Monday, December 10, 2012

Vỗ Tay Khi Nghe Nhạc Cổ Điển
Feb 27, '10 7:52 PM


Vỗ Tay Khi Nghe Nhạc Cổ Điển

 
Chương đầu của bản giao hưởng số 9 mệnh danh "Tân Châu Lục" của Dvorák vừa chấm dứt, khán giả đã mau mắn vỗ tay tán thưởng. Tưởng rằng như thế thì nhạc trưởng và các nhạc công hài lòng, ai ngờ ông nhạc trưởng quay lại có vẻ khó chịu, chờ cho tiếng vỗ tay dứt hẳn, rồi bắt đầu vào chương hai.
                                    Orchestra                                 (xin bấm vào hình để xem khung hình hiện ra rộng lớn dễ xem)

Điều này xảy ra ngay cả với những dàn nhạc giao hưởng nổi tiếng từ New York đến Los Angles. Không chỉ riêng các bản giao hưởng, bất cứ nhạc phẩm nào được chia làm nhiều đoạn cũng có khả năng nhận được sự tán thưởng của thính giả không đúng lúc. Lý do cũng dễ hiểu: Người nghe qua một đoạn thấy thích thì họ vỗ tay như một phản ứng tự nhiên, hoặc họ tưởng là nhạc phẩm đã chấm dứt nên họ buộc phải vỗ tay (đôi khi như một phép lịch sự). Còn nhạc trưởng và các nhạc công cũng có lý do để tỏ vẻ không bằng lòng: bản nhạc chưa hết, ý nhạc đang tuôn chảy, mà tiếng vỗ tay đã xen vào làm gián đoạn không gian âm nhạc. Như vậy nên vỗ tay vào lúc nào?
                                    Orchestra Seating
                               (xin bấm vào hình để xem khung hình hiện ra rộng lớn dễ xem)
Khi nghe nhạc cổ điển cũng như bất cứ loại nhạc nào khác, có những lề thói trong việc tán thưởng. Ví dụ, nghe một ban đờn ca tài tử xuống chữ "xề" thì tự nhiên tiếng vỗ tay rào rào nổi lên. Hoặc khi mỗi nhạc công trong ban nhạc jazz vừa dứt phần độc tấu của mình, khán giả cũng vỗ tay, chứ không nhất thiết chờ cho đến hết bản nhạc. Trong nhạc cổ điển, có những nhạc phẩm độ ngắn, dài khác nhau, và một quy luật chung là khán thính giả vỗ tay sau khi bản nhạc kết thúc. Điều cần biết là khi nào một bản nhạc thật sự chấm dứt, tức là biết được các thể loại sáng tác trong nhạc cổ điển. Sau đây là một số loại hình sáng tác cho các nhạc cụ gồm nhiều chương tiêu biểu:

I. Bản giao hưởng (symphony) thông thường gồm bốn chương đặt tên theo tốc độ và cách thức diễn đạt của mỗi chương; ví dụ bản giao hưởng số 3 của Beethoven có bốn chương:

(1) Allegro con brio (Nhanh, chói lọi)

(2) Marcia funebre: Adagio assai (hành khúc tang lễ: rất chậm)
(3) Scherzo: Allegro Vivace (vũ khúc "scherzo": Nhanh, hoạt bát), và
(4) Finale: Allegro molto (chương cuối: thật nhanh).

II. Bản hòa nhạc cho một nhạc cụ độc tấu và dàn nhạc (concerto) cũng gần giống loại hình giao hưởng, nhưng chỉ có ba chương; ví dụ, bản Piano Concerto số 3 của Bartók:

(1) Allegretto (hơi nhanh),

(2) Adagio religioso (chậm, trầm tư), và
(3) Allegro Vivace (nhanh, hoạt bát).

III. Các tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu (trio, quartet, quintet) thường có 4 chương; ví dụ bản tứ tấu đàn dây số 16 của Mozart:

(1) Allegro non troppo (Không quá nhanh)

(2) Allegro vivace (nhanh, hoạt bát)
(3) Andante con moto (thong thả, lưu loát), và
(4) Menuetto allegro (nhanh, vui theo thể điệu minuet).

IV. Sonata là một hình thức âm nhạc dành cho một hoặc hai nhạc cụ độc tấu hay song tấu. Ví dụ bản Sonata "Ánh Trăng" của Beethoven gồm ba chương:

(1) Adagio sustenuto (khoan thai, ngân nga)

(2) Allegretto (hơi nhanh), và
(3) Presto agitato (rất nhanh, mãnh liệt);

Nhưng nhiều thính giả chỉ biết có chương đầu của bản này nên tạo thành thói quen vỗ tay ngay sau khi chương một vừa dứt.


Trong tờ chương trình của các buổi hòa nhạc cũng hay ghi rõ tựa của các chương để khán thính giả tiện theo dõi.

Khi chăm chú lắng nghe và vỗ tay đúng lúc, ta có thể thưởng thức toàn bộ bản nhạc với sự chuyển động liền lạc qua từng chương, tạo một không gian thoải mái cho những người xung quanh lẫn nhạc sĩ trình diễn.

Nguyễn Linh Giang
Câu Chuyện Âm Nhạc


Kinh nghiệm nhiều năm trong nghề cho tôi hiểu là trẻ rất khác nhau về khả năng học nhạc. Hầu như tôi chưa bao giờ có diễm phúc gặp được một “thần đồng” mặc dầu trong số môn sinh của tôi, vài em rất có tài. Bên cạnh đó, tôi cũng có những em mà tôi gọi là “học sinh kém”, phải phấn đấu rất nhiều may ra…

Một em thuộc số này tên là Robby. Em đã 11 tuổi khi mẹ em, một mình nuôi con, đem em tới xin học đàn buổi đầu tiên. Là cô giáo dạy dương cầm, tôi muốn các em, đặc biệt là em trai, khởi sự ở tuổi nhỏ hơn. Tôi cắt nghĩa với Robby điều này nhưng Robby nói giấc mơ lâu dài của mẹ em là được thấy em chơi piano. Vì lý do này, tôi nhận dạy em. Robby bắt đầu những bài học vỡ lòng và, ngay từ lúc này, tôi đã biết là cả tôi lẫn em sẽ công cốc thôi.

Robby càng cố gắng, em càng tỏ ra không có khả năng thẩm âm và nắm bắt nhịp điệu, là những điều kiện căn bản để có thể trở thành tay đàn giỏi. Tuy nhiên, Robby rất chăm chỉ, em làm hết bổn phận qua các bài tập nhỏ tôi thường yêu cầu các em phải học. Nhiều tháng trôi qua, Robby cố gắng liên tục, tôi thì cố gắng lắng nghe, kềm hãm mình và khuyến khích em. Cứ sau mỗi bài học cuối tuần, em luôn luôn nói: “Một ngày nào đó, mẹ em sẽ thấy em trình diễn.” Điều này xem ra vô vọng vì rõ ràng Robby không có khả năng thiên phú. Về mẹ em, tôi chỉ nhìn thấy bà xa xa khi bà đưa Robby đến trường rồi ngồi đợi đón em về trong chiếc xe hơi cũ kỹ. Bà luôn đưa cao tay vẫy và mỉm cười nhưng không bao giờ ghé vô.

Rồi một ngày, tôi không thấy Robby tới học nữa. Tôi đã toan gọi điện thoại cho em nhưng sau lại đoán chừng là có thể em tự biết mình thiếu khả năng nên bỏ môn dương cầm mà theo đuổi ngành khác chăng? Trong đáy lòng tôi, tôi thấy nhẹ nhõm hẳn vì một học trò như Robby sẽ không quảng cáo tốt cho tiếng tăm của tôi.

Vài tháng sau, tôi gởi bưu điện đến nhà các môn sinh của tôi tấm bươm bướm giới thiệu buổi trình diễn độc tấu sắp tới. Robby cũng nhận được một tấm và tôi hết sức kinh ngạc khi em hỏi tôi liệu em có thể tham dự buổi trình tấu này không? Tôi trả lời Robby là buổi trình tấu này chỉ dành cho các học trò đang theo học, vì em đã không tới lớp nữa nên em không đủ tiêu chuẩn tham dự. Robby giải  thích là vì mẹ em ốm nặng, không thể đưa em đi học song em vẫn thực tập ở nhà. Em năn nỉ:

-    Thưa cô, xin cô cho em được trình diễn, em cần phải trình diễn…”

Thực sự, tôi không biết điều gì đã khiến tôi nhận lời Robby. Có lẽ do bởi lời van lơn tha thiết của em hoặc do một cái gì đó bên trong tôi nói với tôi rằng không sao đâu, rồi cũng ổn thỏa thôi!

Đêm trình diễn đã tới. Phòng tập thể dục của nhà trường đông kín các phụ huynh, bạn hữu và thân quyến của gia đình. Tôi xếp Robby vào cuối chương trình, ngay trước tiết mục tôi sẽ xuất hiện để cám ơn học trò, phụ huynh, cử tọa và kết thúc buổi trình tấu. Trong thâm tâm tôi nghĩ, mọi sự bết bát nếu có, với Robby lúc đó, sẽ được cứu vãn bằng tiết mục “hạ màn” của chính tôi.

Đêm trình tấu diễn ra êm xuôi. Các nhạc sinh chứng tỏ được quá trình rèn luyện của các em. Tới lượt Robby bước lên sân khấu. Quần áo em nhầu nhèo, tóc chĩa tứ bề như vừa ở cái máy đánh trứng ra, tôi than thầm: “Khổ quá, sao em không trông các bạn mà phục sức cho phải phép? Sao mẹ em không chải gỡ tóc cho con mình ít nhất cũng trong cái đêm đặc biệt này?”

Ngoài bục diễn, Robby đã kéo cái ghế trước đàn và bắt đầu. Tôi hết sức kinh ngạc khi em loan báo sẽ độc tấu bản Concerto số 21 của Mozart in C major. Tôi thực sự bất ngờ những gì tôi sắp được nghe. Những ngón tay em lướt nhẹ trên bàn phím, thậm chí như thoăn thoắt nhảy múa trên cái nền mầu ngà của chiếc dương cầm… Em đi từ pianissimo qua fortissimo, từ allegro tới virtuoso, thể hiện hết sức tuyệt diệu những hợp âm bắt buộc trong nhạc của Mozart. Tôi chưa một lần nào được nghe trình tấu Mozart hay như vậy bởi các môn sinh trong lứa tuổi Robby. Sau sáu phút rưỡi bay lượn trên hàng phím, Robby kết thúc phần trình diễn bằng những tiết tấu nhanh và cao vút, khiến cả hội trường đứng dậy vỗ tay hoan hô nồng nhiệt.

Khóc vì vui sướng, tôi chạy ào lên sân khấu và ôm Robby trong vòng tay: “Robby, cô chưa từng bao giờ nghe em đàn như vậy! Em làm thế nào được thế?” Robby nói qua máy khuếch âm với cô giáo và cả thính giả trong hội trường:

-    Thưa cô Hondorf, chắc cô còn nhớ em có nói là mẹ em bị bệnh nặng. Mẹ em bị ung thư và bà vừa mới qua đời sáng nay. Mẹ em bị điếc bẩm sinh, tối nay sẽ là lần đầu mẹ em nghe được em đàn, vì vậy, em muốn nó phải thật đặc biệt.

Mọi người không ai cầm được nước mắt đêm hôm ấy. Sau buổi trình diễn, nhân viên sở xã hội chờ sẵn để đưa Robby vào nhà nuôi trẻ, người nào mắt cũng đỏ hoe và sưng húp vì khóc. Riêng phần tôi, tôi nghĩ có một môn sinh như Robby, đời tôi phong phú hơn nhiều lắm. Với kinh nghiệm trải qua đêm nay, Robby quả đã dạy lại tôi bài học của lòng kiên trì, của tình yêu, niềm tin vào bản thân, đôi khi, cả niềm tin nơi người khác với ít nhiều may rủi…

Riêng tôi, tôi tin tưởng rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể góp một bàn tay làm thay đổi tốt hơn cho một người, cho một cục diện hay một tình huống nào đó.

Sưu tầm
Nguyệt san Gia Đình #21 /2005
Chàng Trương Chi
 

Đây là câu chuyện éo le của hai mối tình, một thật một giả, bị tan trong nước mắt khi một người đã chết.

Nàng Mỵ Nương đã mê tiếng sáo mà mơ đến người. Khi gặp anh thuyền chài thì mới thấy rằng chàng là người rất xấu trai nhưng lại có tiếng sáo mê hồn, nàng bèn tỉnh giấc mộng mị. Khốn nỗi, khi được gặp nàng, Trương Chi lại say mê Mỵ Nương, rồi yêu đến phát bệnh, đến chết. Mối tình của chàng uất kết thành một khối, một trái cầu trong vắt như pha lê.

Sau này khối ngọc ấy được tạc thành chén, khi Mỵ Nương rót trà vào chén thì nghe thấy tiếng sáo xưa cùng với hình bóng của người thuyền chài cô quạnh. Giọt lệ thương cảm của nàng rơi vào lòng chén và làm tan chiếc chén ngọc. Chắc là khi đó Trương Chi mới được siêu thoát và để lại cho chúng ta một chuyện tình thật đẹp.

Mối tình của Trương Chi gợi hứng cho người viết. Nổi tiếng nhất là "Trương Chi" của Văn Cao sáng tác năm 1943, và "Khối Tình Trương Chi" của Phạm Duy viết năm 1945.

Bài "Khối Tình Trương Chi" của Phạm Duy là loại truyện kể, dùng nhạc để kể lại cuộc tình của Trương Chi.

Phạm Duy viết Khối Tình Trương Chi trên cung Fa Trưởng, theo nhịp ba bốn của một bài luân vũ trầm buồn. Nét đặc biệt của bài này là dẫn vào sự trong sáng, dìu dặt và uyển chuyển. Qua đoạn giữa, đoạn modulation, ông đổi sang âm giai Thứ, man mác u buồn, cũng là lúc truyện kể đến khúc Mỵ Nương nâng chén trà và thấy hình ảnh Trương Chi trong lòng chén...

Phạm Duy bắt vào truyện kể với lời ca "Đêm năm xưa..." tương tự như cách ta kể truyện cổ tích, "ngày xửa ngày xưa"... "once upon a time..." hay "il était une fois..." Cứ như thế, ông kể tiếp về cái đẹp của một đêm trăng và nàng con gái lãng mạn trên lầu vàng đã thấy lòng đê mê vì những cung Nam Thương, Nam Ai văng vẳng nổi lên từ bờ sông... Nàng đã tương tư người hò khoan, nước mắt hoen màu, tóc chảy ngàn hàng...
Nhưng tới khi gặp chàng... thì đành tan vỡ câu chờ mong. Lời ca và nét nhạc thật óng chuốt, mỹ miều...

Qua đoạn hai, Phạm Duy kể tiếp về mối tình của chàng Trương trên con thuyền lẻ loi. Khi trót yêu người rồi thì tủi hờn duyên kiếp bao giờ nguôi.

Chữ "trót" như một sự tình cờ, như chuyện không cố ý, một éo le của đệnh mệnh, khiến chàng phải ôm mối tình dỡ dang chôn xuống đáy sông. Câu hát "duyên kiếp trong cuộc đời - đem xuống nơi tuyền đài - để thành ngọc đá mong chờ ai" là một chuyện kể rất đẹp.

Và cuối cùng, nước mắt Mỵ Nương đã "cho chén tan thành lời, để thành bài hát ru lòng tôi". (Năm đó Phạm Duy mới chỉ 24 tuổi!). Người nhạc sĩ chỉ xuất hiện ở chữ cuối của bài hát, như để giải thích về truyện ca của mình...

Ca khúc "Trương Chi" của Văn Cao thì hoàn toàn trái ngược. Trương Chi của Văn Cao là một thứ tự truyện, mượn tích Trương Chi để giãi bày nỗi cô đơn của mình.

Về nhạc thuật, ông mở đầu với lời ta thán và nét nhạc u uẩn nhờ cung Đô Thứ. Mỵ Nương trong ca khúc không là nhân vật chính. Tiếng hát và tâm sự của chàng Trương mới là chủ điểm trong lời từ.

Văn Cao tả một đêm trăng sáng và tiếng hát Trương Chi nhả tơ vào đêm trăng khiến nàng con gái nơi đài các thấy nao nao vì trăng sáng lả lơi. Trăng không lả lơi, chính là giai nhân mới thấy lả lơi, và lả lơi vì nghe được tiếng hát Trương Chi.

Văn Cao dẫn từ khách đến chủ, từ hậu quả trong lòng Mỵ Nương đến nguyên nhân là sự kỳ diệu của tiếng hát Trương Chi!
Sau đó là một câu rất ngắn, gần như đột ngột, về cái chết câm nín, tức tưởi của Trương Chi: Nhìn xuống đáy nước sông sâu - thuyền anh đã chìm đâu.

Đấy là lúc ta trở về thực tại của Trương Chi - Văn Cao, về nỗi cô đơn của người nghệ sĩ.

Đoạn modulation được Văn Cao đổi sang cung Fa Trưởng, như nỗi tấm tức, dồn dập và cả sự gào thét. Đó là tiếng mưa trên con đò trăng hay tiếng khóc của người nghe? Đoạn này, khi trình bày, các ca sĩ phải hát rất khô, ngắt câu rất rõ theo lối "staccato", nếu không thì nghe như đang kéo xe bò! Sau đấy, mới kết thúc tiếng thở than tức tưởi đó bằng một câu như ngâm thơ.

Nếu nghe lại cho kỹ, ta thấy tâm sự chàng Trương là sự u uẩn của chính Văn Cao, "Ngồi đây, ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất chỉ còn riêng ta..." Đây là câu hát thuộc loại đẹp nhất và buồn nhất trong kho tàng tân nhạc của chúng ta.

Câu cuối, ông chuyển nét nhạc trở về cung Đô Thứ và nhấn mạnh đến thân phận nghèo hèn của Trương Chi mà ai cũng hiểu là tâm sự bi đát của chính ông.

Quỳnh Giao
California, 2008

No comments:

Post a Comment

Followers

Blog Archive