây giờ nhiều đoạn vẫn còn như con đường làng. Trong khi đó thì cách đây hơn 10 năm, dồn hết tiền của vào xây dựng con đường Trường Sơn đầy tốn kém để rồi bỏ không và lại tốn tiền duy tu bảo dưỡng hàng năm lên đến hàng trăm tỷ đồng. Chưa nói là nhờ con đường nầy mà bọn lâm tặc, bọn kinh doanh gỗ lậu đã phá tan nát hết núi rừng Trường Sơn gây ra những trận lũ càng ngày càng dồn dập và khốc liệt cho vùng đồng bằng miền Trung.
Những tưởng sau hơn 35 năm, thế hệ những người quản lý sau nầy có học hành bài bản hơn. Nhưng những gì họ làm ra cho thấy phần lớn họ cũng chỉ là những cái đầu đất sét.
Trước hết là những con đường ven biển mà hầu như tỉnh nào có bờ biển cũng đua nhau làm để tăng quỹ đất. Những cái đầu đất sét ấy cứ đều đều cách mép biển chừng 100 mét là vẽ một con đường và cho như vậy là đẹp. Không có cái đầu nào hiểu rằng đường ven biển là con đường du lịch. Con đường đó phải có lúc ăn sát ra biển để có cảnh quan và có lúc đi sâu vào trong để tạo ra quỹ đất du lịch biển và để bảo tồn những làng ngư dân ven biển lâu đời.
Con đường từ Phan Thiết đến mũi Kê Gà là một minh chứng hùng hồn cho những cái đầu đất sét quy hoạch giao thông. Con đường ấy cứ đều đặn bò sát mép biển, chỗ nào mép đất nhô ra thì nhô ra theo, chỗ nào mép đất thụt vào thì thụt vào theo một cách ngây ngô. Con đường ấy làm cho đất phía bên biển quá hẹp không thể xây dựng công trình du lịch được, còn đất phía bên trong thì chỉ còn xây dựng nhà phố chứ không thể nào phát triển khách sạn lớn hoặc các khu resort, du lịch to đẹp đúng chuẫn được vì du khách muốn ra biển thì phải băng qua đường.( xem bản đồ đường từ Phan Thiết đi mũi Kê Gà )( hoặc xem đây )
Ông Nguyễn Bá Thanh ở Đà Nẵng được ca ngợi là có đầu óc lắm nhưng con đường ven biển từ Sơn Trà vào đến Ngũ Hành Sơn thì cũng được vạch ra ngây ngô không khác gì đường Kê Gà. Từ Sơn Trà vào đến Bắc Mỹ An dài gần chục cây số, con đường cứ đơn điệu chạy sát mép biển. Ở khu vực biển tuyệt đẹp nầy chỉ có thể xây dựng được các khách sạn cở 2, 3 sao như khách sạn Mỹ Khê là cùng. Đoạn từ Bắc Mỹ An vào Non Nước, may mắn là trước khi vạch ra con đường, đã có khu resort Furama nằm sát biển, do vậy con đường chạy tránh vào trong tạo ra một quỹ đất du lịch ven biển rất đẹp nép theo khu Furama. Nhờ vậy mà thu hút được hàng loạt dự án đầu tư lớn vào du lịch ăn ttheo khu Furama.( xem bản đồ đường Hoàng Sa ven biển Đà Nẵng )( hoặc xem đây )
Nhưng cũng hết sức buồn cười, kể từ đó chạy vào đến cửa Đại (Hội An) dài gần 20km, con đường cứ thế đều đều chạy sâu trong đất liền không có một chỗ nào nhô ra sát biển để có được cảnh quan biển, thật là đáng tiếc.
Trong đô thị thì những cái đầu đất sét thể hiện rất rõ qua các biển báo giao thông và cách phân luồng. Lấy Sài Gòn là một đô thị tự hào là văn minh, hiện đại nhất nước ra đơn cử.
Đến tận bây giờ thì một số giao lộ phức tạp mới xây mới có biển chỉ đường. Vẫn còn rất nhiều giao lộ khác chưa có biển chỉ đường như giao lộ Nguyễn Hữu Cảnh- chân Cầu Thủ Thiêm, giao lộ Nguyễn Hữu Cảnh- chân cầu Sài Gòn, vòng xoay Dân Chủ, vòng xoay Phù Đổng, vòng xoay Quách Thị Trang…Và những biển chỉ đường đến những địa điểm quan trọng như sân bay, ga xe lửa, bưu điện trung tâm, chợ Bến Thành, bệnh viện lớn, tòa thị chính, dinh Thống Nhất, ngã tư Hàng Xanh, ngã tư Bãy Hiền…hầu như không có. Người dân làm ăn cạnh những giao lộ đã quá bực mình vì bị khách đi đường hỏi đường nên phải tự vẽ những bảng chỉ đường như sau để bớt bị phiền hà. Thật không còn gì bôi bác chế độ hơn thế này!
Một thành phố hiện đại thì phải có hệ thống biển báo thật khoa học để cho bất cứ ai muốn tìm đường cũng không cần phải dừng xe hỏi đường. Điều nầy tôi thường viết báo nói đi nói lại rất nhiều lần từ 20 năm qua nhưng những cái đầu đất sét chỉ biết “kiếm chát” không hề nghĩ đến.
Còn việc phân luồng thì hết sức tùy tiện, không am hiểu một chút gì về vận trù học. Cứ hứng lên thì cho hàng loạt đường thành một chiều. Thấy rối tinh lên lại điều chỉnh về như cũ. Chuyện ấy cứ lặp đi lặp lại ở Sài Gòn khá nhiều lần.
Việc phân làn xe cũng rất bất nhất giữa các địa phương. Trên Quốc lộ 13, đoạn ở Sài Gòn thì cho xe tải và xe con đi chung làn nhưng qua Bình Dường thì xe tải và xe con lại tách riêng ra. Tương tự như vậy với quốc lộ 1A giữa Sài Gòn và Đồng Nai. Kiểu cố tình bất nhất như vậy là nhằm mục đích gì nếu không phải là để tạo điều kiện cho cảnh sát giao thông kiếm ăn?
Những bất hợp lý trong giao thông nói chung và trong giao thông đô thị nói riêng thể hiện qua các chuyện nhỏ như: biển báo, cách phân làn, các quy định…kể ra không thể nào hết.
Còn việc phân luồng thì hết sức tùy tiện, không am hiểu một chút gì về vận trù học. Cứ hứng lên thì cho hàng loạt đường thành một chiều. Thấy rối tinh lên lại điều chỉnh về như cũ. Chuyện ấy cứ lặp đi lặp lại ở Sài Gòn khá nhiều lần.
Việc phân làn xe cũng rất bất nhất giữa các địa phương. Trên Quốc lộ 13, đoạn ở Sài Gòn thì cho xe tải và xe con đi chung làn nhưng qua Bình Dường thì xe tải và xe con lại tách riêng ra. Tương tự như vậy với quốc lộ 1A giữa Sài Gòn và Đồng Nai. Kiểu cố tình bất nhất như vậy là nhằm mục đích gì nếu không phải là để tạo điều kiện cho cảnh sát giao thông kiếm ăn?
Những bất hợp lý trong giao thông nói chung và trong giao thông đô thị nói riêng thể hiện qua các chuyện nhỏ như: biển báo, cách phân làn, các quy định…kể ra không thể nào hết.

Biển báo dưới chân hầm Thủ Thiêm, hướng đi Đại lộ Đông Tây với rất nhiều chữ khiến người đi đường khó có thể đọc hết nếu không dừng lại. Ảnh: H.C.

Một biển báo thay thế biển báo "cấm" ở trên được thành viên của một diễn đàn trên Internet đưa ra để dạy quan chức giao thông đầu đất sét.
Gần 40 năm sau hòa bình, tôi tin là đã có một thế hệ quản lý mới được cho ăn học và có bằng cấp chuyên môn đàng hoàng. Tôi vốn tôn trọng nhà cầm quyền nên không tin rằng đám quan chức quản lý mới ấy chỉ toàn là phường giá áo túi cơm, toàn là bọn bằng cấp giả hoặc bằng thật học giả như dư luận khắp nơi luôn râm ran. Nhưng những gì tôi thấy các vị ấy làm, chỉ trong lãnh vực quản lý đô thị và giao thông, thì không thể nào làm tôi không tin rằng đầu óc các vị ấy chỉ toàn là đất sét. Mà đỉnh cao đất sét ấy là ngài bộ trưởng Đinh La Thăng. Còn ai cao hơn nữa không, tôi không biết nên không dám nói.
Tại sao tôi phải tin rằng các vị là đầu đất sét? Vì tất cả những điều tôi nói ở trên là những kiến thức cơ bản mà một học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông một cách nghiêm túc đều phải biết, không cần đến trình độ chuyên ngành gì cao siêu ghê gớm như bằng cấp của các vị ghi.
Và thành thật xin lỗi những vị quan chức khác, số rất ít thôi, không phải là đầu đất sét.
Và thành thật xin lỗi những vị quan chức khác, số rất ít thôi, không phải là đầu đất sét.

Đây là văn hóa giao thông của thành phố tự hào văn minh hiện đại nhất nước- Bị phiền vì bị hỏi đường quá nhiều, người dân tự chế bảng chỉ đường
for everyoneCanh bạc của Đảng Cộng sản
Cập nhật: 15:06 GMT - chủ nhật, 14 tháng 10, 2012
Vì nhiều lý do, cũng dễ hiểu, người ta tin rằng nếu ông Dũng ra đi thì Đảng và Nhà nước Việt Nam giải quyết được các vấn đề khủng hoảng hiện nay, trong đó khủng hoảng lớn nhất vẫn là khủng hoảng tính chính đáng của lãnh đạo.Có vẻ như nhiều người cũng không muốn ông thủ tướng ngồi ở đó nữa. Nhiều tiếng nói trên không gian mạng không ngần ngại bày tỏ công khai điều này.
Một vị trưởng lão trong giang hồ, một giáo sư đáng kính và là người xưa nay vẫn có thái độ thân thiện với chính quyền Việt Nam, nói với tôi, giọng khinh miệt, “Chừng nào hắn [Nguyễn Tấn Dũng] còn ngồi đó thì tôi sẽ không về Việt Nam”.
Vì nhiều lý do, cũng dễ hiểu, người ta tin rằng nếu ông Dũng ra đi thì Đảng và Nhà nước Việt Nam giải quyết được các vấn đề khủng hoảng hiện nay, trong đó khủng hoảng lớn nhất vẫn là khủng hoảng tính chính đáng của lãnh đạo.Có vẻ như nhiều người cũng không muốn ông thủ tướng ngồi ở đó nữa. Nhiều tiếng nói trên không gian mạng không ngần ngại bày tỏ công khai điều này.
Việc ông Dũng rời khỏi ghế thủ tướng lúc này có thể đem đến một cảm giác thở phào cho nhiều người nhưng niềm tin cho rằng có ai đó đến thế chỗ ông có khả năng giải quyết khủng hoảng là một niềm tin không có cơ sở.
Khủng hoảng hiện nay ở Việt Nam là khủng hoảng định chế chứ không phải khủng hoảng nhân sự.
Những người lãnh đạo Đảng Cộng sản hiểu điều này và nếu họ khôn ngoan thì họ sẽ để ông Dũng ngồi yên đó.
Khủng hoảng định chế
Ông Dũng ra đi giúp được gì cho Đảng, ngoài việc làm giảm đi áp lực của bức xúc xã hội trong một thời gian ngắn? Không giúp được điều gì chắc chắn cả.
Đó là chưa nói đến những rủi ro khác, mà rủi ro lớn nhất là Đảng sẽ mất luôn khả năng kiểm soát các lực lượng âm binh của ông Dũng trong an ninh và kinh tế mà từ trước đến nay Đảng vẫn không kiểm soát được. Đám âm binh này do ông Dũng tạo nên, ông sống với chúng và hiện nay nếu trong Bộ Chính trị có ai có khả năng điều khiển chúng thì người đó chính là ông Dũng.
Những người lãnh đạo Đảng Cộng sản có thể xung đột đến mức loại trừ nhau nhưng họ chỉ loại trừ nhau khi không gây rủi ro cho quyền lãnh đạo của Đảng.
Một khi quyền lãnh đạo đó bị đe dọa, bởi bất cứ thế lực nào, thì một sợi dây vô hình sẽ buộc chặt họ lại với nhau. Lúc này không có lý do gì để tin rằng cái gọi là “trận chiến Ba-Tư”, nếu thật sự có thật một trận chiến như thế, sẽ đưa đến kết quả làm phân hóa Đảng.
Tóm lại: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ không đi đâu cả. Và đó là điều tốt.
Sự xuất hiện trở lại của Ban Kinh tế Trung ương và việc Ban Chỉ đạo Chống Tham nhũng nay thuộc về Đảng là những tín hiệu xấu cho tiến trình pháp quyền hóa ở Việt Nam.
Phải mất gần hai thập niên, và phải cần đến những vị tổng bí thư yếu bóng vía như Nông Đức Mạnh, để Việt Nam có thể chuyển trung tâm quyền lực từ Đảng sang phía hành pháp của chính phủ. Đây là một bước tiến lớn trong tiến trình pháp quyền hóa, dù chưa phải là dân chủ hóa, đời sống chính trị quốc gia.
Vấn đề khủng hoảng hiện nay không phải là vì do một cá nhân nào mà là sự khủng hoảng có tính hệ thống. Khủng hoảng là do quyền lực tập trung quá lớn vào chính phủ trong sự thiếu vắng một cơ chế kiểm soát hữu hiệu.
Ở các nước dân chủ, quyền kiểm soát này nằm trong tay Quốc hội. Ở Việt Nam, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản nghĩ rằng qua cơ chế “cung vua – phủ chúa”, và từ các cơ chế của Đảng, họ có thể kiểm soát được hoạt động của chính phủ.
Họ đã sai lầm.
Ngay cả khi chính phủ là do đảng cầm quyền dựng nên trong một nhà nước độc đảng thì nó luôn vận hành theo một logic chức năng và quyền hạn mà đảng cầm quyền không thể kiểm soát được. Chỉ có một hệ thống pháp lý hoàn thiện mới có khả năng kiểm soát quyền lực của chính phủ.
Đưa chức năng kiểm soát này về lại với Đảng là một bước đi thụt lùi, phản động.
'Quyền lực không bị kiểm soát'
Có thể trong một thời gian ngắn, bằng một số biện pháp hành chánh nào đó, như “phê và tự phê” chẳng hạn, Đảng có thể kìm hãm sự vô độ của chính phủ nhưng về lâu về dài Đảng sẽ không giải quyết được những khủng hoảng tiếp theo: khủng hoảng pháp lý.
Nên nhớ, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn hoạt động ngoài vòng pháp luật. Cho đến giờ phút này vẫn không tồn tại một đạo luật nào quy định vai trò và trách nhiệm của Đảng đối với chính phủ.
Đáng lẽ ra, thay vì hoảng hốt đưa các ban bệ với chức năng kiểm soát chính phủ đó về lại trong các cơ cấu của Đảng, Đảng nên mạnh dạn chuyển chúng sang cho Quốc hội.
Tại sao phải nặn ra những thứ ban bệ trong khung quyền lực của Đảng khi mà đã tồn tại những ủy ban tương tự như thế ở Quốc hội? Tại sao không để Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội kiểm soát hoạt động kinh tế, tài chính của chính phủ? Tại sao phải không giao cho Ủy ban Pháp lý của Quốc hội trách nhiệm chống tham nhũng?
Đảng phải bước ra khỏi sự sợ hãi mất quyền lực truyền thống để tiếp tục cố gắng xây dựng một hệ thống pháp quyền ở Việt Nam. Việt Nam đang đi trên con đường chuyển từ đảng quyền sang pháp quyền. Quay trở lại lúc này, dù trong giai đoạn khủng hoảng, chứng tỏ những người lãnh đạo Đảng thiếu bản lĩnh.
Trở lại với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: ông Dũng cũng chỉ là nạn nhân của quyền lực không bị kiểm soát. Khủng hoảng do ông gây ra là khủng hoảng định chế.
Cần chuyển hóa định chế chứ không phải chuyển đổi nhân sự. Định chế phải được chuyển hóa theo hướng pháp quyền hóa chứ không phải quay trở lại với đảng quyền hóa đời sống chính trị quốc gia. Những người lãnh đạo Đảng lúc này phải có đủ bản lĩnh và quyết đoán để:
Chặt hết những vây cánh do sự lạm dụng quyền lực tạo nên xung quanh ông Dũng. Trả lại cho Quốc hội quyền kiểm soát quyền lực chính phủ, nhanh chóng thông qua những đạo luật có tính hồi tố để chống tham nhũng. Luật hóa sự tồn tại và quyền lực của Đảng để tránh khủng hoảng pháp lý trong tương lai.
Như đã nói, đảng cầm quyền, ngay cả trong cơ chế độc đảng, không bao giờ có khả năng kiểm soát quyền lực chính phủ của chính nó đẻ ra. Những khủng hoảng hiện nay là sự tiếp tục của chuỗi khủng hoảng mang tính hệ thống đối với những nhà nước độc tài.
Nếu không xây dựng được một hệ thống pháp quyền, với sự chia sẻ và giám sát quyền lực hữu hiệu, Đảng và nhà nước sẽ đi từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác cho đến khi sụp đổ.
Canh bạc của Đảng hiện nay không phải là chuyện ai thắng ai trong “trận chiến Ba-Tư”, hay trong bất cứ xung đột quyền lực và quyền lợi của cá nhân lãnh đạo nào. Canh bạc của Đảng chính là là sự lựa chọn bản lĩnh và thông minh để tiếp tục tồn tại và cầm quyền.
Thời gian của sự lựa chọn này không nhiều.
Bài viết được đăng với sự đồng ý của tác giả, một kỹ sư hiện sống tại Pennsylvania, Hoa Kỳ; và thể hiện quan điểm và văn phong của riêng ông. Quý vị có ý kiến trao đổi, xin gửi về vietnamese@bbc.co.uk
Truyện ngắn: Bùi Duy Tâm và tôi
for everyone
Năm 1964 ông Bùi Duy Tâm từ Mỹ trở về Sài gòn, sau khi hoàn tất học vị Tiến sĩ Y khoa và Tiến sĩ Sinh hoá (Biochemistry). Đầu tiên ông Tâm dạy tại Đại học Y khoa Sài gòn, sau đó ông ra Huế làm Khoa trưởng Đại học Y khoa Huế cho đến cuối năm 1972. Ông rời Huế về Saigon để làm Khoa trưởng Đại học Y khoa Minh Đức. Dạo đó tôi đang làm Hiệu trưởng một trường trung học tại Saigon , cho nên nói về nghề nghiệp, thì tôi với ông cũng là … đồng nghiệp.
Vào năm 1972 ông Tâm cho mở một trung tâm huấn luyện bóng bàn dành cho thiếu nhi trong tòa nhà khánh tiết tại Vận Động Trường Cộng Hòa Sàigòn. Tòa Đại Sứ Tây Đức viện trợ 10 bàn đúng tiêu chuẩn quốc tế. Các em thiếu nhi đến tập dượt không phải trả tiền muớn bàn, mà còn được cấp banh, và nước uống. Ông Tâm cũng xin Bộ Thanh Niên biệt phái danh thủ Mai Văn Hòa và Vũ Đình Nhạc đến chỉ bảo huấn luyện cho các em.
Nhà tôi ở đường Triệu Đà (đối diện với nhà ông Trang sĩ Tấn, nguyên giáo sư trung học, nguyên Chuẩn tướng Giám đốc Nha Cảnh sát Đô thànhSaigon ). Từ nhà tôi đi bộ đến sân vận động Cộng Hoà chỉ có năm mười phút, cho nên vào những buổi chiều, tôi thường xách vợt đến đó chơi ké với các em thiếu nhi. Từ đó tôi có dịp quen biết giáo sư Tâm, vì thỉnh thoảng sau giờ dạy tại đại học Y khoa Saigon, ông Tâm cũng thường lái xe ghé qua để theo dõi sinh hoạt trung tâm bóng bàn.
Quen biết nhau chưa được mấy năm, thì xảy ra biến cố 30 tháng 04, giáo sư Tâm và tôi không hẹn mà gặp trong trại tù cải tạo Trảng Lớn (tỉnh Tây Ninh). Chúng tôi ở trong L3/T2 tức là Trung đoàn 3 Tiểu đoàn 2. Bên kia hàng rào là Tiểu đoàn 1, có luật sư kiêm ca sĩ Khuất Duy Trác, mỗi chiều thường chỉ huy đội hợp ca Tiểu đoàn hát bè các bài nhạc cách mạng.Bên này hàng rào, chúng tôi cũng không thiếu nhân tài. Có giáo sư Đặng thông Phong (chưởng môn Hapkido ở Việt nam), gs Vũ Đình Lục (dạy toán Võ bị Đà lạt), gs Bùi Duy Tâm (khoa trưởng Y khoa Minh Đức), Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt nam Lê Quang Uyển, hoạ sĩ Trịnh Cung Nguyễn văn Tiến, Phan Hải cháu ruột của Phan Mạch (Chủ nhiệm văn phòng Thủ tướng Phạm văn Đồng) và người bạn thân của tôi là giáo sư Phan Đình Hoài (Hoài là cháu ruột của ba ông lớn Cộng sản: Lê Đức Thọ Phan Đình Khải, Mai Chí Thọ Phan Đình Đống và Đinh Đức Thiện Phan Đình Dinh).
Mấy tháng đầu trong tù, chúng tôi chỉ lo đào giếng, cắt tranh lợp nhà, xây cất hội trường và lao động trồng rau xanh. Dự tính đi học 10 ngày rồi về, mà chẳng thấy học hành gì cả. Một buổi chiều, sau khi cơm nước xong, giáo sư Bùi Duy Tâm rũ tôi đi dạo chơi như thường lệ. Chúng tôi đi luồn lách giữa các vườn rau xanh. Khi chỉ còn có hai đứa, giáo sư Tâm khẻ nói: Moa sẽ về trong một hay hai tuần nữa, moa có vài lời khuyên toa.
- Thứ nhất, hãy tập nhịn ăn. Trưóc kia ăn ba bát cơm thì nay tập ăn hai bát hoặc ít hơn, bên ngoài người dân cả nước còn đói, huống chi bọn tù như mình.
- Thứ hai, hãy tập nhịn nói, vì trong tù đầy rẫy bọn ăn ten. Càng nói nhiều càng mang hoạ vào thân.
- Thứ ba, toa hãy ráng giữ gìn sức khoẻ, giữ vững tinh thần, để chờ ngày về với gia đình. Có thể toa sẽ phải học tập trong hai ba năm hay lâu hơn nữa. Hãy giữ vệ sinh để tránh bệnh tật. Ở đây mắc bệnh thì chỉ có chết.
Tôi ngạc nhiên về những thông báo của anh, làm sao anh biết anh sẽ về, làm sao anh biết tôi sẽ học tập trong vài ba năm. Giáo sư Tâm cho biết trước ngày mất miền Nam, anh có viết một dự án xin nước Pháp tài trợ và trang bị một phòng thí nghiệm y khoa, một thư viện cho đại học Minh Đức và Pháp đã chấp thuận. Bây giờ “Cách mạng” cần anh về để làm thủ tục nhận lãnh các quà tặng này.
Giáo sư Tâm cũng cho biết trong gia đình anh có một người thân làm lớn trong chính quyền mới, người này đã báo cho anh biết rõ chính sách và thời gian cải tạo “ngụy quân ngụy quyền” và cũng chính người thân này đã “đứng tên” giùm nhà cửa, xe ô tô của anh trước khi anh đi trình diện học tập.Quả thật, đúng hai tuần sau, giáo sư Tâm xách hành trang cá nhân lên trình diện Tiểu đoàn. Anh chỉ kịp dúi cho tôi một bao thuốc tây gồm một ít thuốc cảm, thuốc ho và kiết lỵ là những thứ tối cần cho người tù cải tạo.
Ba năm sau, tôi được tạm tha trở về thành phố mang tên Bác. Tôi gặp lại giáo sư Tâm đi dạy đại học Nha Y Dược. Anh mặc áo sơ mi trắng, bỏ bên ngoài chiếc quần tây màu cứt ngựa. Anh cỡi xe đạp đến trường, vai mang xắc cốt, trông không khác gì một anh cán ngố miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Mấy năm sau, khi đã định cư ở Úc, tôi lại nghe nhiều tin giật gân về giáo sư Tâm. Anh đã định cư ở Hoa kỳ. Anh leo lên núi Mont Blanc cao hơn 4800 mét và là người Việt nam đầu tiên lên Bắc cực (có giấy chứng nhận của Cơ quan Quản lý Bắc cực). Anh còn ra vào Việt nam nhiều lần để môi giới bán giúp Cộng sản Việt nam kho đạn Long Bình. Rồi giáo sư Tâm đi biển Đồ sơn chơi với nữ văn sĩ Dương Thu Hương và bà Hương đã thu băng những lời “hàn huyên” của ông Tâm. Chính nhờ những cuồn băng này mà bà Dương thu Hương không bị Cộng sản Việt nam “thủ tiêu”.
Đến đây tôi xin mời độc giả xem trích đoạn bài văn do chính bà Dương thu Hương viết: “Trời đã giúp tôi thành công. Trong chuyến đi chơi Sông Ðà với các ông Bùi Duy Tâm và Bùi Duy Tuấn, tôi đã mất 3 cuốn băng ghi toàn những chuyện ba hoa, hươu vượn. Nhưng vào đoạn chót của cuốn băng thứ 4 ông Tâm đã thú nhận: Anh đã cho Dương Thông * rất nhiều tiền
Sau chuyến đi đó chừng vài ngày, họ bắt tôi . Trong thời gian ấy tôi đã kịp sao băng ghi âm ra vài bản, gửi ra 3 nước: Pháp, Tiệp và Mỹ. Do sự can thiệp của chính phủ Pháp, đặc biệt là bà Daniel Mitterand và phong trào nhân quyền thế giới, ngày 20/11 họ buộc phải thả tôi ra, sau gần 8 tháng giam giữ không xét xử.
Lúc đó ông Bùi Thiện Ngộ là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ông Ngộ cử thiếu tá Sơn tới gặp tôi:
- Theo đúng pháp luật thì chị có quyền kiện Nhà nước. Nhưng Bộ trưởng muốn tìm một khả năng mềm dẻo hơn có lợi cho cả 2 bên. Tôi cười . Tôi hiểu cái sự kiện tụng ở xứ sở này ra sao. Tôi yêu cầu cuộc thanh toán với Dương Thông. Bộ Nội vụ chấp thuận.
Vào mùa Xuân năm 1992, đại diện của Bộ Nội vụ là ông Bùi Quốc Huy (tức Năm Huy) - Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, tiếp tôi có sự tham gia của Ðại tá Nguyễn Công Nhuận, người ký lệnh bắt và phụ trách nhóm người tra hỏi tôi trong nhà giam.
Trong cuộc gặp này, tôi nói: Tôi hiểu rất rành rọt tôi đang chơi trò trứng chọi đá. Bởi thế, lúc nào tôi cũng chuẩn bị cho cái chết của tôi . Tuy nhiên, tôi lại không ưa chết một mình. Nên tôi cũng trù liệu để sau cái chết của tôi, ít nhất cũng phải có dăm bảy đứa khác phải chết theo để tiếp tục chiến đấu dưới âm phủ, nếu không dưới đó rất buồn. Tôi có vũ khí của tôi. Trong tay tôi có 2 cuộn băng ghi âm. Cuộn thứ nhất liên quan tới một trong những kẻ tạo dựng ra Nhà nước này, sư tổ của những người như ông. Nó tố cáo nhân cách một trong các bậc lương đống của triều đình chỉ là loài đểu giả, tâm tính hiểm ác, vô luân. Cuộn thứ 2, chắc ông cũng đoán được, ghi lại cuộc nói chuyện của ông Bùi Duy Tâm với tôi, trong đó ông Tâm khẳng định là đã cho ông Dương Thông rất nhiều tiền. Đấy hẳn là món thù lao cho việc ông Dương Thông đã 2 lần cứu ông Tâm ra khỏi trại giam, thêm nữa, đón rước ông Tâm đi tới tất cả những lầu cao thềm rộng từ dinh cơ bà Nguyễn Thị Ðịnh tới Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng, từ nhà riêng các vị chóp bu Nhà nước xuống tới đám quan chức kề cận, để bàn định những đại sự như bán kho vũ khí Long Bình, bán dầu thô và những nguyên liệu khác...
Như vậy tôi có trong tay bằng chứng về người tiền nhiệm của ông, gương mặt tiêu biểu cho quyền lực của chế độ này .
Hai băng ghi âm đó đã được chuyển tới 3 nước: Pháp, Tiệp, Mỹ. Nếu các ông đủ lực xin cứ việc truy tìm. Nhưng tôi không tin điều ấy. Các ông không có tiền. Nhân viên sứ quán Việt Nam ở nước ngoài đơn thuần là bọn buôn lậu, quay cuồng trong cơn lốc cóp nhặt đô la. Ở nước ngoài, các ông bất lực.
Còn ở đây, các ông có thể tổ chức tai nạn xe máy để kẹp chết tôi, có thể đầu độc tôi, có thể làm bất cứ một điều gì khác nữa nhưng vào thời điểm tôi chết, chắc chắn phải có kẻ đồng hành. Không tức thời, nhưng sớm hay muộn cũng sẽ có. Và thêm nữa, những người thân của tôi ngoài biên giới sẽ lần lượt công bố các cuốn băng kia.
Cả 2 người đàn ông lặng thinh rồi một người mở chai nước, một người mời tôi ăn nho . Họ hỏi tôi về sức khoẻ, con cái, nhà cửa ... làm như là một cuộc tán gẫu giữa mấy người hàng xóm. Tuy nhiên, tôi chẳng phải là một đứa bé nên tôi hiểu cái thái độ người thường gọi là: đánh trống lảng... ấy . Bất cứ kẻ đạo đức giả nào cũng sợ sự thật. Tất thảy mọi quốc gia, mọi thể chế đều có bọn đạo đức giả. Nhưng chắc chắn, không ở đâu con người buộc phải trở thành đạo đức giả như ở đây, một xứ sở mang xiềng xích của 2 thể chế: Phong kiến và Cộng sản.
Trước khi về, tôi nói thêm: Xin nhắc lại rằng, tôi đứng trước guồng máy của các ông chỉ là trứng chọi đá. Nhưng vì đã dấn thân vào cuộc chơi này, tôi bắt buộc phải học lấy vài món nghề của các ông. Vậy, các ông theo rõi tôi, tôi cũng theo rõi lại các ông. Tôi biết ông (Năm Huy) thường uống rượu ở đâu, chơi gái ở đâu . Trong hội Quý Mùi (những người sinh năm 1943) ông vẫn tụ họp với những ai và đem theo loại rượu nào. Thành thực mà nói, trên phương diện này, đôi khi trứng còn mạnh hơn đá. Các ông rất nhiều tiền, các ông thèm khát sống, thèm uống rượu Tây, thèm chơi gái, thèm xây nhà lầu ... Tôi là kẻ phá sản, tôi không uống rượu cũng không chơi điếm, tôi có thứ sức mạnh mà sư tổ của các ông thường vẫn gọi "sức mạnh của giai cấp vô sản". Riêng về luận điểm này, tôi thấy Mác đúng. Bởi vì, nói một cách sòng phẳng, với tất cả những thèm muốn ấy các ông sợ chết hơn tôi”. (Hết trích).
Đọc qua đoạn văn trên của bà Dương thu Hương, tôi quả thật nể nang giáo sư Tâm. Từ một người tù cải tạo, anh giao du với Bộ Trưởng Công an Việt cộng. Anh dùng đô la Mỹ để mua chuộc và lèo lái cái đám lãnh tụ Bắc Bộ phủ vào quỷ đạo của anh. Cũng may nhờ cơ duyên gặp gỡ anh, mà bà Dương thu Hương đã có được những cuồn băng ghi âm quý giá. Những cuồn băng này đã giúp bà Hương tránh được cái chết (vì tai nạn giao thông như bà Nông thị Xuân, vợ bác Hồ) và được định cư tại Pháp quốc.
Ngày xưa trong tù, giáo sư Tâm đã khuyên tôi ba điều: nhịn ăn, nhịn nói và giữ gìn sức khoẻ. Ngày nay, tôi chỉ xin nhắc nhở ông Tâm một điều “tên anh là Duy Tâm, xin anh hãy cẩn trọng khi giao du với những con người Duy Vật”.
Nguyễn Đồng Danh.
Vào năm 1972 ông Tâm cho mở một trung tâm huấn luyện bóng bàn dành cho thiếu nhi trong tòa nhà khánh tiết tại Vận Động Trường Cộng Hòa Sàigòn. Tòa Đại Sứ Tây Đức viện trợ 10 bàn đúng tiêu chuẩn quốc tế. Các em thiếu nhi đến tập dượt không phải trả tiền muớn bàn, mà còn được cấp banh, và nước uống. Ông Tâm cũng xin Bộ Thanh Niên biệt phái danh thủ Mai Văn Hòa và Vũ Đình Nhạc đến chỉ bảo huấn luyện cho các em.
Nhà tôi ở đường Triệu Đà (đối diện với nhà ông Trang sĩ Tấn, nguyên giáo sư trung học, nguyên Chuẩn tướng Giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành
Quen biết nhau chưa được mấy năm, thì xảy ra biến cố 30 tháng 04, giáo sư Tâm và tôi không hẹn mà gặp trong trại tù cải tạo Trảng Lớn (tỉnh Tây Ninh). Chúng tôi ở trong L3/T2 tức là Trung đoàn 3 Tiểu đoàn 2. Bên kia hàng rào là Tiểu đoàn 1, có luật sư kiêm ca sĩ Khuất Duy Trác, mỗi chiều thường chỉ huy đội hợp ca Tiểu đoàn hát bè các bài nhạc cách mạng.Bên này hàng rào, chúng tôi cũng không thiếu nhân tài. Có giáo sư Đặng thông Phong (chưởng môn Hapkido ở Việt nam), gs Vũ Đình Lục (dạy toán Võ bị Đà lạt), gs Bùi Duy Tâm (khoa trưởng Y khoa Minh Đức), Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt nam Lê Quang Uyển, hoạ sĩ Trịnh Cung Nguyễn văn Tiến, Phan Hải cháu ruột của Phan Mạch (Chủ nhiệm văn phòng Thủ tướng Phạm văn Đồng) và người bạn thân của tôi là giáo sư Phan Đình Hoài (Hoài là cháu ruột của ba ông lớn Cộng sản: Lê Đức Thọ Phan Đình Khải, Mai Chí Thọ Phan Đình Đống và Đinh Đức Thiện Phan Đình Dinh).
Mấy tháng đầu trong tù, chúng tôi chỉ lo đào giếng, cắt tranh lợp nhà, xây cất hội trường và lao động trồng rau xanh. Dự tính đi học 10 ngày rồi về, mà chẳng thấy học hành gì cả. Một buổi chiều, sau khi cơm nước xong, giáo sư Bùi Duy Tâm rũ tôi đi dạo chơi như thường lệ. Chúng tôi đi luồn lách giữa các vườn rau xanh. Khi chỉ còn có hai đứa, giáo sư Tâm khẻ nói: Moa sẽ về trong một hay hai tuần nữa, moa có vài lời khuyên toa.
- Thứ nhất, hãy tập nhịn ăn. Trưóc kia ăn ba bát cơm thì nay tập ăn hai bát hoặc ít hơn, bên ngoài người dân cả nước còn đói, huống chi bọn tù như mình.
- Thứ hai, hãy tập nhịn nói, vì trong tù đầy rẫy bọn ăn ten. Càng nói nhiều càng mang hoạ vào thân.
- Thứ ba, toa hãy ráng giữ gìn sức khoẻ, giữ vững tinh thần, để chờ ngày về với gia đình. Có thể toa sẽ phải học tập trong hai ba năm hay lâu hơn nữa. Hãy giữ vệ sinh để tránh bệnh tật. Ở đây mắc bệnh thì chỉ có chết.
Tôi ngạc nhiên về những thông báo của anh, làm sao anh biết anh sẽ về, làm sao anh biết tôi sẽ học tập trong vài ba năm. Giáo sư Tâm cho biết trước ngày mất miền Nam, anh có viết một dự án xin nước Pháp tài trợ và trang bị một phòng thí nghiệm y khoa, một thư viện cho đại học Minh Đức và Pháp đã chấp thuận. Bây giờ “Cách mạng” cần anh về để làm thủ tục nhận lãnh các quà tặng này.
Giáo sư Tâm cũng cho biết trong gia đình anh có một người thân làm lớn trong chính quyền mới, người này đã báo cho anh biết rõ chính sách và thời gian cải tạo “ngụy quân ngụy quyền” và cũng chính người thân này đã “đứng tên” giùm nhà cửa, xe ô tô của anh trước khi anh đi trình diện học tập.Quả thật, đúng hai tuần sau, giáo sư Tâm xách hành trang cá nhân lên trình diện Tiểu đoàn. Anh chỉ kịp dúi cho tôi một bao thuốc tây gồm một ít thuốc cảm, thuốc ho và kiết lỵ là những thứ tối cần cho người tù cải tạo.
Ba năm sau, tôi được tạm tha trở về thành phố mang tên Bác. Tôi gặp lại giáo sư Tâm đi dạy đại học Nha Y Dược. Anh mặc áo sơ mi trắng, bỏ bên ngoài chiếc quần tây màu cứt ngựa. Anh cỡi xe đạp đến trường, vai mang xắc cốt, trông không khác gì một anh cán ngố miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Mấy năm sau, khi đã định cư ở Úc, tôi lại nghe nhiều tin giật gân về giáo sư Tâm. Anh đã định cư ở Hoa kỳ. Anh leo lên núi Mont Blanc cao hơn 4800 mét và là người Việt nam đầu tiên lên Bắc cực (có giấy chứng nhận của Cơ quan Quản lý Bắc cực). Anh còn ra vào Việt nam nhiều lần để môi giới bán giúp Cộng sản Việt nam kho đạn Long Bình. Rồi giáo sư Tâm đi biển Đồ sơn chơi với nữ văn sĩ Dương Thu Hương và bà Hương đã thu băng những lời “hàn huyên” của ông Tâm. Chính nhờ những cuồn băng này mà bà Dương thu Hương không bị Cộng sản Việt nam “thủ tiêu”.
Đến đây tôi xin mời độc giả xem trích đoạn bài văn do chính bà Dương thu Hương viết: “Trời đã giúp tôi thành công. Trong chuyến đi chơi Sông Ðà với các ông Bùi Duy Tâm và Bùi Duy Tuấn, tôi đã mất 3 cuốn băng ghi toàn những chuyện ba hoa, hươu vượn. Nhưng vào đoạn chót của cuốn băng thứ 4 ông Tâm đã thú nhận: Anh đã cho Dương Thông * rất nhiều tiền
Sau chuyến đi đó chừng vài ngày, họ bắt tôi . Trong thời gian ấy tôi đã kịp sao băng ghi âm ra vài bản, gửi ra 3 nước: Pháp, Tiệp và Mỹ. Do sự can thiệp của chính phủ Pháp, đặc biệt là bà Daniel Mitterand và phong trào nhân quyền thế giới, ngày 20/11 họ buộc phải thả tôi ra, sau gần 8 tháng giam giữ không xét xử.
Lúc đó ông Bùi Thiện Ngộ là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ông Ngộ cử thiếu tá Sơn tới gặp tôi:
- Theo đúng pháp luật thì chị có quyền kiện Nhà nước. Nhưng Bộ trưởng muốn tìm một khả năng mềm dẻo hơn có lợi cho cả 2 bên. Tôi cười . Tôi hiểu cái sự kiện tụng ở xứ sở này ra sao. Tôi yêu cầu cuộc thanh toán với Dương Thông. Bộ Nội vụ chấp thuận.
Vào mùa Xuân năm 1992, đại diện của Bộ Nội vụ là ông Bùi Quốc Huy (tức Năm Huy) - Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, tiếp tôi có sự tham gia của Ðại tá Nguyễn Công Nhuận, người ký lệnh bắt và phụ trách nhóm người tra hỏi tôi trong nhà giam.
Trong cuộc gặp này, tôi nói: Tôi hiểu rất rành rọt tôi đang chơi trò trứng chọi đá. Bởi thế, lúc nào tôi cũng chuẩn bị cho cái chết của tôi . Tuy nhiên, tôi lại không ưa chết một mình. Nên tôi cũng trù liệu để sau cái chết của tôi, ít nhất cũng phải có dăm bảy đứa khác phải chết theo để tiếp tục chiến đấu dưới âm phủ, nếu không dưới đó rất buồn. Tôi có vũ khí của tôi. Trong tay tôi có 2 cuộn băng ghi âm. Cuộn thứ nhất liên quan tới một trong những kẻ tạo dựng ra Nhà nước này, sư tổ của những người như ông. Nó tố cáo nhân cách một trong các bậc lương đống của triều đình chỉ là loài đểu giả, tâm tính hiểm ác, vô luân. Cuộn thứ 2, chắc ông cũng đoán được, ghi lại cuộc nói chuyện của ông Bùi Duy Tâm với tôi, trong đó ông Tâm khẳng định là đã cho ông Dương Thông rất nhiều tiền. Đấy hẳn là món thù lao cho việc ông Dương Thông đã 2 lần cứu ông Tâm ra khỏi trại giam, thêm nữa, đón rước ông Tâm đi tới tất cả những lầu cao thềm rộng từ dinh cơ bà Nguyễn Thị Ðịnh tới Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng, từ nhà riêng các vị chóp bu Nhà nước xuống tới đám quan chức kề cận, để bàn định những đại sự như bán kho vũ khí Long Bình, bán dầu thô và những nguyên liệu khác...
Như vậy tôi có trong tay bằng chứng về người tiền nhiệm của ông, gương mặt tiêu biểu cho quyền lực của chế độ này .
Hai băng ghi âm đó đã được chuyển tới 3 nước: Pháp, Tiệp, Mỹ. Nếu các ông đủ lực xin cứ việc truy tìm. Nhưng tôi không tin điều ấy. Các ông không có tiền. Nhân viên sứ quán Việt Nam ở nước ngoài đơn thuần là bọn buôn lậu, quay cuồng trong cơn lốc cóp nhặt đô la. Ở nước ngoài, các ông bất lực.
Còn ở đây, các ông có thể tổ chức tai nạn xe máy để kẹp chết tôi, có thể đầu độc tôi, có thể làm bất cứ một điều gì khác nữa nhưng vào thời điểm tôi chết, chắc chắn phải có kẻ đồng hành. Không tức thời, nhưng sớm hay muộn cũng sẽ có. Và thêm nữa, những người thân của tôi ngoài biên giới sẽ lần lượt công bố các cuốn băng kia.
Cả 2 người đàn ông lặng thinh rồi một người mở chai nước, một người mời tôi ăn nho . Họ hỏi tôi về sức khoẻ, con cái, nhà cửa ... làm như là một cuộc tán gẫu giữa mấy người hàng xóm. Tuy nhiên, tôi chẳng phải là một đứa bé nên tôi hiểu cái thái độ người thường gọi là: đánh trống lảng... ấy . Bất cứ kẻ đạo đức giả nào cũng sợ sự thật. Tất thảy mọi quốc gia, mọi thể chế đều có bọn đạo đức giả. Nhưng chắc chắn, không ở đâu con người buộc phải trở thành đạo đức giả như ở đây, một xứ sở mang xiềng xích của 2 thể chế: Phong kiến và Cộng sản.
Trước khi về, tôi nói thêm: Xin nhắc lại rằng, tôi đứng trước guồng máy của các ông chỉ là trứng chọi đá. Nhưng vì đã dấn thân vào cuộc chơi này, tôi bắt buộc phải học lấy vài món nghề của các ông. Vậy, các ông theo rõi tôi, tôi cũng theo rõi lại các ông. Tôi biết ông (Năm Huy) thường uống rượu ở đâu, chơi gái ở đâu . Trong hội Quý Mùi (những người sinh năm 1943) ông vẫn tụ họp với những ai và đem theo loại rượu nào. Thành thực mà nói, trên phương diện này, đôi khi trứng còn mạnh hơn đá. Các ông rất nhiều tiền, các ông thèm khát sống, thèm uống rượu Tây, thèm chơi gái, thèm xây nhà lầu ... Tôi là kẻ phá sản, tôi không uống rượu cũng không chơi điếm, tôi có thứ sức mạnh mà sư tổ của các ông thường vẫn gọi "sức mạnh của giai cấp vô sản". Riêng về luận điểm này, tôi thấy Mác đúng. Bởi vì, nói một cách sòng phẳng, với tất cả những thèm muốn ấy các ông sợ chết hơn tôi”. (Hết trích).
Đọc qua đoạn văn trên của bà Dương thu Hương, tôi quả thật nể nang giáo sư Tâm. Từ một người tù cải tạo, anh giao du với Bộ Trưởng Công an Việt cộng. Anh dùng đô la Mỹ để mua chuộc và lèo lái cái đám lãnh tụ Bắc Bộ phủ vào quỷ đạo của anh. Cũng may nhờ cơ duyên gặp gỡ anh, mà bà Dương thu Hương đã có được những cuồn băng ghi âm quý giá. Những cuồn băng này đã giúp bà Hương tránh được cái chết (vì tai nạn giao thông như bà Nông thị Xuân, vợ bác Hồ) và được định cư tại Pháp quốc.
Ngày xưa trong tù, giáo sư Tâm đã khuyên tôi ba điều: nhịn ăn, nhịn nói và giữ gìn sức khoẻ. Ngày nay, tôi chỉ xin nhắc nhở ông Tâm một điều “tên anh là Duy Tâm, xin anh hãy cẩn trọng khi giao du với những con người Duy Vật”.
Nguyễn Đồng Danh.
(* Dương Thông là Trung tướng Công an Việt Cộng).
![]() | 05 tháng 3, 2010 |
LTS: Tòa soạn nhận được bài viết sau đây khi được phổ biến rộng rãi trên các chuỗi email. Câu chuyện trùng hợp với những chuyện đã thu âm, thu hình, và chứng nghiệm bởi nhiều cá nhân khác nhau. Những hiện tượng trong việc các nhà ngoại cảm tiếp xúc với cõi âm gần giống như việc cầu cơ đã được nhiều người từng trải. Câu chuyện đưa ra một đề tài khá thú vị về hồn, vía, và linh, những từ ngữ nghe gần gũi với đạo "ông bà". "Ông bà phù hộ", "vong linh người quá cố" đã từng là những cụm từ quen thuộc của người Á đông chúng ta, rất đậm đà tình nghĩa giữa liên hệ con người trong xã hội. Dù các nhà ngoại cảm đã tạo nên những hiện tượng khó hiểu cho những người bình thường, câu chuyện cho thấy rằng các vong hồn không hề làm chuyện tà thuật hay huyễn hoặc nào, họ chỉ nhớ, thấy hoặc biết những điều đã hay đang xảy ra mà họ chứng kiến.
Đã có một số bài nghiên cứu đó đây liên kết những hiện tượng cõi âm với một vài hiện tượng vật lý, một sự kiện khoa học nào đó như trường hay sóng chẳng hạn, cộng với các hoạt động của tâm lý, của tri giác tạo nên cái mà người ta thường gọi là thần thức, vong linh, hay vía,.... Những hiện tượng gây ra do "khả năng" của những vong linh, kể cả chiêm bao, cầu cơ, ngoại cảm,.. dù xảy ra như thật, nhưng khó nghiên cứu một cách khoa học, vì chính các "hiện tượng" này không có hình tướng nhất định. Mặc dù đề tài vẫn là mối ưu tư của các tôn giáo nhưng càng ngày càng được xem như một nghi vấn khoa học. Tuy chưa có giải đáp rõ nét nhưng cũng không thể nói rằng sẽ không có giải đáp trong tương lai khi kỹ thuật tiến bộ đủ để giúp cho việc nghiên cứu dễ dàng hơn. (SH)
Người ta đã sinh ra thì tất sẽ chết. Nên mọi người đều rất quan tâm và đa số sợ chết. Do đó sinh ra các triết nhân và triết thuyết về cái chết, các thánh nhân và tôn giáo về thiên đàng, địa ngục, các mê tín dị đoan về ma quỷ.
Chúng tôi cũng như mọi người thường suy nghĩ về Cái chết, về Linh hồn, về Cõi đời sau khi chết, nhưng hơi nhiều hơn mọi người.
Tôi, Bùi Duy Tâm, sinh ra trong một gia đình ba đời theo Đạo Thiên Chúa, đã đọc Thánh Kinh (Cựu Ước và Tân Ước) ba lần, đi nhà thờ rất đều mỗi sáng chủ nhật cho đến năm 30 tuổi. Sau này làm bạn tâm giao với cố Linh mục Bửu Dưỡng và Hoà thượng Thích Mãn Giác, nên tôi có điều kiện đàm luận về Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Tôi đã được hiểu cái tinh tuý của Lý Dịch và Đạo Nho với cố Bác sĩ Nguyễn Văn Ba. Tôi đã đọc rất kỹ các cuốn Tử Thư của Ai Cập và Tây Tạng cũng như nhiều sách khác cùng loại. Tôi đã sang Ai Cập, Ấn Độ, Tây Tạng… để tìm hiểu thêm về Huyền Bí Học và Siêu Hình Học. Nhưng tất cả đều mù mờ về “Linh hồn” và “Cõi đời sau khi chết”. Không có đủ chứng cứ cụ thể có thể thuyết phục tôi. Tôi không chấp nhận các giáo điều của chính trị và tôn giáo. Tôi không yên tâm với tín ngưỡng và chán ngấy các loại sách viết huyên thuyên xích đế chẳng có gì cụ thể.
Tôi trở thành một người theo phái bất khả tri: “Con người nhận biết thế giới và vũ trụ với khả năng rất giới hạn nên không thể biết được sự tuyệt đối về Thượng Đế, Linh hồn và Cõi đời sau khi chết”.
Và như vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu sự hiện hữu của Linh hồn và Cõi Âm của tôi chưa đi đến đâu cả, chưa thấy một sự kiện gì đủ thực tế để bấu víu.
Đầu thế kỷ 21, tình cờ cầm tờ Y Tế Nguyệt San số 5, tháng 5, 2001 của Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ và đọc bài viết “Thế giới vô hình và việc tìm kiếm mồ mả ở Việt Nam” của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên (nguyên Phó thủ tướng đặc trách Văn hoá, Giáo dục, Y tế, Xã hội thời Việt Nam Cộng Hoà). Trong bài báo, Bác sĩ Viên tả lại việc tìm mộ gia đình của Kỹ sư Trần Lưu Cung (nguyên Tổng giám đốc Giáo dục kỹ thuật và Thứ trưởng Đại học thời Việt Nam Cộng Hoà) do hướng dẫn của các nhà ngoại cảm (ông Ngà, cậu Liên, cậu Nguyện…). Các nhà ngoại cảm tìm mộ đều nói chính vong linh của người quá cố đã chỉ cho họ những chi tiết để hướng dẫn gia đình tìm mộ. Đặc biệt trong bài báo, Bác sĩ Viên còn đề cập đến bài tự thuật “Tôi đi gặp người thân đã mất (vong) tại nhà cô Phương ở Bắc cầu Hàm Rồng tỉnh Thanh Hoá <http://linhhon. co.cc/bo- blog/editor/ tinymce/news. aspx?nid= 153> ” của Trung tướng Nguyễn Hùng Phong, nguyên Phó tư lệnh chính trị và Bí thư Đảng uỷ Quân khu 1. Ông Phong đã tường thuật lại việc ngày 16-12-1999 đến nhờ cô Phương giúp cho được gặp lại vong linh của vợ là bà Vũ Thị Hạnh, nguyên Trưởng phòng Giáo dục quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, đã mất đột ngột tại nơi làm việc tháng 3 năm 1999 do bệnh tim…
Sau khi đọc xong bài báo, tôi mừng quá, liền gọi điện thoại ngay cho ông Trần Lưu Cung. Ông Cung xác nhận sự kỳ diệu của việc tìm mộ và còn gửi cho tôi xấp tài liệu riêng của gia đình kèm theo rất nhiều hình ảnh.
Sau khi đọc xong bài báo, tôi mừng quá, liền gọi điện thoại ngay cho ông Trần Lưu Cung. Ông Cung xác nhận sự kỳ diệu của việc tìm mộ và còn gửi cho tôi xấp tài liệu riêng của gia đình kèm theo rất nhiều hình ảnh.
Như vậy là đề tài “Linh hồn và Cõi âm” đã có cơ hội hé mở sau bao thất vọng. Còn đợi gì nữa mà không về Việt Nam, đến cầu Hàm Rồng để tìm gặp cô Phương cho ra nhẽ?
۞۞۞
Tháng 10 năm 2003 tôi về Hà Nội để làm lễ Cửu Tuần Đại Thọ cho mẹ tôi. Tới Hà Nội đêm hôm trước, thì sáng sớm hôm sau tôi lên đường đi Thanh Hoá để gặp cô Phương. Tôi mời mẹ tôi đi cùng, lấy cớ đưa mẹ đi Sầm Sơn để ôn lại các kỷ niệm xưa. Trước khi rời Hà Nội, mẹ con tôi ghé lại tiệm may áo dài. Tôi mang từ Mỹ về xấp vải nhung đỏ để may cho mẹ một áo dài mặc trong lễ Cửu Tuần Đại Thọ sắp tới.

Cầu Hàm Rồng
Trên đường đi Thanh Hoá, tôi ghé vào em Bùi Duy Tuấn nhằm cầu xin cha tôi (mất năm 1990 tại Sài Gòn) về điện cô Phương, cầu Hàm Rồng để các con và mẹ được gặp cha. Chúng tôi không dám nói với mẹ mục đích của chuyến đi vì mẹ tôi sùng Đạo Chúa (Tin Lành), không chấp nhận những chuyện “ma quỷ” như vậy.
Khi đến nơi, hai anh em tôi thấy quang cảnh đúng như trong bài báo của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên: Khoảng 30-40 người ngồi im lặng, nghiêm chỉnh, có vẻ lo âu chờ đợi trước một cánh cửa đóng kín. Một người đàn bà (sau này tôi biết là chị chồng cô Phương) dáng mập ngồi chắn trước cửa, thỉnh thoảng hô lên “Nhà ai có vong tên… thì vào”. Thế là vài ba người hay dăm bảy người mừng rỡ hấp tấp đi vào…
Chúng tôi mời mẹ vào ăn sáng tại một nhà nghỉ khá lớn ở ngay trước điện cô Phương (nhà nghỉ này của nhà chồng cô Phương tiếp các khách ở xa đến phải chờ đợi vong nhà mình có khi tới ba ngày, cả tuần lễ hay đôi khi thiếu may mắn không gặp được vong, đành phải ra về tay không). Hai anh em tôi lén đi thắp nhang trước điện để cầu khẩn cha tôi về theo thủ tục như mọi người. Thỉnh thoảng cửa hé mở để dăm ba người đi ra. Người thì tỏ ra hớn hở. Người thì nước mắt sụt sùi.
Tôi sốt ruột đi hỏi xem có phải đăng ký hay làm thủ tục gì nữa không, thì mọi người đều xác nhận không phải làm gì cả, mà cứ kiên nhẫn ngồi chờ. Khi vong nhà mình về thì người ta gọi vào.
Tôi thắc mắc là tôi chưa khai tên của cha tôi thì ai biết mà gọi. Mọi người cười, chế nhạo tôi là hỏi thật ngớ ngẩn!
Chúng tôi chờ từ 10 giờ sáng đến ba giờ chiều thì người đàn bà ngồi trước cửa đứng lên nói to: “Cô Phương nghỉ làm. Xin mời quý vị ngày mai trở lại”. Thế là anh em tôi ngao ngán cùng với vài ba chục người đứng dậy ra về.
Chúng tôi đưa mẹ ra Sầm Sơn nghỉ ngơi và thăm lại cảnh xưa chốn cũ. Thật cảm động khi trở về nơi mà tôi đã sống những ngày thơ ấu cách đây hơn nửa thế kỷ (gần 60 năm).
Sáng hôm sau chúng tôi trở lại điện cô Phương. Lần này chúng tôi phải thú thật với mẹ chuyện hai anh em đang làm. Mẹ tôi dẫy nảy lên: “Đến chỗ ma quỷ! Tao không vào đâu!”. Chúng tôi lại phải đành mời mẹ ngồi ăn sáng ở nhà nghỉ như ngày hôm trước.
Lần này tôi sốt ruột lắm rồi. Tôi đi ra đi vào, hỏi chuyện người này người nọ. Tôi gặp bố mẹ chồng cô Phương. Ông Nghinh (bố chồng) mời tôi uống nước, đang kể chuyện cô Phương thì bỗng nghe có tiếng gọi: “Bà Tỉnh đâu, người nhà ông Tỉnh đâu?” (cha tôi tên là Bùi Văn Tĩnh, nhưng vì nói giọng Thanh Hoá nên nghe gọi tên là Tỉnh). Phải gọi đến vài ba lần thì anh em tôi mới biết là gọi mình. Tôi chạy tới cánh cửa. Em Tuấn chạy ra hối hả gọi mẹ: “Mợ ơi, Cậu về gọi mợ đấy!”. Mẹ tôi hốt hoảng đứng bật dậy chạy theo em tôi, quên mất lập trường chống ma quỷ của mình.
Qua cánh cửa, chúng tôi bước vào một căn phòng khá rộng rãi, trống rỗng. Ngoài cái bệ trên tường để trái cây và các phong bì (chắc là tiền thưởng), thì không có bàn thờ hay trang trí gì khác của một cái am, cái điện. Cô Phương ăn mặc diêm dúa như các cô gái Hà Nội, mặt hoa da phấn, đang ngồi tỉnh táo trên chiếu cùng với một gia đình đông trên chục người. Cô cất tiếng: “Gọi mãi mà các bác không vào, nên vong nhà khác tranh vào trước. Thôi, các bác vui lòng ngồi chờ nhé!”.
Thế cũng tốt, chúng tôi có dịp được quan sát thêm. Cô Phương gọi tên hết người này đến người nọ trong gia đình ngồi chung quanh cô. Khi gọi trúng tên ai thì giơ tay thưa: “Dạ, con đây (hay em đây, cháu đây…)”. Và người đó nói chuyện với vong (qua miệng cô Phương). Tôi nghe thấy đa số trả lời: “Dạ, đúng vậy…” có vẻ cung kính lắm.
Có một chuyện cười ra nước mắt. Vong gọi: “Thằng Thanh đâu?”. Một thanh niên chừng 25 tuổi đứng bật dậy: “Dạ, con đây!”. Vong nói: “Mày không biết thương vợ con. Mày tằng tịu với con Mai ở cùng cơ quan”. Chàng thanh niên sợ hãi líu ríu nhận tội. Người phụ nữ ngồi cạnh (chắc là vợ) oà lên khóc nức nở. Sau gần một giờ, gia đình đó mới kéo nhau ra.
Bỗng cô Phương nhìn chằm chằm vào mẹ tôi rồi kêu to lên: “Mợ ơi! Con của Mợ đây! Thắng đây! (Thắng là đứa em út của chúng tôi, mất lúc chưa đầy một tuổi.)
Mẹ tôi vừa xúc động vừa ngạc nhiên: “Trời ơi! Con tôi… Nhưng con mất từ hồi mới… tám tháng…”.
Vong nói qua miệng cô Phương: “Bây giờ con lớn rồi. Hôm qua con biết Mợ và hai anh đến, nhưng con phải đi mời Cậu. Cậu không chịu về. Con phải nói: Mợ già yếu, còn anh Tâm ở xa về nên Cậu mới chịu. Cậu và Ông Nội cũng về đây với con”.
Rồi quay sang phía hai anh em tôi, cô Phương nói: “Hai anh chẳng nhớ gì đến em. Hai anh chỉ khấn Cậu thôi!”.
Đúng vậy! Chúng tôi đâu có nghĩ đến thằng em út đã mất từ lúc tám tháng. Thật bất ngờ cho chúng tôi.
Quay trở lại mẹ tôi, cô Phương nói: “Con thích tên là Bùi Duy Thắng như các anh con là Bùi Duy Tâm, Bùi Duy Tuấn. Sao Mợ lại đặt tên con là Bùi Tất Thắng?”.
Mẹ tôi luống cuống: “Tại bố con đấy! Hồi đó Cụ Hồ mới về Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nên bố con cao hứng, đã đặt tên con là Tất Thắng”. (Hồi đó cả nhà trách bố tôi vì đặt tên thằng út là Tất Thắng. Tất còn có nghĩa là hết, tức là chết. Nên nó mới mất sớm. Nhân tiện tôi nói thêm là việc đặt tên rất quan trọng, còn quan trọng như thế nào thì tôi không biết. Nhưng tôi có biết ông Đỗ Trí ở Sơn Tây có tài chỉ cần đọc tên là ông biết con người ấy như thế nào, như xem chỉ tay hay số tử vi vậy.)
Vong em tôi nói tiếp qua cô Phương: “Thôi, Mợ đã khắc tên con trên bia mộ rồi!”.
Đúng thế. Tên em tôi đã được khắc trên bia mộ, nằm cạnh ông bà ngoại tôi trong nghĩa trang Bất Bạt.
Đến lượt bố tôi vào. Vong bố tôi qua thân xác cô Phương nắm tay mẹ tôi, rồi nói: “Hơn mười năm rồi mới gặp lại bà. Tôi nhớ bà lắm…”. Mẹ tôi khóc nức nở. Chúng tôi cũng khóc. Bố tôi bỗng trách đùa mẹ tôi: “Bà diện lắm! Mới đi may áo đỏ…”.
Trời ơi! Sao bố tôi biết nhanh thế? Trong gia đình tôi đã có ai biết chuyện may áo đỏ của mẹ tôi đâu! Tôi mới về Hà Nội tối hôm trước thì sáng hôm sau trên đường đi Thanh Hoá ghé qua tiệm may, bỏ xấp vải nhung đỏ để may áo cho mẹ kịp mặc vào Lễ Đại Thọ. Mẹ tôi đương líu ríu chống chế thì bố tôi bồi thêm một câu đùa yêu tiếp: “Bà còn muốn tô son đánh phấn nữa!”.
Mẹ tôi rên rỉ: “Cái gì ông cũng biết! Đúng rồi! Tôi vừa xin con cháu Trinh Hương, con gái anh Minh, một chút son phấn để hôm Lễ Đại Thọ thoa một chút. Mặt mũi răn reo quá, sợ thằng con trai cả của ông nó ngượng với bạn bè”. (Chuyện này mẹ tôi giấu kín mọi người, trong khi anh em tôi không hay biết gì, thế mà bố tôi cũng biết!)”
Rồi cô Phương quay sang tôi: “Tâm ơi! Cậu buồn quá vì chuyện con Hà nhà con. Nó lôi thôi với chồng nó thì chỉ khổ cho ba đứa con thôi”. (Hà là con gái tôi. Chuyện của nó mới xảy ra trước khi tôi về Hà Nội. Vợ chồng tôi nghe phong phanh, nhưng chưa có dịp trao đổi với nhau. Thế mà mọi chuyện người Âm đều biết, không giấu giếm được!)
Một lúc sau thì ông nội tôi về. Qua miệng cô Phương: “Tao là Bùi Văn Khanh, ông nội đây. Cả bà nội Nguyễn Thị Ngọt cũng về đây!”.
Tôi vội thưa: “Thưa Ông, con nghe anh Đại con cô Hai nói tên Ông là Khánh, nhưng lâu ngày trên giấy khai sinh của Bố con mất dần dấu sắc, nên đọc là Khanh” (cô Hai là chị ruột bố tôi.)
Ông nội tôi gắt lên: “Tên tao là Khanh, chứ không phải là Khánh”.
Rồi quay sang mắng mẹ tôi: “Chị về làm dâu nhà tôi mà không đoái hoài mồ mả tổ tiên nhà chồng. Từ ngày cưới chị, chị chỉ về quê nội có một lần!”.
Mẹ tôi sợ hãi chống chế: “Gia đình con ở Hà Nội, Hải Phòng. Quê nội ở mãi Bái Đô, Lam Kinh – Thanh Hoá, nên đi lại khó khăn. Và, con sinh con đẻ cái đều đều ba năm hai đứa nên không về thăm quê được. Con xin nhận tội với ông bà”.
Cứ như thế trong 90 phút vui buồn, khóc lóc…
Hai anh em tôi và mẹ hớn hở ra về. Có lẽ vì cao hứng nên chúng tôi ghé thăm nhà thơ Hữu Loan, người bạn cũ ở Thanh Hoá. Đáng nhẽ về thẳng Hà Nội, nhưng chắc còn luyến tiếc những giờ phút quý báu xúc động buổi sáng đó nên chúng tôi quay trở ngược lại cầu Hàm Rồng để chụp ảnh với cô Phương. Kỳ này mẹ tôi không phản đối nữa mà còn hăm hở muốn gặp cô Phương.
Cô Phương vui vẻ cho biết thêm: “Cụ ông lại vừa về cho biết đã đăng ký chỗ dạy học cho bà rồi”.
Lại thêm một ngạc nhiên: Mẹ tôi vốn là một giáo viên hồi hưu. Ngày xưa, mẹ tôi là người đàn bà Tây học. Khi lấy chồng, sinh con thì ở nhà. Khi các con khôn lớn thì bà mới đi dạy lại vì sự khuyến khích của bố tôi. Thôi, không còn nghi ngờ gì nữa. Đúng là vong linh của bố tôi rồi! Lúc nào bố tôi cũng muốn mẹ tôi sử dụng cái tri thức của mình.
Ngày hôm đó là ngày trọng đại của đời tôi. Tôi thấy cụ thể sự hiện hữu của Linh hồn và cõi âm. Dù cho sau này cô Phương có nói bậy gì đi nữa, các cô gọi hồn khác, các nhà ngoại cảm khác đôi khi có nói bậy vì mưu sinh thì kết quả của ngày hôm đó vẫn không thể chối cãi được, nếu không nói là được tuyệt đối chấp nhận.
Khác nào như ta cố gắng gọi điện thoại cho người thân, đường dây rất khó khăn, rất xấu, nhưng chỉ một lần thôi ta nghe rõ tiếng người thân trò chuyện với ta về những chuyện gia đình mà người ngoài không thể biết được, thì cũng khá đủ cho ta biết rằng người thân của ta vẫn tồn tại. Tuy ta không nhìn thấy được vì giới hạn của ngũ quan, nhưng người thân quá cố của ta vẫn tồn tại với các ký ức, với các kỷ niệm dưới một dạng nào đó mà ta không biết, ta tạm gọi là “Linh hồn”, trong một thế giới nào đó mà ta cũng không biết, tạm gọi là “cõi âm” (để phân biệt với cõi Dương mà ta đang sống) hay theo kiểu Tây Phương gọi là “Cuộc đời sau khi chết” (“Life after death”).
Sau này mỗi lần về thăm quê hương, tôi đều đưa mẹ tới gặp cô Phương. Lần sau cùng mẹ tôi gặp cô ấy là cuối năm 2005. Khi đó mẹ tôi vẫn còn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn. Trước khi ra về, cô Phương nói nhỏ với tôi: “Cụ ông nhớ bà lắm. Cụ ông sắp đưa bà về rồi. Một cách bình yên”. Ít lâu sau, mẹ tôi mất rất nhanh.
Sau này tôi có gặp nhiều nhà ngoại cảm khác ở Việt Nam, họ cũng có khả năng như cô Phương – cô Bằng, cô Thao, cô Mến trên đường từ Hà Nội qua Hải Dương đến Hải Phòng.
Tôi cũng đã gặp các nhà ngoại cảm tìm mộ như Cậu Liên, anh Nguyễn Khắc Bảy, cô Phan Thị Bích Hằng…
Tôi cũng đã gặp các nhà khoa học nghiên cứu về tâm linh như TS Nguyễn Chu Phác, GS Ngô Đạt Tam, GS Phi Phi, TS Ngô Kiều Oanh… làm việc ở các cơ quan khác nhau. Tôi đã được đọc câu kết luận của một tài liệu ở Việt Nam (không phổ biến công khai) như sau: “Thế giới tâm linh là có thật. Đó là một thực tế khách quan cần được các nhà khoa học nghiên cứu nghiêm túc. Chúng ta hãy bình tĩnh, khách quan lắng nghe những lời nhắn nhủ từ thế giới tâm linh để có cuộc sống nhân ái hơn, lương thiện hơn“.
Xin mời xem thêm một chuỗi các lời bình luận trên diễn đàn email quanh đề tài "Cõi Âm":
Đã nghe xong.

No comments:
Post a Comment