VẤN ĐỀ TRÙNG TU… “NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA”
Vị nào còn muốn phản bác, mời lên tiếng.
Nên viết có lý
luận, không nên quơ quào vài câu
như những tên chửi
thuê chém mướn.
Hk Thành
SI VIS PACEM, PARA
BELLUM
----- Forwarded Message -----
From: Gia Cao Sent: Saturday, April 6, 2013 1:21 AM
Subject: [ChinhNghiaViet] FW: Nguyễn Quốc Đống: Vấn Đề Trùng Tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
From: Gia Cao Sent: Saturday, April 6, 2013 1:21 AM
Subject: [ChinhNghiaViet] FW: Nguyễn Quốc Đống: Vấn Đề Trùng Tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
Cám ơn CH/NT Nguyễn Quốc Đống,
Đã bỏ công viết bài "Trần tình" rất công phu, dẫn chứng mạch lạc, luận cứ sắc bén lột trần cái chiêu bài "Trùng Tu Nghĩa Trang QĐ Biên Hòa" của Nguyễn đạc Thành đang gây xáo trộn cộng đồng kẻ bênh, người chống diễn ra ngay trong tình đồng đội, trong cùng tổ chức tại hải ngoại, lẫn quốc nội.
Bài viết nầy là một cái tát nẩy lửa vào mặt bọn chóp bu tội ác bắc bộ phủ, lũ thái thú tay sai giặc Tàu.
Một cái tát vào mặt bọn Việt gian lập lờ đánh lận con đen bằng "chiêu bài nhân đạo" để chúng theo đóm ăn tàng.
Một cảnh tỉnh đừng mắc mưu NQ 36 của bọn VC mà tên thứ trưởng ngoại giao Nguyễn thanh Sơn kiêm công tác cộng đồng người Việt nước ngoài.
Bài viết của CH/NT Nguyễn Quốc Đống, CH/NT Đỗ Ngọc Uyển v.v... tưởng cũng đã dư thừa yếu tố thuyết phục độc giả để phân biệt chánh tà. Sau bài nầy, xin hãy khép lại sự tranh luận vô bổ. Nên dành cho sự góp phần với đồng bào quốc nội đẩy mạnh cuộc đấu tranh toàn diện, sớm bùng lên cuộc cách mạng dân chủ quét sạch tàn dư chủ nghĩa CS, cứu nguy Tổ Quốc như các cuộc cách mạng Nga và Đông Âu trong những thập niên qua.
Lúc ấy Tổ Quốc sạch bóng quân thù, non sông khôi phục, công tác Trùng Tu Nghĩa Trang Quốc Gia (NTQDBH) mới thật sự quang huy hoành tráng. Chúng ta rửa được mối hận cho dân oan và dân tộc, cho anh linh tử sĩ VNCH và hồn thiêng sông núi.
To: PhoNang
From:
Date: Fri, 5 Apr 2013 18:10:03 -0700
Subject: Re: NGUYỄN QUỐC ĐỐNG: Vấn Đề Trùng Tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
From:
Date: Fri, 5 Apr 2013 18:10:03 -0700
Subject: Re: NGUYỄN QUỐC ĐỐNG: Vấn Đề Trùng Tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
Một bài viết chi tiết vơí những lập luận chính xác về cái gọi là "trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà" của Nguyễn Đạc Thành.
Cho đến nay chẳng ai thấy được "văn thư chấp thuận" việc di dời ngôi mộ tập thể của 200 tử sĩ VNCH, chỉ thấy ông Nguyễn Anh Dũng, cựu Phó Chủ Tịch HỘi VAF, nói là giấy phép đã bị nhà nước CS VN rút lại chỉ sau vào ngày được cấp phát.
_______________________________________________________________________________________________
VẤN ĐỀ TRÙNG TU…
“NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA”
Nguyễn
Quốc Đống
Cựu
SVSQ K.13, TVBQGVN
Ngày
2 tháng 4, 2013
Khoảng
giữa tháng 3, 2013 đồng bào Việt hải ngoại nghe được tin tức về việc trùng tu
Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa (NTQĐBH) ở Việt Nam, việc di dời nấm mộ tập thể
của khoảng 200 tử sĩ VNCH từ bên ngoài vào trong Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện Dĩ
An (NTNDHDA), việc chỉnh trang khu vực bên trong nghĩa trang, sửa sang các ngôi
mộ hoang phế… Người phụ trách công việc đặc biệt này là ông Nguyễn Đạc Thành
(NĐT). Ông Thành cho biết ông thực hiện việc này vì lý do nhân đạo, vì
tình chiến hữu đối với các đồng đội cũ của ông…
Tháng 3, 2013, một số hình ảnh
được phổ biến trên internet: hình ông Thành thắp nhang ở đài tưởng niệm của
nghĩa trang cùng thứ trưởng VC Nguyễn Thanh Sơn, chủ tịch Ủy Ban phụ trách
Người Việt ở nước ngoài, cũng là người chịu trách nhiệm thực thi Nghị Quyết 36
tại hải ngoại; hình ông Thành thắp nhang cùng ông Lê Thành Ân, tổng lãnh sự Hoa
kỳ tại Saigon. Vậy là tin tức “Việt Cộng trùng tu NTQĐBH” (?) trở thành 1
đề tài khiến rất nhiều người quan tâm. Tôi xin có một số ý kiến về vấn đề
này như sau:
1-Ông
Nguyễn Đạc Thành là ai?
Ông
Nguyễn Đạc Thành là 1 cựu thiếu tá thiết giáp của QLVNCH, cũng là 1 cưụ tù nhân
chính trị sang Mỹ theo chương trình HO, và hiện là 1 cư dân của thành phố
Houston, tiểu bang Texas. Qua các tin tức phổ biến trên truyền thanh
(BBC), truyền hình (SBTN), hay báo chí ( Người Việt , Nam California )…, chúng
ta được biết ông Thành là người điều hành tổ chức Vietnamese American
Foundation (VAF) do ông thành lập. Trước đây, tổ chức này phát động
chương trình The Returning Casualty (TRC), tức là “Đưa Người Tử Sĩ Trở Về”, còn
được biết dưới tên là “Bông Hồng Trên Nấm Mộ Hoang”.
Chương trình này
được sự yểm trợ tinh thần, tài chánh của một số đồng hương, của một số anh
em cựu quân nhân, và đã thực hiện được việc di dời hài cốt của một số tù nhân
chết trong trại cải tạo. Theo ông phó chủ tịch VAF (2012) tại Làng Đá,
tỉnh Yên Bái, TRC đã thực hiện được việc di dời 20 ngôi mộ. Sau đó, Hội
dự tính di dời một số mộ tại tỉnh Phú Yên, nhưng sau 3 lần liên tiếp bị trì
hoãn vẫn không xin được phép của nhà cầm quyền nên công việc không thành.
C
uối cùng, vị phó chủ tịch của VAF đã quyết định rút lui khỏi chức vụ
này.
Tại thời điểm này (2012), những người biết chuyện vẫn tin rằng ông
NĐT là người có thiện chí, và ông làm những việc di dời, bốc mộ tù nhân cải
tạo, hay mộ của tử sĩ VNCH vì lý do nhân đạo, vì tình chiến hữu… Sau khi ông
phó chủ tịch và một số thành viên rút khỏi VAF, chúng tôi được biết một
số bạn trẻ trong nước, tự nhận là thân nhân của tử sĩ VNCH(?) đã cùng ông Thành
điều hành VAF.
2-
Công việc “di dời mộ tử sĩ VNCH” của ông NĐT năm 2013:
Ngày
21 tháng 3, 2013, VAF ra thông báo về việc bốc dỡ hài cốt trong 1 ngôi mộ
tập thể ở bên ngoài (?) vào trong khuôn viên Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện Dĩ An.
Ông Thành cho biết “Ngày 1 tháng 3, 2013, Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh
Sơn thông báo rằng: lời yêu cầu của VAF xin bốc dỡ và di chuyển hài cốt trong
ngôi mộ tập thể của khoảng 200 tử sĩ VNCH vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đã
được chấp thuận…. Đây là những chiến sĩ đã hy sinh khi phòng thủ Saigon trong
khoảng thời gian trước và trong ngày 30/4/1975. Những thi hài này trước
khi chôn cất, được bỏ trong bọc nylon, nên dự đoán có thẻ bài căn cước kèm
theo. Theo lời Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn, việc bốc dỡ và
di dời tùy theo quyết định của VAF…” Ông Thành xin ý kiến đồng hương
và cựu quân nhân QLVNCH về việc bốc dỡ: nên hay không nên (lý do nên, lý do
không nên). Hội VAF chỉ thu nhận ý kiến đóng góp trong thời hạn 60 ngày,
rồi sẽ ra quyết định cuối cùng. Nếu có quyết định bốc dỡ, VAF “kêu gọi
đồng bào cùng các chiến hữu bảo trợ công việc này”.
3-
Ý kiến của đồng hương Việt hải ngoại về việc bốc dỡ ngôi mộ tập thể nói trên:
Một
số tán thành công việc này, cho đây là một việc đáng làm, giúp tử sĩ VNCH được
“an nghỉ trong nghĩa trang”, tức là được “về nhà của họ, khỏi phải vất vưởng ở
ngoài nghĩa trang, trong khu vực của Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An, nơi không
phải nhà của họ…” Có người viết bài ca tụng việc làm của ông Thành là “đầy nhân
đạo, đầy tình chiến hữu, nặng đạo lý con người”…
Rất
đông đồng hương Việt, kể cả giới dân sự và cựu quân nhân đã lên tiếng phản đối
việc làm này của ông Thành trên các diễn đàn điện tử. Chúng ta thử tìm
hiểu tại sao việc làm mà ông Thành cho là “nhân đạo”, cũng được một số người
tán thành là “nhân đạo” lại bị nhiều người phản đối như vậy?
4-
Các việc làm của ông NĐT có nhiều điểm không minh bạch nên gây sự nghi ngờ của
đồng hương Việt tại hải ngoại:
Thứ
nhất: Cách đây nhiều năm, ông NĐT đã đứng ra thành lập 1 tổ chức cho
các cựu tù nhân chính trị mang tên là Tổng Hội HO, nhưng không được hưởng ứng.
Trong thời gian này, tại hải ngoại đã có Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt
Nam (THCTNCTVN), hoạt động cùng với nhiều thành viên là các khu hội Cựu Tù Nhân
Chính Trị tại các tiểu bang của Hoa Kỳ, và Canada .
Đồng bào hải ngoại
không rõ đường lối hoạt động của Tổng Hội HO này, không rõ hội này có thể hiện
lập trường quốc gia, giữ lằn ranh Quốc-Cộng như THCTNCTVN hay không. Việc
lập thêm 1 Tổng Hội HO như vậy không thể hiện tình đoàn kết giữa các chiến hữu
đã cùng nhau chiến đấu, và cùng chung số phận bị CS đầy đọa nhiều năm trong các
trại tù.
Thứ
hai: Một thời gian sau, ông Thành đã lập hội VAF để thực hiện
chương trình “Bông Hồng Trên Nấm Mộ Hoang”. Ông là 1 cư dân tại Mỹ, muốn
thực hiện 1 chương trình có tầm vóc to lớn liên quan đến các tử sĩ VNCH, liên
quan đến nhiều gia đình có thân nhân là tử sĩ VNCH, có thân nhân là tù cải tạo
chết trong các trại tù CS, có thể với hy vọng sẽ được chính quyền Mỹ yểm trợ.
Thế mà ông không tham khảo rộng rãi ý kiến của đồng hương tại Mỹ, và cũng không
tổ chức gây quỹ tại Mỹ. Trái lại, ông Thành cho thực hiện 3 buổi gây quỹ
ở Úc (năm 2010).
Thứ
ba: Sau việc gây quỹ bốc mộ được tổ chức tại Brisbane,
Melbourne (Úc) vào tháng 6, 2010, tổ chức cựu quân nhân Queensland mời ông
Thành đến để trả lời một số thắc mắc liên quan đến việc bốc mộ tử
sĩ VNCH thì ông đã không đến dự như ông đã hứa.
Thứ
tư: Trong Thông Báo ngày 21-3-2013, ông cho đồng hương biết ông sẽ
tiến hành việc di dời ngôi mộ tập thể cạnh nghĩa trang vào trong khuôn viên
“Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” (?). Ở đây chúng ta cần phải xác định rõ
một điều: Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện Dĩ An (NTNDHDA) hiện nay là của CSVN; còn
Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa (NTQĐBH) ngày xưa là của chính quyền VNCH. Hiện
nay, NTNDHDA chỉ gồm 1 phần đất của NTQĐBH ngày xưa; còn NTQĐBH thì bao gồm cả
NTNDHDA, và khuôn viên của Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An (TCĐNĐA) hiện tại.
Nói rõ hơn, ngôi mộ tập thể của 200 tử sĩ VNCH hiện đang nằm trong khuôn viên
của TCĐNĐA vốn dĩ nằm trong phần đất của NTQĐBH ngày xưa. Nay ông Thành
muốn di dời 200 ngôi mộ này vào trong khuôn viên của NTNDHDA của CS thì có khác
gì giúp nhà cầm quyền CS hoàn tất việc cướp đất của NTQĐBH một cách “danh chánh
ngôn thuận” (theo lời yêu cầu của thân nhân tử sĩ mà!)
Thứ
năm: Về ngôi mộ tập thể của 200 tử sĩ VNCH cạnh khu nghĩa trang,
ông Thành cho biết đó là nơi chôn cất “những chiến sĩ đã hy sinh khi phòng
thủ Saigon trong khoảng thời gian trước và trong ngày 30/4/1975”.
Ngày 30/4/1975, Saigon đang trong cơn hỗn loạn. Mọi người đang lo chạy
giặc Cộng tràn về thủ đô, ai có thì giờ đi thu gom xác tử sĩ VNCH khắp nơi
trong Saigon để đem về chôn tại cạnh nghĩa trang?!
Tôi nghĩ đây phải là
di hài của các tử sĩ từ các mặt trận đã được đem về nghĩa trang trước đó.
Việc hậu sự cho các tử sĩ chưa được hoàn tất thì Saigon thất thủ nên có thể các
di hài này đã bị VC chôn chung trong một nấm mồ tập thể tại NTQĐBH.
Ngày 30-4-1975, đạo quân xâm lược miền Bắc đã giật đổ pho tượng Thương
Tiếc tại cổng Nghĩa Trang, và kể từ đó chúng quản lý rất nghiêm ngặt toàn thể
khu nghĩa trang.
Một thời gian sau, một phần đất nghĩa trang được chuyển
thành khu vực của Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An, một bức tường ngăn cách nghĩa
trang và trường dạy nghề được xây lên, và ngôi mộ tập thể của 200 tử sĩ VNCH
trước nằm trong khu đất của nghĩa trang, nay thành ra nằm bên ngoài nghĩa
trang.
Vậy CSVN chính là thủ phạm “xâm phạm nơi an nghỉ của tử sĩ VNCH”.
Nay ông Thành lại hô hào đồng bào hải ngoại góp tiền cho ông làm việc
“nhân đạo” là đưa “tử sĩ VNCH về nhà của họ”, trong Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện
Dĩ An (!)
Thứ
sáu: Cũng trong Thông Báo của VAF ngày 21-3-2013, ông Thành cho
biết “Ngôi mộ tập thể này đã được Ban Giám Đốc Trường Cao Đẳng Nghề
Đồng An tu bổ, chăm sóc, và trân trọng đèn nhang hàng ngày. Mỗi tháng đều
có lễ vật cúng kiến vào ngày mùng HAI và 16 âm lịch”.
Nay theo
kế hoạch của ông Thành, khi được di dời vào trong khu vực nghĩa trang, dưới sự
quản lý chặt chẽ của CS, các ngôi mộ này sẽ được ai chăm sóc, đèn nhang hàng
ngày? Như vậy việc di chuyển từ ngoài khu nghĩa trang vào trong khuôn
viên nghĩa trang là tốt hơn, hay tệ hơn? Một người bạn ở cùng tiểu bang
với tôi, cũng là một cựu tù nhân chính trị, kể cho tôi nghe chuyện anh đến thăm
khu nghĩa trang Biên Hòa năm 2011, mục đích chỉ là thắp nhang cho chiến hữu
ngày xưa.
Khi anh đến, người canh gác nghĩa trang chặn anh lại hỏi “ anh
là ai, ở đâu đến, đến nghĩa trang làm gì, thăm ai, người chết tên gì, cấp bậc
gì, đơn vị nào…” Tóm lại, VC kiểm soát việc ra vào nghĩa trang rất nghiêm ngặt,
không phải ai cũng có thể ra vào thăm viếng mộ tử sĩ dễ dàng.
Chỉ một việc
đơn giản là viếng mộ người chết, thắp nhang trước mộ phần họ còn bị VC gây khó
dễ. Nay một việc trọng đại như bốc dỡ và di dời mộ của 200 tử sĩ VNCH do
ông Thành dự định thực hiện lại được VC ưu ái, dành cho mọi sự dễ dàng (trích
Thông Báo VAF: việc bốc dỡ và di dời tùy theo quyết định của VAF), làm
sao mọi người không đặt một dấu hỏi.
Trong
thời gian VC còn giam tù các quân, dân, cán, chính VNCH, rất nhiều anh em bị
thiệt mạng tại các trại tù miền Bắc, và đã bị chôn vùi dập ở khu vực quanh
trại. Nếu gia đình biết tin, tìm đến trại, sẽ được yêu cầu làm đơn xin
phép Bộ Nội Vụ, và có thể tiến hành việc bốc mộ thân nhân.
Chương
trình TRC tuyên bố đã tìm được 240 ngôi mộ, và giúp khoảng 50 gia đình di dời
hài cốt của thân nhân chết trong các trại tù. Không rõ 240 ngôi mộ nêu
trên có thân nhân đến nhận không; và trường hợp nếu không tìm được thân nhân
thì TRC có kế hoạch đưa họ về nhà không, và sẽ đưa về đâu?
Thứ
bảy: Về việc di dời ngôi mộ của 200 tử sĩ VNCH, ông Thành
cho biết sẽ lấy ý kiến của đồng bào và cựu quân nhân QLVNCH trong vòng 60 ngày
kể từ ngày ra Thông Báo (21-3-2013). Sau đó, hội VAF của ông sẽ “thông
báo đến đồng bào quyết định cuối cùng”. Ông lấy tư cách gì để quyết
định về việc di dời ngôi mộ tập thể nói trên?
Ông Thành không phải là
người quản lý có thẩm quyền của 200 di hài này; ông cũng chẳng là thân nhân của
bất cứ tử sĩ nào nằm trong nấm mộ trên; ông cũng chẳng phải là người có trách
nhiệm đối với các tử sĩ của QLVNCH (quốc gia VNCH đã không còn nữa).
Vậy rõ ràng ông đang nhận công tác “hợp thức hóa” việc dời ngôi mộ tập thể của
200 tử sĩ VNCH từ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa của VNCH vào Nghĩa Trang Nhân
Dân Huyện Dĩ An của CSVN.
Chính ông thú nhận “chính phủ Việt Nam không
cho phép thì không thể làm được bất cứ điều gì”. Đồng bào hải ngoại
nghĩ thế nào về việc làm thiếu trong sáng này, một việc làm đã được CS mưu
tính, và sẽ gây ra rất nhiều hệ lụy cho người Việt Tỵ Nạn CS chúng ta tại hải
ngoại.
Thứ
tám: Ông Thành kêu gọi người Việt hải ngoại tiếp tay với ông
trong việc “trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” (?). Chúng ta
nên tự đặt câu hỏi “Hiện nay “ai là chủ của khu đất này?” “Nghĩa Trang
Quân Đội Biên Hòa” là tài sản của quốc gia VNCH. Công dân của VNCH chỉ có
trách nhiệm, và có thể tu bổ 1 thứ là tài sản của VNCH, chứ không có trách
nhiệm và cũng không có quyền tu bổ 1 thứ không phải là tài sản của mình.
Lấy 1
thí dụ đơn giản như sau: bạn có thể tu bổ nhà cửa, vườn tược của bạn, chứ
bạn có quyền tu bổ nhà cửa hay vườn của ông hàng xóm hay không? Ông hàng
xóm nào của bạn mà lại tử tế (hay ngu xuẩn) đến độ cho phép bạn “tùy ý tu bổ,
sửa sang” nhà của ông ấy như vậy?
Vì thế công việc mà ông Thành muốn thực
hiện không “chính danh”, và vì không chính danh nên lời tuyên bố của ông “không
thuận” tai người nghe.
Thứ
chín: Ông Thành nghĩ việc di dời ngôi mộ tập thể của 200 tử sĩ
VNCH vào khuôn viên nghĩa trang là “bảo vệ” di cốt của các chiến hữu. Điều
này có chắc không? Chúng ta đã chứng kiến biết bao vụ “quy hoạch” đất đai
dưới chế độ CS, thực chất là chiếm nhà, chiếm đất, chiếm ruộng vườn của người
dân.
Nạn nhân không chỉ là những “ngụy quân, ngụy dân”, mà còn là “gia
đình có công với cách mạng, là bộ đội, là mẹ chiến sĩ”… Cả ngàn người trở thành
dân oan phải nhọc nhằn đi khiếu kiện nhiều năm với quốc hội CSVN, với chính
quyền trung ương về các chiếm dụng đất đai bất hợp lệ của các cán bộ địa
phương. “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” của chúng ta nay đã được cải danh
thành “Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện Dĩ An”, tức tài sản của nhà nước Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam , chịu sự quản lý của nhà nước CSVN.
Ai cấm VC,
một ngày xấu trời nào đó, chúng quy hoạch lại khu đất này, bán cho 1 công ty
nào đó (vì nhu cầu phát triển của địa phương chẳng hạn)? Đồng bào hải
ngoại sẽ có trở thành “Việt Kiều oan” phải đi khiếu kiện với nhà nước CS để
chống việc di dời nghĩa trang không?
5-
Việc làm của ông NĐT gây ra những hệ lụy nào cho cộng đồng người Việt Tỵ Nạn CS
tại hải ngoại:
Thứ
nhất: Khi muốn thực hiện việc di dời ngôi mộ tập thể của 200 tử sĩ
VNCH, ông phải “được sự cho phép của VC”.
Tất nhiên ông phải đi đi, về
về, họp hành với chúng nhiều lần, phải chờ đợi chúng xem xét, cân nhắc, quyết
định… Một cựu thành viên của VAF cho biết việc bốc dỡ 200 ngôi mộ này mới đầu
được cấp phép, nhưng chỉ vài ngày sau lại có quyết định hủy bỏ giấy phép; nay
lại thấy ông Thành thông báo là thứ trưởng VC Nguyễn Thanh Sơn đã đồng ý cho
VAF làm (?).
Các cựu quân nhân QLVNCH rất phẫn nộ khi sự việc này được
bạch hóa.
Họ cho việc phải “xin phép” kẻ thù CSVN để “được di dời mộ phần
các chiến hữu, đồng đội của họ tại quê nhà” là một việc làm xúc phạm đến danh
dự của người chiến sĩ QLVNCH. Người chiến sĩ VNCH “vì dân mà chiến đấu”,
và chấp nhận “vì nước mà hy sinh”. 6 chữ Tổ Quốc-Danh Dự-Trách
Nhiệm, họ luôn khắc cốt ghi tâm. Họ đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ “tổ
quốc” VNCH, hoàn thành “trách nhiệm” của 1 người lính, bảo toàn “danh dự” của
người chiến sĩ, của người công dân lúc quốc gia gặp nguy biến. Vậy mà 38
năm sau, đồng đội của họ tính “đi đêm” với kẻ thù, lạy lục kẻ thù chỉ để xin
“một nơi an nghỉ” cho nắm xương tàn của họ hay sao?
Chúng ta hẳn không
quên các chiến sĩ ngày xưa ngoài chiến trường còn chấp nhận “da ngựa bọc thây”,
người chiến sĩ ra đi là chấp nhận “không có ngày trở về”. Các chiến sĩ
của QLVNCH, vì lý tưởng bảo quốc, an dân, đã hy sinh trên khắp 4 vùng chiến
thuật; thân xác họ đã hòa lẫn trong lòng đất mẹ.
Họ cần chi một nấm
mồ đẹp đẽ (?) trong khu nghĩa trang do kẻ thù quản lý. Cải táng cho họ
trong hoàn cảnh này chỉ làm tủi hổ thêm cho vong linh người quá cố, và làm nhục
các đồng đội của họ đang sống đời lưu vong khắp nơi trên thế giới.
Chúng
ta có thể tiếp tay cho việc làm này của ông NĐT và hội VAF hay không? Ông
cựu đại tá Vũ Văn Lộc (nhà văn Giao Chỉ) trong 1 bài có viết đại ý “chúng ta
đang được phát biểu ý kiến, chỉ có người chết thì không nói được (nên không
biết họ muốn gì)?! Lý luận của ông thiếu tính thuyết phục. Ông và
họ cùng chiến đấu nhiều năm chống cùng một kẻ thù, cùng chung 1 lý tưởng; chẳng
lẽ ông không biết họ ước muốn điều gì hay sao?
Họ sống, chiến đấu cho lý
tưởng tự do của miền Nam VN, ngã xuống trước họng súng của kẻ thù CS, và hy
sinh cho lý tưởng của họ. Là người hiểu biết nhiều về lịch sử NTQĐBH, lẽ
ra ông phải tìm cách “bảo vệ” danh dự cho họ, cố vấn cho đàn em làm những
chuyện hợp lý, chứ có đâu lại tiếp tay với đàn em làm những chuyện sai trái như
hiện nay.
Thứ
hai: Chúng ta thừa biết VC chẳng bao giờ xóa bỏ mối hận đối với kẻ
thù đã từng chiến đấu chống lại chúng. Nay ông NĐT, một cựu tù nhân chính
trị đang sống tại hải ngoại, một cựu sĩ quan cấp tá của QLVNCH, một Tổng Hội
Trưởng Tổng Hội HO tại Mỹ, chủ tịch Hội VAF… lại “nhũn nhặn” bắt tay làm việc
với kẻ thù đang thi hành Nghị Quyết 36, cùng xuất hiện với chúng tại
nhiều nơi. Còn hình ảnh nào tốt hơn về việc “hòa hợp, hòa giải” giữa 2 kẻ
cựu thù? Còn cách nào tốt hơn để dẹp sự chống đối của các cộng đồng người
Việt tại hải ngoại?
Chúng
ta nên suy nghĩ sâu xa hơn một chút để thấy việc hòa hợp, hòa giải này chỉ là
giả tạo. Có bao giờ VC thực tâm hòa giải với dân chúng miền Nam hay chưa?
Sau 30-4-1975, người sống thì bị chúng đầy ải cho chết tại các vùng kinh tế
mới, tại các trại tù tập trung cải tạo; thương bệnh binh VNCH bị đuổi ra khỏi
các quân y viện, tử sĩ miền Nam bị đào mồ, xới mả (biết bao nhiêu nghĩa trang
quân đội ở miền Nam đã bị san thành bình địa để chúng lấy đất xây nhà máy, nhà
ở…), thậm chí đồng bào vượt biên bị chết trên biển cả được những người sống sót
xây tấm bia tưởng niệm tại các đảo ở Mã Lai, Nam Dương cũng bị chúng vận động
chính quyền địa phương đục phá… Nay bảo chúng ta tin ở chủ trương hòa
giải dân tộc của VC ư?
Không hề có chuyện VC thực tâm hòa giải với
nhân dân miền Nam .
Ngày
17-2-2013, một số người dân Hà Nội muốn đến đặt vòng hoa tưởng niệm các người
lính của quân đội VC chết trong cuộc chiến tranh biên giới với Tàu năm 1979
cũng bị nhà cầm quyền cấm cản. Đến tháng 3, 2013, thứ trưởng VC Nguyễn
Thanh Sơn lại cùng 1 cựu thiếu tá VNCH đến thắp nhang tại đài tưởng niệm tử sĩ
VNCH! Hai hình ảnh tương phản, và nói lên rất nhiều điều khiến chúng ta
phải suy nghĩ về thiện chí “hòa giải” của VC đối với cựu thù của chúng.
Thứ
ba: Một trong các phương cách VC “bình định” các cộng đồng Việt hải
ngoại là gây chia rẽ, xào xáo, đánh phá lẫn nhau trong cùng cộng đồng, hay thậm
chí trong cùng một tổ chức. Nơi nào tổ chức cộng đồng có lập trường quốc
gia rõ rệt, chúng sẽ hỗ trợ việc lập ra 1 tổ chức cộng đồng không có thái độ
chính trị rõ ràng, chỉ chú trọng đến công tác xã hội, văn hóa, giáo dục…hay
thậm chí còn chịu làm những việc có lợi cho chúng nữa.
Đoàn thể nào chống
cộng quyết liệt, chúng tìm cách lập ra một đoàn thể khác mà chúng có thể lợi
dụng được… Việc tạo mầm mống chia rẽ trong khối người Việt quốc gia chống cộng
này quả đã làm suy yếu lực lượng của chúng ta không ít trong nhiều năm qua.
Sự kiện ông NĐT bắt tay với VC trong dự án “trùng tu NTQĐBH” (?) đang làm cộng
đồng xào xáo, người bênh, kẻ chống, cùng là người tỵ nạn CS nay chỉ trích, kết
án lẫn nhau… Kẻ thủ lợi trong việc này chính là kẻ thù của chúng ta, CSVN.
Thứ
tư: Tuy CSVN đang nắm trọn quyền hành trong nước, chúng gặp
không ít khó khăn trong việc đối phó với các nhà tranh đấu đòi hỏi dân chủ và
nhân quyền trong nước. Những chiến sĩ dân chủ này rất cần sự hỗ trợ của
người Việt hải ngoại, về vật chất cũng như về tinh thần.
Nay họ nhìn thấy
chúng ta bỏ công sức, tiền bạc đóng góp cho 1 công trình do VC đạo diễn, thử
hỏi họ có còn tin vào sự tranh đấu dân chủ hóa nước nhà, vào nỗ lực quang phục
quê hương của chúng ta hay không?
Cộng tác với VC để làm công việc gọi là
“trùng tu NTQĐBH” (?) vào thời điểm này là một bước lùi lớn về mặt sách lược
đối phó với kẻ thù chung của dân tộc, làm nản lòng các lực lượng tranh đấu cho
dân chủ trong nước.
Cái lợi nhỏ tức thời chúng ta thấy trước mắt không
thể bù đắp được những tai hại lớn lâu dài mà công việc này sẽ gây ra.
Thứ
năm: Tuy bị bắt buộc buông súng sau ngày 30-4-1975, bị kẻ thù
hỗn láo gọi là “kẻ thua cuộc”, các chiến sĩ VNCH vẫn không đầu hàng kẻ thù CS.
Họ tiếp tục tranh đấu trên nhiều mặt trận khác: chính trị, văn hóa, giáo
dục, văn nghệ, xã hội, truyền thông… Họ còn phải tranh đấu chống kẻ nội thù
ngay trong cộng đồng, thậm chí ngay trong tổ chức đoàn thể của mình, những kẻ
nhiều khi mang danh nghĩa đồng hương, chiến hữu, nhưng không ngại phản bội
chúng ta.
Cuộc chiến còn tiếp diễn thì chúng ta không thể hành xử như khi
cuộc chiến đã thực sự chấm dứt (cựu thù có thể bắt tay cùng nhau hàn gắn những
vết thương chiến tranh, bên thắng vực người thua đứng dậy trong tình đồng hương
hay đồng loại).
Cuộc chiến còn tiếp diễn thì chúng ta dứt khoát không thể
tiếp tay nuôi dưỡng kẻ thù, không thể giúp chúng xóa bỏ tội ác với đồng bào,
không thể giúp chúng khoác bộ áo nhân đạo, mang bộ mặt nhân nghĩa giả dối…
Thứ
sáu: Việc các chiến sĩ trong quân đội VNCH hy sinh để bảo vệ
tổ quốc, bảo vệ nếp sống tự do, dân chủ cho nhân dân miền Nam là một hy sinh
tối thượng. Chúng ta thương yêu, kính trọng họ, và tổ quốc VNCH ghi ơn
họ. Họ đã hy sinh thân mạng, gia đình họ phải chịu thiệt thòi để cho bản thân
chúng ta và con cháu chúng ta được sống còn sau cuộc chiến, và có cơ hội xây
dựng cuộc sống mới tại các nước tự do.
Tình cảm của chúng ta đối với họ
hẳn là chân thật, đáng tin hơn tình cảm của VC đối với kẻ thù chống lại chúng,
tình cảm của “mèo khóc chuột” đầy giả dối. Chúng ta không phải là những
kẻ vô nhân đạo, thiếu lương tâm khi chống đối việc làm của ông NĐT và hội
VAF của ông ta trong dự án bốc mộ tử sĩ VNCH vào khu nghĩa trang của VC, Nghĩa
Trang Nhân Dân Huyện Dĩ An!
Kết
luận, chúng ta không thể tin tưởng CSVN trong bất cứ điều gì chúng làm, vì
không bao giờ chúng làm mà không có tính toán, không có ý trục lợi.
Cố
tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từng nhắc nhở chúng ta: “Đừng tin những gì Cộng sản
nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”.
CSVN là một tên đại bịp, chúng
đánh lừa tất cả mọi người, những người dám tranh đấu chống lại chúng, thậm chí
chúng lừa cả nhân dân, và đồng chí của chúng nữa.
Chủ nghĩa Mác-Lê dạy
người CS “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, nên phương tiện nào đối với CS
cũng đều tốt miễn giúp họ đạt mục đích.
Phương cách hành động của CS có thể
thay đổi theo từng giai đoạn, nhưng mục tiêu của họ thì không.
Là nạn
nhân của CS trong nhiều thập kỷ, bị CS lừa bịp nhiều phen, chúng ta cần hết sức
thận trọng.
Việc
hậu sự cho tử sĩ VNCH, lo cho họ được mồ yên, mả đẹp có nơi an nghỉ bình yên là
“trách nhiệm nặng nề” của chúng ta đối với họ, chứ không phải là một việc làm
“nhân đạo”, một công tác “từ thiện”. Trách nhiệm này chúng ta chưa thực hiện
được vào thời điểm này, vì kẻ thù còn thống trị đất nước, di hài của tử sĩ VNCH
còn nằm trong tay giặc, và chúng ta vẫn còn đang sống đời lưu vong khắp nơi
trên thế giới.
Chúng ta sẽ hoàn thành trách nhiệm này đối với đồng đội,
chiến hữu của chúng ta khi hoàn cảnh thuận lợi hơn, khi mọi việc được “danh
chánh”, và nhất là khi “danh dự” người tử sĩ VNCH không bị lợi dụng cho
mưu đồ bất chánh của kẻ thù CS.
VẤN ĐỀ TRÙNG TU…
“NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA”
Nguyễn Quốc Đống
Cựu SVSQ K.13,
TVBQGVN
Ngày 2 tháng 4,
2013
Khoảng giữa tháng
3, 2013 đồng bào Việt hải ngoại nghe được tin tức về việc trùng tu Nghĩa Trang
Quân Đội Biên Hòa (NTQĐBH) ở Việt Nam, việc di dời nấm mộ tập thể của khoảng
200 tử sĩ VNCH từ bên ngoài vào trong Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện Dĩ An
(NTNDHDA), việc chỉnh trang khu vực bên trong nghĩa trang, sửa sang các ngôi mộ
hoang phế… Người phụ trách công việc đặc biệt này là ông Nguyễn Đạc Thành
(NĐT). Ông Thành cho biết ông thực hiện việc này vì lý do nhân đạo, vì
tình chiến hữu đối với các đồng đội cũ của ông… Tháng 3, 2013, một số hình ảnh
được phổ biến trên internet: hình ông Thành thắp nhang ở đài tưởng niệm của
nghĩa trang cùng thứ trưởng VC Nguyễn Thanh Sơn, chủ tịch Ủy Ban phụ trách
Người Việt ở nước ngoài, cũng là người chịu trách nhiệm thực thi Nghị Quyết 36
tại hải ngoại; hình ông Thành thắp nhang cùng ông Lê Thành Ân, tổng lãnh sự Hoa
kỳ tại Saigon. Vậy là tin tức “Việt Cộng trùng tu NTQĐBH” (?) trở thành 1
đề tài khiến rất nhiều người quan tâm. Tôi xin có một số ý kiến về vấn đề
này như sau:
1-Ông Nguyễn Đạc
Thành là ai?
Ông Nguyễn Đạc
Thành là 1 cựu thiếu tá thiết giáp của QLVNCH, cũng là 1 cưụ tù nhân chính trị
sang Mỹ theo chương trình HO, và hiện là 1 cư dân của thành phố Houston, tiểu
bang Texas. Qua các tin tức phổ biến trên truyền thanh (BBC), truyền hình
(SBTN), hay báo chí ( Người Việt , Nam California )…, chúng ta được biết ông
Thành là người điều hành tổ chức Vietnamese American Foundation (VAF) do ông
thành lập. Trước đây, tổ chức này phát động chương trình The Returning Casualty
(TRC), tức là “Đưa Người Tử Sĩ Trở Về”, còn được biết dưới tên là “Bông Hồng
Trên Nấm Mộ Hoang”. Chương trình này được sự yểm trợ tinh thần, tài chánh
của một số đồng hương, của một số anh em cựu quân nhân, và đã thực hiện
được việc di dời hài cốt của một số tù nhân chết trong trại cải tạo. Theo
ông phó chủ tịch VAF (2012) tại Làng Đá, tỉnh Yên Bái, TRC đã thực hiện được
việc di dời 20 ngôi mộ. Sau đó, Hội dự tính di dời một số mộ tại tỉnh Phú
Yên, nhưng sau 3 lần liên tiếp bị trì hoãn vẫn không xin được phép của nhà cầm
quyền nên công việc không thành. Cuối cùng, vị phó chủ tịch của VAF
đã quyết định rút lui khỏi chức vụ này. Tại thời điểm này (2012), những
người biết chuyện vẫn tin rằng ông NĐT là người có thiện chí, và ông làm những
việc di dời, bốc mộ tù nhân cải tạo, hay mộ của tử sĩ VNCH vì lý do nhân đạo,
vì tình chiến hữu… Sau khi ông phó chủ tịch và một số thành viên rút khỏi
VAF, chúng tôi được biết một số bạn trẻ trong nước, tự nhận là thân nhân của tử
sĩ VNCH(?) đã cùng ông Thành điều hành VAF.
2- Công việc “di
dời mộ tử sĩ VNCH” của ông NĐT năm 2013:
Ngày 21 tháng 3,
2013, VAF ra thông báo về việc bốc dỡ hài cốt trong 1 ngôi mộ tập thể ở
bên ngoài (?) vào trong khuôn viên Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện Dĩ An. Ông
Thành cho biết “Ngày 1 tháng 3, 2013, Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn
thông báo rằng: lời yêu cầu của VAF xin bốc dỡ và di chuyển hài cốt trong ngôi
mộ tập thể của khoảng 200 tử sĩ VNCH vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đã được
chấp thuận…. Đây là những chiến sĩ đã hy sinh khi phòng thủ Saigon trong khoảng
thời gian trước và trong ngày 30/4/1975. Những thi hài này trước khi chôn
cất, được bỏ trong bọc nylon, nên dự đoán có thẻ bài căn cước kèm theo. Theo
lời Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn, việc bốc dỡ và di dời tùy
theo quyết định của VAF…” Ông Thành xin ý kiến đồng hương và cựu quân
nhân QLVNCH về việc bốc dỡ: nên hay không nên (lý do nên, lý do không nên).
Hội VAF chỉ thu nhận ý kiến đóng góp trong thời hạn 60 ngày, rồi sẽ ra quyết
định cuối cùng. Nếu có quyết định bốc dỡ, VAF “kêu gọi đồng bào cùng
các chiến hữu bảo trợ công việc này”.
3- Ý kiến của
đồng hương Việt hải ngoại về việc bốc dỡ ngôi mộ tập thể nói trên:
Một số tán thành
công việc này, cho đây là một việc đáng làm, giúp tử sĩ VNCH được “an nghỉ
trong nghĩa trang”, tức là được “về nhà của họ, khỏi phải vất vưởng ở ngoài
nghĩa trang, trong khu vực của Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An, nơi không phải nhà
của họ…” Có người viết bài ca tụng việc làm của ông Thành là “đầy nhân đạo, đầy
tình chiến hữu, nặng đạo lý con người”…
Rất đông đồng
hương Việt, kể cả giới dân sự và cựu quân nhân đã lên tiếng phản đối việc làm
này của ông Thành trên các diễn đàn điện tử. Chúng ta thử tìm hiểu tại
sao việc làm mà ông Thành cho là “nhân đạo”, cũng được một số người tán thành
là “nhân đạo” lại bị nhiều người phản đối như vậy?
4- Các việc làm
của ông NĐT có nhiều điểm không minh bạch nên gây sự nghi ngờ của đồng hương
Việt tại hải ngoại:
Thứ nhất: Cách đây nhiều
năm, ông NĐT đã đứng ra thành lập 1 tổ chức cho các cựu tù nhân chính trị mang
tên là Tổng Hội HO, nhưng không được hưởng ứng. Trong thời gian này, tại
hải ngoại đã có Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam (THCTNCTVN), hoạt động
cùng với nhiều thành viên là các khu hội Cựu Tù Nhân Chính Trị tại các tiểu
bang của Hoa Kỳ, và Canada . Đồng bào hải ngoại không rõ đường lối hoạt
động của Tổng Hội HO này, không rõ hội này có thể hiện lập trường quốc gia, giữ
lằn ranh Quốc-Cộng như THCTNCTVN hay không. Việc lập thêm 1 Tổng Hội HO
như vậy không thể hiện tình đoàn kết giữa các chiến hữu đã cùng nhau chiến đấu,
và cùng chung số phận bị CS đầy đọa nhiều năm trong các trại tù.
Thứ hai: Một thời gian
sau, ông Thành đã lập hội VAF để thực hiện chương trình “Bông Hồng Trên Nấm Mộ
Hoang”. Ông là 1 cư dân tại Mỹ, muốn thực hiện 1 chương trình có tầm vóc
to lớn liên quan đến các tử sĩ VNCH, liên quan đến nhiều gia đình có thân nhân
là tử sĩ VNCH, có thân nhân là tù cải tạo chết trong các trại tù CS, có thể với
hy vọng sẽ được chính quyền Mỹ yểm trợ. Thế mà ông không tham khảo rộng rãi ý
kiến của đồng hương tại Mỹ, và cũng không tổ chức gây quỹ tại Mỹ. Trái
lại, ông Thành cho thực hiện 3 buổi gây quỹ ở Úc (năm 2010).
Thứ ba: Sau việc
gây quỹ bốc mộ được tổ chức tại Brisbane, Melbourne (Úc) vào tháng 6, 2010, tổ
chức cựu quân nhân Queensland mời ông Thành đến để trả lời một số thắc mắc liên
quan đến việc bốc mộ tử sĩ VNCH thì ông đã không đến dự
như ông đã hứa.
Thứ tư: Trong Thông Báo
ngày 21-3-2013, ông cho đồng hương biết ông sẽ tiến hành việc di dời ngôi mộ
tập thể cạnh nghĩa trang vào trong khuôn viên “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa”
(?). Ở đây chúng ta cần phải xác định rõ một điều: Nghĩa Trang Nhân Dân
Huyện Dĩ An (NTNDHDA) hiện nay là của CSVN; còn Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
(NTQĐBH) ngày xưa là của chính quyền VNCH. Hiện nay, NTNDHDA chỉ gồm 1
phần đất của NTQĐBH ngày xưa; còn NTQĐBH thì bao gồm cả NTNDHDA, và khuôn viên
của Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An (TCĐNĐA) hiện tại. Nói rõ hơn, ngôi mộ
tập thể của 200 tử sĩ VNCH hiện đang nằm trong khuôn viên của TCĐNĐA vốn dĩ nằm
trong phần đất của NTQĐBH ngày xưa. Nay ông Thành muốn di dời 200 ngôi mộ
này vào trong khuôn viên của NTNDHDA của CS thì có khác gì giúp nhà cầm quyền
CS hoàn tất việc cướp đất của NTQĐBH một cách “danh chánh ngôn thuận” (theo lời
yêu cầu của thân nhân tử sĩ mà!)
Thứ năm: Về ngôi mộ tập
thể của 200 tử sĩ VNCH cạnh khu nghĩa trang, ông Thành cho biết đó là nơi chôn
cất “những chiến sĩ đã hy sinh khi phòng thủ Saigon trong khoảng thời
gian trước và trong ngày 30/4/1975”. Ngày 30/4/1975, Saigon đang
trong cơn hỗn loạn. Mọi người đang lo chạy giặc Cộng tràn về thủ đô, ai
có thì giờ đi thu gom xác tử sĩ VNCH khắp nơi trong Saigon để đem về chôn tại
cạnh nghĩa trang?! Tôi nghĩ đây phải là di hài của các tử sĩ từ các mặt
trận đã được đem về nghĩa trang trước đó. Việc hậu sự cho các tử sĩ chưa
được hoàn tất thì Saigon thất thủ nên có thể các di hài này đã bị VC chôn
chung trong một nấm mồ tập thể tại NTQĐBH. Ngày 30-4-1975,
đạo quân xâm lược miền Bắc đã giật đổ pho tượng Thương Tiếc tại cổng Nghĩa
Trang, và kể từ đó chúng quản lý rất nghiêm ngặt toàn thể khu nghĩa trang.
Một thời gian sau, một phần đất nghĩa trang được chuyển thành khu vực của
Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An, một bức tường ngăn cách nghĩa trang và trường dạy
nghề được xây lên, và ngôi mộ tập thể của 200 tử sĩ VNCH trước nằm trong khu
đất của nghĩa trang, nay thành ra nằm bên ngoài nghĩa trang. Vậy CSVN
chính là thủ phạm “xâm phạm nơi an nghỉ của tử sĩ VNCH”. Nay ông Thành
lại hô hào đồng bào hải ngoại góp tiền cho ông làm việc “nhân đạo” là đưa “tử
sĩ VNCH về nhà của họ”, trong Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện Dĩ An (!)
Thứ sáu: Cũng trong
Thông Báo của VAF ngày 21-3-2013, ông Thành cho biết “Ngôi mộ tập thể
này đã được Ban Giám Đốc Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An tu bổ, chăm sóc, và trân
trọng đèn nhang hàng ngày. Mỗi tháng đều có lễ vật cúng kiến vào ngày
mùng HAI và 16 âm lịch”. Nay theo kế hoạch của ông Thành, khi được
di dời vào trong khu vực nghĩa trang, dưới sự quản lý chặt chẽ của CS, các ngôi
mộ này sẽ được ai chăm sóc, đèn nhang hàng ngày? Như vậy việc di chuyển
từ ngoài khu nghĩa trang vào trong khuôn viên nghĩa trang là tốt hơn, hay tệ
hơn? Một người bạn ở cùng tiểu bang với tôi, cũng là một cựu tù nhân
chính trị, kể cho tôi nghe chuyện anh đến thăm khu nghĩa trang Biên Hòa năm
2011, mục đích chỉ là thắp nhang cho chiến hữu ngày xưa. Khi anh đến,
người canh gác nghĩa trang chặn anh lại hỏi “ anh là ai, ở đâu đến, đến nghĩa
trang làm gì, thăm ai, người chết tên gì, cấp bậc gì, đơn vị nào…” Tóm lại, VC
kiểm soát việc ra vào nghĩa trang rất nghiêm ngặt, không phải ai cũng có thể ra
vào thăm viếng mộ tử sĩ dễ dàng. Chỉ một việc đơn giản là viếng mộ người
chết, thắp nhang trước mộ phần họ còn bị VC gây khó dễ. Nay một việc
trọng đại như bốc dỡ và di dời mộ của 200 tử sĩ VNCH do ông Thành dự định thực
hiện lại được VC ưu ái, dành cho mọi sự dễ dàng (trích Thông Báo VAF: việc
bốc dỡ và di dời tùy theo quyết định của VAF), làm sao mọi người không đặt một
dấu hỏi.
Trong thời gian
VC còn giam tù các quân, dân, cán, chính VNCH, rất nhiều anh em bị thiệt mạng
tại các trại tù miền Bắc, và đã bị chôn vùi dập ở khu vực quanh trại. Nếu
gia đình biết tin, tìm đến trại, sẽ được yêu cầu làm đơn xin phép Bộ Nội Vụ, và
có thể tiến hành việc bốc mộ thân nhân. Chương trình TRC tuyên bố
đã tìm được 240 ngôi mộ, và giúp khoảng 50 gia đình di dời hài cốt của thân
nhân chết trong các trại tù. Không rõ 240 ngôi mộ nêu trên có thân nhân
đến nhận không; và trường hợp nếu không tìm được thân nhân thì TRC có kế hoạch
đưa họ về nhà không, và sẽ đưa về đâu?
Thứ bảy: Về
việc di dời ngôi mộ của 200 tử sĩ VNCH, ông Thành cho biết sẽ lấy ý kiến của
đồng bào và cựu quân nhân QLVNCH trong vòng 60 ngày kể từ ngày ra Thông Báo
(21-3-2013). Sau đó, hội VAF của ông sẽ “thông báo đến đồng bào quyết
định cuối cùng”. Ông lấy tư cách gì để quyết định về việc di dời ngôi
mộ tập thể nói trên? Ông Thành không phải là người quản lý có thẩm quyền
của 200 di hài này; ông cũng chẳng là thân nhân của bất cứ tử sĩ nào nằm trong
nấm mộ trên; ông cũng chẳng phải là người có trách nhiệm đối với các tử sĩ
của QLVNCH (quốc gia VNCH đã không còn nữa). Vậy rõ ràng ông đang
nhận công tác “hợp thức hóa” việc dời ngôi mộ tập thể của 200 tử sĩ VNCH từ
Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa của VNCH vào Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện Dĩ An của
CSVN. Chính ông thú nhận “chính phủ Việt Nam không cho phép thì không
thể làm được bất cứ điều gì”. Đồng bào hải ngoại nghĩ thế nào về việc
làm thiếu trong sáng này, một việc làm đã được CS mưu tính, và sẽ gây ra rất
nhiều hệ lụy cho người Việt Tỵ Nạn CS chúng ta tại hải ngoại.
Thứ tám: Ông Thành
kêu gọi người Việt hải ngoại tiếp tay với ông trong việc “trùng tu Nghĩa
Trang Quân Đội Biên Hòa” (?). Chúng ta nên tự đặt câu hỏi “Hiện nay “ai
là chủ của khu đất này?” “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” là tài sản của
quốc gia VNCH. Công dân của VNCH chỉ có trách nhiệm, và có thể tu bổ 1
thứ là tài sản của VNCH, chứ không có trách nhiệm và cũng không có quyền tu bổ
1 thứ không phải là tài sản của mình. Lấy 1 thí dụ đơn giản như sau: bạn
có thể tu bổ nhà cửa, vườn tược của bạn, chứ bạn có quyền tu bổ nhà cửa hay
vườn của ông hàng xóm hay không? Ông hàng xóm nào của bạn mà lại tử tế
(hay ngu xuẩn) đến độ cho phép bạn “tùy ý tu bổ, sửa sang” nhà của ông ấy như
vậy? Vì thế công việc mà ông Thành muốn thực hiện không “chính danh”, và
vì không chính danh nên lời tuyên bố của ông “không thuận” tai người nghe.
Thứ chín: Ông Thành
nghĩ việc di dời ngôi mộ tập thể của 200 tử sĩ VNCH vào khuôn viên nghĩa trang
là “bảo vệ” di cốt của các chiến hữu. Điều này có chắc không? Chúng
ta đã chứng kiến biết bao vụ “quy hoạch” đất đai dưới chế độ CS, thực chất là
chiếm nhà, chiếm đất, chiếm ruộng vườn của người dân. Nạn nhân không chỉ
là những “ngụy quân, ngụy dân”, mà còn là “gia đình có công với cách mạng, là
bộ đội, là mẹ chiến sĩ”… Cả ngàn người trở thành dân oan phải nhọc nhằn đi
khiếu kiện nhiều năm với quốc hội CSVN, với chính quyền trung ương về các chiếm
dụng đất đai bất hợp lệ của các cán bộ địa phương. “Nghĩa Trang Quân Đội
Biên Hòa” của chúng ta nay đã được cải danh thành “Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện
Dĩ An”, tức tài sản của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam , chịu sự
quản lý của nhà nước CSVN. Ai cấm VC, một ngày xấu trời nào đó, chúng quy
hoạch lại khu đất này, bán cho 1 công ty nào đó (vì nhu cầu phát triển của địa
phương chẳng hạn)? Đồng bào hải ngoại sẽ có trở thành “Việt Kiều oan”
phải đi khiếu kiện với nhà nước CS để chống việc di dời nghĩa trang không?
5- Việc làm của
ông NĐT gây ra những hệ lụy nào cho cộng đồng người Việt Tỵ Nạn CS tại hải
ngoại:
Thứ nhất: Khi muốn thực
hiện việc di dời ngôi mộ tập thể của 200 tử sĩ VNCH, ông phải “được sự cho phép
của VC”. Tất nhiên ông phải đi đi, về về, họp hành với chúng nhiều lần,
phải chờ đợi chúng xem xét, cân nhắc, quyết định… Một cựu thành viên của VAF
cho biết việc bốc dỡ 200 ngôi mộ này mới đầu được cấp phép, nhưng chỉ vài ngày
sau lại có quyết định hủy bỏ giấy phép; nay lại thấy ông Thành thông báo là thứ
trưởng VC Nguyễn Thanh Sơn đã đồng ý cho VAF làm (?). Các cựu quân nhân
QLVNCH rất phẫn nộ khi sự việc này được bạch hóa. Họ cho việc phải “xin
phép” kẻ thù CSVN để “được di dời mộ phần các chiến hữu, đồng đội của họ tại
quê nhà” là một việc làm xúc phạm đến danh dự của người chiến sĩ QLVNCH. Người
chiến sĩ VNCH “vì dân mà chiến đấu”, và chấp nhận “vì nước mà hy sinh”.
6 chữ Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm, họ luôn khắc cốt ghi tâm. Họ đã chiến
đấu anh dũng để bảo vệ “tổ quốc” VNCH, hoàn thành “trách nhiệm” của 1 người
lính, bảo toàn “danh dự” của người chiến sĩ, của người công dân lúc quốc gia
gặp nguy biến. Vậy mà 38 năm sau, đồng đội của họ tính “đi đêm” với kẻ
thù, lạy lục kẻ thù chỉ để xin “một nơi an nghỉ” cho nắm xương tàn của họ hay
sao? Chúng ta hẳn không quên các chiến sĩ ngày xưa ngoài chiến trường còn
chấp nhận “da ngựa bọc thây”, người chiến sĩ ra đi là chấp nhận “không có ngày
trở về”. Các chiến sĩ của QLVNCH, vì lý tưởng bảo quốc, an dân, đã hy
sinh trên khắp 4 vùng chiến thuật; thân xác họ đã hòa lẫn trong lòng đất mẹ.
Họ cần chi một nấm mồ đẹp đẽ (?) trong khu nghĩa trang do kẻ thù quản lý.
Cải táng cho họ trong hoàn cảnh này chỉ làm tủi hổ thêm cho vong linh người quá
cố, và làm nhục các đồng đội của họ đang sống đời lưu vong khắp nơi trên thế
giới.
Chúng ta có thể
tiếp tay cho việc làm này của ông NĐT và hội VAF hay không? Ông cựu đại
tá Vũ Văn Lộc (nhà văn Giao Chỉ) trong 1 bài có viết đại ý “chúng ta đang được
phát biểu ý kiến, chỉ có người chết thì không nói được (nên không biết họ muốn
gì)?! Lý luận của ông thiếu tính thuyết phục. Ông và họ cùng chiến
đấu nhiều năm chống cùng một kẻ thù, cùng chung 1 lý tưởng; chẳng lẽ ông không
biết họ ước muốn điều gì hay sao? Họ sống, chiến đấu cho lý tưởng tự do
của miền Nam VN, ngã xuống trước họng súng của kẻ thù CS, và hy sinh cho lý tưởng
của họ. Là người hiểu biết nhiều về lịch sử NTQĐBH, lẽ ra ông phải tìm
cách “bảo vệ” danh dự cho họ, cố vấn cho đàn em làm những chuyện hợp lý, chứ có
đâu lại tiếp tay với đàn em làm những chuyện sai trái như hiện nay.
Thứ hai: Chúng ta thừa
biết VC chẳng bao giờ xóa bỏ mối hận đối với kẻ thù đã từng chiến đấu chống lại
chúng. Nay ông NĐT, một cựu tù nhân chính trị đang sống tại hải ngoại,
một cựu sĩ quan cấp tá của QLVNCH, một Tổng Hội Trưởng Tổng Hội HO tại Mỹ, chủ
tịch Hội VAF… lại “nhũn nhặn” bắt tay làm việc với kẻ thù đang thi hành
Nghị Quyết 36, cùng xuất hiện với chúng tại nhiều nơi. Còn hình ảnh nào
tốt hơn về việc “hòa hợp, hòa giải” giữa 2 kẻ cựu thù? Còn cách nào tốt
hơn để dẹp sự chống đối của các cộng đồng người Việt tại hải ngoại?
Chúng ta nên suy
nghĩ sâu xa hơn một chút để thấy việc hòa hợp, hòa giải này chỉ là giả tạo.
Có bao giờ VC thực tâm hòa giải với dân chúng miền Nam hay chưa? Sau
30-4-1975, người sống thì bị chúng đầy ải cho chết tại các vùng kinh tế mới,
tại các trại tù tập trung cải tạo; thương bệnh binh VNCH bị đuổi ra khỏi các
quân y viện, tử sĩ miền Nam bị đào mồ, xới mả (biết bao nhiêu nghĩa trang quân
đội ở miền Nam đã bị san thành bình địa để chúng lấy đất xây nhà máy, nhà ở…),
thậm chí đồng bào vượt biên bị chết trên biển cả được những người sống sót xây
tấm bia tưởng niệm tại các đảo ở Mã Lai, Nam Dương cũng bị chúng vận động chính
quyền địa phương đục phá… Nay bảo chúng ta tin ở chủ trương hòa giải dân
tộc của VC ư? Không hề có chuyện VC thực tâm hòa giải với nhân dân
miền Nam .
Ngày 17-2-2013,
một số người dân Hà Nội muốn đến đặt vòng hoa tưởng niệm các người lính của
quân đội VC chết trong cuộc chiến tranh biên giới với Tàu năm 1979 cũng bị nhà
cầm quyền cấm cản. Đến tháng 3, 2013, thứ trưởng VC Nguyễn Thanh Sơn lại
cùng 1 cựu thiếu tá VNCH đến thắp nhang tại đài tưởng niệm tử sĩ VNCH! Hai
hình ảnh tương phản, và nói lên rất nhiều điều khiến chúng ta phải suy nghĩ về
thiện chí “hòa giải” của VC đối với cựu thù của chúng.
Thứ ba: Một trong các
phương cách VC “bình định” các cộng đồng Việt hải ngoại là gây chia rẽ, xào
xáo, đánh phá lẫn nhau trong cùng cộng đồng, hay thậm chí trong cùng một tổ
chức. Nơi nào tổ chức cộng đồng có lập trường quốc gia rõ rệt, chúng sẽ
hỗ trợ việc lập ra 1 tổ chức cộng đồng không có thái độ chính trị rõ ràng, chỉ
chú trọng đến công tác xã hội, văn hóa, giáo dục…hay thậm chí còn chịu làm
những việc có lợi cho chúng nữa. Đoàn thể nào chống cộng quyết liệt,
chúng tìm cách lập ra một đoàn thể khác mà chúng có thể lợi dụng được… Việc tạo
mầm mống chia rẽ trong khối người Việt quốc gia chống cộng này quả đã làm suy
yếu lực lượng của chúng ta không ít trong nhiều năm qua. Sự kiện ông NĐT
bắt tay với VC trong dự án “trùng tu NTQĐBH” (?) đang làm cộng đồng xào xáo,
người bênh, kẻ chống, cùng là người tỵ nạn CS nay chỉ trích, kết án lẫn nhau…
Kẻ thủ lợi trong việc này chính là kẻ thù của chúng ta, CSVN.
Thứ tư: Tuy CSVN
đang nắm trọn quyền hành trong nước, chúng gặp không ít khó khăn trong việc đối
phó với các nhà tranh đấu đòi hỏi dân chủ và nhân quyền trong nước. Những
chiến sĩ dân chủ này rất cần sự hỗ trợ của người Việt hải ngoại, về vật chất
cũng như về tinh thần. Nay họ nhìn thấy chúng ta bỏ công sức, tiền bạc
đóng góp cho 1 công trình do VC đạo diễn, thử hỏi họ có còn tin vào sự tranh
đấu dân chủ hóa nước nhà, vào nỗ lực quang phục quê hương của chúng ta hay
không? Cộng tác với VC để làm công việc gọi là “trùng tu NTQĐBH” (?) vào
thời điểm này là một bước lùi lớn về mặt sách lược đối phó với kẻ thù chung của
dân tộc, làm nản lòng các lực lượng tranh đấu cho dân chủ trong nước. Cái
lợi nhỏ tức thời chúng ta thấy trước mắt không thể bù đắp được những tai hại
lớn lâu dài mà công việc này sẽ gây ra.
Thứ năm: Tuy bị bắt
buộc buông súng sau ngày 30-4-1975, bị kẻ thù hỗn láo gọi là “kẻ thua cuộc”,
các chiến sĩ VNCH vẫn không đầu hàng kẻ thù CS. Họ tiếp tục tranh đấu
trên nhiều mặt trận khác: chính trị, văn hóa, giáo dục, văn nghệ, xã hội,
truyền thông… Họ còn phải tranh đấu chống kẻ nội thù ngay trong cộng đồng, thậm
chí ngay trong tổ chức đoàn thể của mình, những kẻ nhiều khi mang danh nghĩa
đồng hương, chiến hữu, nhưng không ngại phản bội chúng ta. Cuộc chiến còn
tiếp diễn thì chúng ta không thể hành xử như khi cuộc chiến đã thực sự chấm dứt
(cựu thù có thể bắt tay cùng nhau hàn gắn những vết thương chiến tranh, bên
thắng vực người thua đứng dậy trong tình đồng hương hay đồng loại). Cuộc
chiến còn tiếp diễn thì chúng ta dứt khoát không thể tiếp tay nuôi dưỡng kẻ
thù, không thể giúp chúng xóa bỏ tội ác với đồng bào, không thể giúp chúng
khoác bộ áo nhân đạo, mang bộ mặt nhân nghĩa giả dối…
Thứ sáu: Việc các
chiến sĩ trong quân đội VNCH hy sinh để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nếp sống tự do,
dân chủ cho nhân dân miền Nam là một hy sinh tối thượng. Chúng ta thương
yêu, kính trọng họ, và tổ quốc VNCH ghi ơn họ. Họ đã hy sinh thân mạng, gia
đình họ phải chịu thiệt thòi để cho bản thân chúng ta và con cháu chúng ta được
sống còn sau cuộc chiến, và có cơ hội xây dựng cuộc sống mới tại các nước tự
do. Tình cảm của chúng ta đối với họ hẳn là chân thật, đáng tin hơn tình
cảm của VC đối với kẻ thù chống lại chúng, tình cảm của “mèo khóc chuột” đầy
giả dối. Chúng ta không phải là những kẻ vô nhân đạo, thiếu lương tâm
khi chống đối việc làm của ông NĐT và hội VAF của ông ta trong dự án bốc
mộ tử sĩ VNCH vào khu nghĩa trang của VC, Nghĩa Trang Nhân Dân Huyện Dĩ An!
Kết luận, chúng
ta không thể tin tưởng CSVN trong bất cứ điều gì chúng làm, vì không bao giờ
chúng làm mà không có tính toán, không có ý trục lợi. Cố tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu từng nhắc nhở chúng ta: “Đừng tin những gì Cộng sản nói, hãy
nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”. CSVN là một tên đại bịp, chúng đánh lừa
tất cả mọi người, những người dám tranh đấu chống lại chúng, thậm chí chúng lừa
cả nhân dân, và đồng chí của chúng nữa. Chủ nghĩa Mác-Lê dạy người CS
“cứu cánh biện minh cho phương tiện”, nên phương tiện nào đối với CS cũng đều
tốt miễn giúp họ đạt mục đích. Phương cách hành động của CS có thể thay
đổi theo từng giai đoạn, nhưng mục tiêu của họ thì không. Là nạn nhân của
CS trong nhiều thập kỷ, bị CS lừa bịp nhiều phen, chúng ta cần hết sức thận
trọng.
Việc hậu sự cho
tử sĩ VNCH, lo cho họ được mồ yên, mả đẹp có nơi an nghỉ bình yên là “trách
nhiệm nặng nề” của chúng ta đối với họ, chứ không phải là một việc làm “nhân
đạo”, một công tác “từ thiện”. Trách nhiệm này chúng ta chưa thực hiện
được vào thời điểm này, vì kẻ thù còn thống trị đất nước, di hài của tử sĩ VNCH
còn nằm trong tay giặc, và chúng ta vẫn còn đang sống đời lưu vong khắp nơi
trên thế giới. Chúng ta sẽ hoàn thành trách nhiệm này đối với đồng đội,
chiến hữu của chúng ta khi hoàn cảnh thuận lợi hơn, khi mọi việc được “danh
chánh”, và nhất là khi “danh dự” người tử sĩ VNCH không bị lợi dụng cho
mưu đồ bất chánh của kẻ thù CS.
Cuối tháng 3/75 tuyến đầu thất thủ [1]
1975: Việt Nam có thắng Mỹ?
1975: Việt Nam có thắng Mỹ?

Tin liên hệ
Trọng Đạt
Tình hình chung
Sau tháng 1/1973 VC vẫn
tiếp tục vi phạm Hiệp định Paris, cuộc chiến vẫn tiếp diễn nhưng VNCH còn đủ
mạnh, khoảng cuối 1973 Hạ viện Mỹ bắt đầu cắt giảm viện trợ 50% mỗi năm 1974,
1975 khiến miền Nam ngày càng suy yếu, CS ngày càng mạnh hơn . Ông Nguyễn đức
Phương dựa theo M.Maclear (Vietnam: The ten Thousand Day war) cho biết
vào ngày mất Ban Mê Thuột 13/3/1975 Hạ viện Mỹ bác bỏ 300 triệu viện trợ bổ túc
cho VNCH do TT Ford đệ trình. Đại sứ Martin cũng thông báo cho TT Thiệu biết
quân viện cho năm tới (1976) sẽ không được chuẩn chi (Chiến Tranh Việt
Nam Toàn Tập trang 732). Tin sét đánh đã khiến TT Thiệu mất tinh thần để
rồi đi từ sai lầm này đến sai lầm khác.
Nói trắng ra Hạ Viện Mỹ
đã cạn tầu ráo máng buộc miền nam VN phải đầu hàng CS. Trong khi tại chính
trường nước Mỹ vấn đề VN không được ai quan tâm tới, chỉ còn TT Ford và người
phụ tá Kissinger cố gắng một cách tuyệt vọng để xin chút phương tiện cho VNCH. Vào
lúc này đảng Dân Chủ nắm đại đa số Quốc hội Mỹ (67% Hạ viện và 60% Thượng
viện), họ chống chiến tranh VN tích cực, đảng nọ phá đảng kia, bao giờ cũng
vậy, ai cũng đều biết cả. Theo nhận xét của Kissinger (Years of Renewal trang
464) thì TT Ford không tìm được giải pháp nào để thoát ra khỏi sự bế tắc, thảm
kịch không thể nào tránh khỏi.
(… there were no easy,
heretofore undiscovered way out of this morass…
The tragedy had become
simply inevitable.)
Gerald Ford chẳng khác
nào một ông Tổng thống bù nhìn, lại nữa ông đã không do dân bầu, lên thay thế
TT Nixon khi mà đảng Cộng Hòa bị mất quá nhiều uy tín qua vụ tai tiếng
Watergate.
Tình hình miền nam VN
lúc này quá u ám, Hoa Kỳ đã bắt tay được Trung Cộng tháng 2/1972 và hòa được
với Sô Viết tháng 5/1972, thuyết Domino không còn ý nghĩa. Bây giờ là lúc họ
quẳng cái miếng xương Đông Dương đi, được Cộng sản quốc tế khuyến khích, Hà Nội
mừng rú vội chạy lại vồ ngay lấy. Năm 2006 trên internet tôi thấy có người hỏi
cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn:
“Chúng ta đã biết trước
là thua tại sao vẫn đánh để khiến bao nhiêu người chết thảm?”
Một câu hỏi thật khó có
câu trả lời…
Tối 29/3/1975 đài phát
thanh BBC Luân Đôn cho biết Đà Nẵng đã thất thủ, một trăm ngàn quân bị bắt làm
tù binh, đó cũng là ngày sụp đổ của toàn bộ Quân khu I, hung tin ghê gớm ấy đã
khiến cho cả nước kinh hoàng: Quân khu I nơi tập trung những lực lượng tinh
nhuệ và thiện chiến nhất của VNCH, bốn Sư đoàn chính qui chủ lực, bốn Liên đoàn
Biệt động quân đã hoàn toàn tan rã sau 9 ngày cầm cự và triệt thoái. Mặc dù nay
nhiều bí mật về cuộc lui binh đã được tiết lộ, Bộ Tổng tham mưu VNCH, các vị
Tướng lãnh, các giới chức quân sự liên hệ đã bạch hóa diễn tiến của trận chiến
bi thảm này, các nhà nghiên cứu quân sử, các nhân chứng, ký giả chiến trường…
đã biên soạn, kể lại diễn tiến của mặt trận vùng Hoả tuyến nhưng người ta tưởng
như nó vẫn còn nhiều điều bí ẩn và khó hiểu, chưa bao giờ trong cuộc chiến
tranh Quốc -Cộng giai đoạn 1960-1975 một lực lượng to lớn của miền Nam lại có
thể thua nhanh đến thế. Cũng có người cho rằng tấn thảm kịch này bắt nguồn từ
ảnh hưởng của những yếu tố chính trị hơn là về quân sự.
Các tài liệu, sách báo
nói về cuộc lui binh Quân đoàn I của Bộ tổng tham mưu Đại Tướng Cao Văn Viên,
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Thiếu Tướng Hoàng Lạc, nhà nghiên cứu quân sử
Nguyễn Đức Phương, ký giả chiến trường Phạm Huấn và những lời thuật lại của các
nhân chứng … nói chung không hoàn toàn giống nhau, có khi còn trái ngược nhau
là khác.
Quân khu I là một giải
đất dài và hẹp hình cán chảo chạy theo hướng Tây Bắc, Đông Nam, gồm 5 tỉnh
Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng tín, Quảng Ngãi, dân số vào khoảng ba
triệu người. So với các Quân khu khác Vùng Một nhỏ hẹp nhất, đây là nơi tiếp
giáp với Bắc Việt, chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào nên cũng gọi là
vùng Hoả tuyến. Từ sau khi ký hiệp định Paris, nửa triệu quân đồng minh đã rút
đi, VNCH một mình phải gánh vác toàn bộ chiến trường. Lãnh thổ quá rộng, không
đủ lực lượng trấn giữ nên tại đây VNCH chỉ còn kiểm soát được phần đất nằm phía
bên phải của giải đất theo chiều dọc tức là phía Đông, còn phía Tây do Cộng
thuộc quyền kiểm soát của CSBV. Dần dần VNCH chỉ còn những tỉnh lỵ và thị xã và
các quận do sự lấn chiếm theo lối tầm ăn dâu của địch, kể từ sau ngày
19/3/1975, nếu nhìn trên bản đồ quân sự (Cao Văn Viên, Những Ngày Cuối VNCH
trang 166) ta sẽ thấy miền Nam chỉ còn kiểm soát được vào khoảng gần một phần
ba (1/3) diện tích Quân khu 1.
Năm 1972 Quân khu I đã
là một chiến trường lớn, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt đẫm máu giữa các
đại đơn vị của hai miền Nam Bắc .Vì tình hình sôi động đặc biệt của vùng hỏa
tuyến ngoài ba Sư đoàn cơ hữu 1, 2, 3 của Quân đoàn, TT Thiệu còn cho hai Sư
đoàn tổng trừ bị Nhẩy Dù và Thủy quân lục chiến ra đóng tăng cường. Đạn dược
tiếp liệu ngày càng thiếu thốn bi đát, theo ông Cao Văn Viên (sách đã dẫn trang
92) từ tháng 7/1974 hoả lực miền Nam giảm hơn 70% và vào tháng 2/1975, đạn tồn
kho các loại súng tại kho Trung ương chỉ còn đủ cung ứng khoảng một tháng (30
ngày).
Miền Nam không được Mỹ
yểm trợ B52; tiếp liệu, đạn dược đã gần kiệt quệ, tài khóa 1974, 1975 bị cắt
giảm 50% mỗi năm (Kissinger, Years of Renewal trang 472). Ngay từ cuối
tháng 12/1974 khi BV xử dụng ba sư đoàn tấn công Phước Long, pháo binh VNCH tại
đây đã phải đếm từng viên đạn để tiết kiệm hầu còn đủ chiến đấu (Kissinger, Years
of Renewal, trang 490)
Trong khi ấy CS quốc tế
vẫn tiếp tục viện trợ dồi dào cho BV. Theo BBCVietnamese.com ngày 10-5-2006,
viện trợ quân sự CS quốc tế cho BV giai đoạn 1969-1972 là 684,666 tấn vũ khí,
giai đoạn 1973-1975 là 649,246 tấn vũ khí coi như không thay đổi. Từ tháng
12/1974 Nga Sô đã viện trợ quân sự cho Hà Nội tăng gấp bốn lần hơn trước (Kissinger,
Years of Renewal trang 481).
Nhìn sơ các con số và
các dữ kiện trên chúng ta cũng đủ biết ai sẽ thắng , ai thua, về điểm này Trung
Tướng Nguyễn Văn Toàn có nói
“Xin nhắc lại một lần
nữa, nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ của Miền Nam là không có viện trợ (phương
tiện chiến tranh)
(Những Sự Thật Chiến
Tranh Việt Nam 1954-1975, trang 406)
Cuối năm 1974 tình hình
chiến sự ở Quân khu I yên lặng được một thời gian, VNCH đẩy lui cuộc tấn công
của BV vào đồng bằng Tây Nam Đà Nẵng, CSBV có lợi thế về địa hình, vì gần hậu
cần miền Bắc, họ được bổ sung quân số và tiếp liệu thuận lợi. Từ tháng 6 cho
tới cuối năm 1974 các lực lượng Quân đoàn I của VNCH bị tổn thất trong các trận
giao tranh không được bổ sung nên quân số thiếu hụt. Quân khu 1 được chia làm
hai khu Bắc và Nam, Bắc gồm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên dưới quyền Bộ Tư
lệnh tiền phương do Trung tướng Lâm Quang Thi chỉ huy, ba tỉnh còn lại Quảng
Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi do Tư lệnh Quân đoàn Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
trực tiếp chỉ huy.
Bố trí chủ lực quân VNCH
như sau:
-Sư đoàn Nhẩy Dù vàTQLC,
Lữ đoàn 1 Thiết kỵ từ Bắc Thừa Thiên lên tới Nam sông Thạch Hãn kéo dài sang
phía Tây Quảng Trị.
Lực lượng cơ hữu của
Quân khu và các Liên đoàn Biệt động quân bảo vệ các tỉnh còn lại:
- Sư đoàn 1BB và Liên
đoàn 15 Biệt động quân đóng tại Thừa Thiên.
- Sư đoàn 3 BB và Liên
đoàn 14 BĐQ đóng tại Đà Nẵng, Quảng Nam.
- Sư đoàn 2 BB và hai
liên đoàn 11, 12 BĐQ bảo vệ Quảng Tín, Quảng Ngãi.
(Theo Nguyễn đức Phương,
Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 751)
Các đơn vị yểm trợ gồm
trên 10 tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn phòng không, một lữ đoàn thiết kỵ.
Hải quân gồm các giang đoàn xung phong, trục lôi, tuần thám tại Thuận An, các
duyên đoàn tại Cửa Việt, tại Thuận An, Tư Hiền… Sư đoàn 1 Không quân đóng tại
Đà Nẵng. Quân số của Quân đoàn vào khoảng 90,000 chủ lực và 75,000 địa phương
quân, nghĩa quân, số gồm cả thành phần không tác chiến. Đây chỉ là con số lý
thuyết, trên thực tế thì thấp hơn không được như vậy vì nhiều lý do.
Lực lượng Cộng sản tại
Quân khu I chia hai địa bàn hoạt động lấy đèo Hải Vân làm ranh giới do các
Tướng Lê Tư Đồng, Nguyễn Hữu An, Chu Huy Mân chỉ huy. Theo tác giả Nguyễn Đức
Phương tại đây Bắc việt có 7 sư đoàn (324B, 325, 320B, 312, 304, 711, 2) và 3
Trung đoàn độc lập tổng cộng vào khoảng 8 sư đoàn (Sách đã dẫn trang 752).
Theo ông Cao Văn Viên,
tại đây BV có 5 sư đoàn (341, 325C, 324B, 304, 711), 10 trung đoàn độc lập (52,
4, 5, 6, 27, 31, 48, 51, 270, 271), 3 Trung đoàn đặc công (5, 45, 126), toàn bộ
vào khoảng hơn 8 Sư đoàn. Lực lượng cơ giới yểm trợ gồm 3 Trung đoàn xe tăng,
12 Trung đoàn phòng không, 8 Trung đoàn pháo binh (Những Ngày Cuối Của VNCH
trang 160).
Theo Nguyễn Đức Phương
lực lượng địch tổng cộng vào khoảng 71,000 người. Bắc Việt có ưu thế về vũ khí
đạn dược hơn VNCH rất nhiều, chủ lực quân coi như gấp hai.
Diễn tiến của mặt trận
Trong khi mở chiến dịch
Ban Mê Thuột, CSBV tại Quân khu I cũng xâm nhập đánh phá các nơi để cầm chân
quân đội VNCH như tại Quảng Trị, họ chiếm quận Hải Lăng Bắc Thừa Thiên, xâm
nhập các xã ven biển Thừa Thiên. Phía Nam đánh các cao điểm của Sư đoàn I, tấn công
tuyến sông Bồ nhưng bị đẩy lui bỏ lại 200 xác chết, tại Quảng Tín địch chiếm 2
quận Tiên phước, Hậu Đức ngày 10/3 bắn phá tỉnh lỵ Tam Kỳ…
Ngày 11/3, sau khi CS
tấn công chiếm Ban mê Thuột một ngày, Tổng thống Thiệu triệu tập phiên họp tại
Dinh Độc Lập, có mặt Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung
Tướng Đặng Văn Quang. TT Thiệu cho biết trước tình hình khó khăn do quân viện
bị cắt giảm, áp lực địch mạnh, ta chỉ có thể giữ được Quân khu III, Quân Khu IV
và một vài tỉnh duyên hải QK I và QK II, QK I chỉ giữ Huế và Đà Nẵng (Những
Ngày Cuối Của VNCH trang 129, 130, 131)
Trong lúc tình hình quân
sự có vẻ không thuận lợi cho ta thì theo yêu cầu của TT Thiệu, Bộ TTM lệnh cho
Tướng Trưởng trả Sư đoàn Nhẩy Dù về Trung ương.
Ngày 13/3 TT Thiệu lệnh
cho Tướng Trưởng về Sài Gòn họp Hội Đồng an ninh Quốc gia, thành phần gồm Thủ
Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang,
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ông Thiệu cho biết tình hình khó khăn do cắt giảm
quân viện, ông không tin Mỹ sẽ can thiệp dù Cộng Sản tấn công miền Nam nên phải
tái phối trí lực lượng, rút quân bỏ những miền cao nguyên rừng núi để giữ những
vùng mầu mỡ còn hơn đứng chung chính phủ Liên Hiệp với Cộng Sản.
Ngày 14/3 Tướng Trưởng
về Quân đoàn I họp tham mưu, thảo luận kế hoạch tái phối trí, Nhẩy Dù sẽ rút về
Sài Gòn, hôm sau Liên đoàn 14 BĐQ nhận vùng trách nhiệm của Lữ đoàn TQLC 369
tại Quảng Trị để Lữ đoàn này về Phú Lộc thay Lữ đoàn Dù, một lữ đoàn TQLC sẽ
chịu trách nhiệm khu vực sông Bồ để bảo vệ Huế.
Ngày 17/3 Lữ đoàn 258
TQLC sẽ rời Quảng Trị để về Đà Nẵng thay lữ đoàn 2 Dù. Dân chúng sợ hãi đã di
tản ồ ạt trên quốc lộ Một từ mấy ngày nay làm cản trở việc điều quân tái phối
trí.
Ngày 18/3 Thủ tướng Trần
Thiện Khiêm ra Đà Nẵng để giải quyết vấn đề dân tỵ nạn, ông cho Tướng Trưởng
biết sẽ không tăng viện Quân khu I vì tình hình Quân khu III nghiêm trọng, Việt
Cộng đánh Dầu Tiếng, áp lực Tây Ninh, Long Khánh, Bình Tuy…
Ngày 19/3 Tướng Trưởng
được triệu về Sài Gòn họp lần thứ hai, thành phần phiên họp cũng như lần trước
nhưng có thêm Phó tổng thống Trần Văn Hương. Tướng Trưởng trình bầy hai kế
hoạch lui binh:
Kế hoạch Một: các đơn vị
sẽ theo Quốc lộ Một từ Huế, Chu lai về Đà Nẵng, trong trường hợp Quốc lộ Một bị
cắt thì sẽ theo kế hoạch Hai.
Kế hoạch Hai: Các lực
lượng Quân đoàn sẽ tập trung tại ba cứ điểm Huế, Đà Nẵng và Chu Lai, tầu Hải
quân sẽ chuyên chở lính từ Huế, Chu Lai về Đà Nẵng. Trong cả hai kế hoạch Đà
Nẵng là điểm phòng thủ chánh, điểm tựa cuối cùng, Tướng Trưởng đề nghị giữ cả
ba cứ điểm để phân tán lực lượng địch và gây tổn thất tối đa cho Việt Cộng, ông
Thiệu cho biết giữ được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Ông Cao Văn Viên cho
rằng kế hoạch của Tướng Trưởng là hợp lý.
“Kế hoạch lui quân của
Quân đoàn 1 soạn thảo rất hợp lý và đầy đủ, gồm kế hoạch dự phòng để đối phó
với những bất ngờ do địch gây ra. Khi trận chiến khai diễn như Kế Hoạch Hai dự
trù và các đơn vị của Quân đoàn 1 rút hết về Đà Nẵng, chúng ta chỉ còn hai hành
động phải làm: Cố thủ tại chỗ hoặc rút bằng đường biển nếu tình thế bắt buộc.
Như vậy vào thời điểm trên, đâu còn cần đến kế hoạch dự phòng nào khác”
(Những Ngày Cuối Của
VNCH Trang 163)
Thật ra kế hoạch nghe
thì hay nhưng thực hiện được lại không phải dễ, thực tế rất phũ phàng, BV tấn
công gấp rút, dân chúng di tản làm náo loạn khiến binh sĩ mất tinh thần. TT
Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng cố gắng giữ được tất cả những phần đất có trong tay
sau đó ông bảo Tướng Quang soạn bài hiệu triệu trên đài phát thanh Huế để trấn
an dân chúng, quyết bảo vệ Huế đến cùng. Buổi họp này không thấy nói đến triệt
thoái mà chỉ là kế hoạch co cụm để giữ đất.
Ngày 19/3 Quảng Trị bỏ
ngỏ, chi đoàn Thiết giáp, liên đoàn 14 BĐQ rút về bên này Mỹ chánh lập phòng
tuyến mới. Cộng quân bắt đầu tấn công mạnh vào Quân khu. Theo Tướng Hoàng Lạc,
Giám mục Phạm Ngọc Chi địa phận Đà Nẵng và Giám mục Nguyễn Kim Điền khuyên
không nên đổ máu vô ích vì các siêu cường đã sắp đặt cả rồi.
Sáng 20/3 Tướng Trưởng
bay ra bộ chỉ huy tiền phương họp các cấp chỉ huy bàn kế hoạch phòng thủ Huế
như Tổng thống ra lệnh phải giữ bằng mọi giá. Tình hình mặt trận tương đối còn
tốt đẹp, các đơn vị hoàn hảo, tinh thần cao duy trì được kỷ luật, ai nấy đồng
lòng tử thủ, dân chúng di tản nhiều. Tướng Trưởng lạc quan khi thấy Huế phòng
thủ tốt. Trưa hôm đó ông Thiệu đọc hiệu triệu dân trên đài phát thanh Huế. Đến
chiều khi về tới Đà Nẵng TướngTrưởng nhận được lệnh của dinh Độc Lập chỉ giữ Đà
Nẵng thôi nếu tình hình bó buộc, ông Thiệu lý luận Quân đoàn I không đủ lính để
bảo vệ cả ba cứ điểm Chu lai, Huế và Đà Nẵng. Tướng Trưởng được quyền tùy cơ
ứng biến.
Quân khu I ngày một nguy
ngập, Cộng quân đã bắt đấu tấn công mạnh theo thế gọng kìm từ trên Quảng Trị
đánh xuống và từ dưới Quảng Ngãi đánh lên, dân chúng chạy loạn ồ ạt từ Huế kéo
về Đà Nẵng, từ Quảng Nam Quảng Ngãi kéo lên. Ngày 21/3 địch tấn công Phú Lộc,
áp lực mạnh trên Quốc lộ Một, dân tản cư đông như kiến từ Huế về Đà nẵng. Sư
đoàn I VNCH có pháo binh và không quân yểm trợ đẩy lui cuộc tấn công của BV
nhưng họ có ưu thế về lực lượng nên Sư đoàn 1 cầm cự đến trưa ngày 22 thì thất
thủ, Trung đoàn 1 BB (SĐ1) và Liên đoàn 15 Biệt động quân bị đẩy lui, một khúc
đường Quốc lộ Một bị cô lập, Trung đoàn I bị thiệt hại nặng, Tướng Trưởng ra
lệnh thu gọn tuyến phòng thủ Huế.
Dân chúng và quân cụ bắt
đầu được chở bằng tầu ra khỏi Đà Nẵng, ngày 23/3 Việt Cộng pháo kích Huế rời
rạc không gây thiệt hại gì nhiều nhưng khiến dân chúng hốt hoảng náo động như
hỗn loạn. Tại phía Nam Vùng Một tình hình nguy ngập khi quận Hậu Đức, Tiên
Phước thuộc Quảng Tín bị Việt cộng chiếm, Sư đoàn 2 và Liên đoàn 12 BĐQ chặn
được áp lực địch tấn công về Tam Kỳ và các vùng duyên hải. Trước áp lực dồn dập
của Cộng quân Tướng Trưởng ra lệnh di tản 2 quận Sơn Trà, Trà Bồng Quảng Ngãi,
những tiền đồn xa tiếp tế cũng được di tản, Tướng Trưởng cho gom các lực lượng
rời rạc lại để bảo vệ những điểm trọng yếu vào trận cuối cùng. Sự chỉnh đốn của
Tướng Trưởng đem lại chút bình yên gượng gạo cho 2 tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Tín
trong 2 ngày.
Sáng ngày 24/3 tại phía
Nam Quân khu 1, BV tấn công mạnh tại Quảng Tín, Sư đoàn 711, Trung đoàn 52 BV
và xe tăng đánh Tam Kỳ, đặc công đột nhập tỉnh lỵ thả tù gây rối loạn đến trưa
thì Tam Kỳ thất thủ. Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 3 VNCH từ Quảng Nam được lệnh
tiến về Quảng Tín để giúp Địa phương quân chạy từ Tam Kỳ về. Tam kỳ mất, dân ùn
ùn chạy về Đà Nẵng. Tại Quảng Ngãi Cộng quân tấn công dữ dội, đặc công và địa
phương quân Việt Cộng tại Quảng Ngãi tấn công phi trường, các cơ sở hành chánh
quân sự Quảng Ngãi. Đường Quốc lộ Một từ Quảng Ngãi tới Chu lai bị cắt đứt,
đường ra biển bị cô lập, chỉ trong một ngày tình hình Quân khu 1 rối loạn đến
mức không còn kiểm soát được nữa. Quân đoàn chấp thuận cho tiểu khu Quảng Ngãi
mở đường máu về Chu Lai nhưng chỉ có vài đơn vị về được.
Ngày 25/3 tất cả các đơn
vị Quân đoàn I tụ lại 3 phòng tuyến chính: Chu Lai phía nam, Đà Nẵng ở giữa và
Huế phía Bắc, các lực lượng của Quân đoàn I bị thiệt hại nhiều khi di tản về
các phòng tuyến này, tinh thần binh sĩ xuống thấp, ai nấy chán nản chưa bao giờ
trong đời chinh chiến họ thấy tuyệt vọng như hiện nay. Trong tình thế khó khăn
Tướng Trưởng lại nhận thêm một lệnh nữa từ dinh Độc Lập, TT Thiệu lệnh cho
Tướng Trưởng dùng ba Sư đoàn cơ hữu của Quân đoàn: SĐ1, SĐ2, SĐ3 để phòng thủ
Đà Nẵng, Sư đoàn TQLC đóng vai trừ bị. Đêm đó Tướng Trưởng cho Sư đoàn I và các
đơn vị quanh Huế rút về Đà Nẵng, ông lệnh cho Sư đoàn 2, Chi khu Quảng Ngãi và
thân nhân của họ rút ra Cù Lao Ré, một đảo ngoài khơi Chu lai. Hai tầu dương
vận hạm đón Sư đoàn 2 tại Chu lai đưa về Cù Lao Ré, cuộc vận chuyển thành công
hơn mặc dù có hỗn loạn nhưng một nửa quân số của Sư đoàn 2 đã lên tầu đưa về
Bình Tuy, chính phủ tuyên bố Huế và Chu lai thất thủ ngày 25/3.
Các lực lượng Huế bắt
đầu di tản, Sư đoàn I và các đơn vị cơ hữu rút ra cửa Tư Hiền. Hải quân và công
binh sẽ bắc cầu để quân di tản đi ngược vào đất liền rồi dùng đường bộ về Đà
Nẵng. Sư đoàn TQLC và các đơn vị trực thuộc sẽ triệt thoái bằng tầu Hải quân. Sáng
ngày 26/3 biển sóng to làm đình trệ cuộc vận chuyển, cầu nối giữa Tư Hiền và
đường bộ chưa hoàn tất. Đến trưa thủy triều dâng cao không thể vượt biển được
trong khi ấy Cộng quân đuổi theo nã pháo vào cửa Tư Hiền và các địa điểm tập
trung gây nhiều thiệt hại, hỗn loạn diễn ra không còn quân kỷ, Sư đoàn I tan rã
tại đây chỉ có một phần ba về được đến Đà nẵng, tới nơi họ rã ngũ đi tìm thân
nhân.
Trong khi đó thì Lữ đoàn
kỵ binh với hơn 100 thiết giáp các loại từ mặt trận Bắc Huế tiến về cửa Thuận
An, theo sau là các đơn vị pháo binh với hằng trăm khẩu pháo, TQLC, BĐQ, ĐPQ từ
tuyến sông Bồ đang lũ lượt kéo về, hỗn loạn lại diễn ra. Hai tầu dương vận hạm
đến cửa Thuận An để chở TQLC, tầu hải vận đĩnh và quân vận đĩnh chở người từ bờ
ra dương vận hạm.
Sư đoàn 325 CS chuyển
vào Quảng Nam phối hợp với sư đoàn 304 CS tấn công Đà Nẵng, Sư đoàn 2 CS cũng
tiến về thành phố. Quân đội VNCH lập phòng tuyến phòng thủ bảo vệ Đà Nẵng, phía
Tây 2 lữ đoàn TQLC, phía Nam Sư đoàn 3 và ĐPQ Quảng Nam. Ngày 27/3/1975 các
cuộc phòng thủ Đà Nẵng thành ra vô hiệu trước sự hỗn loạn, Cộng quân dồn nỗ lực
bao vây thành phố. Từ bắc Đà Nẵng hai Sư đoàn 324B và 325C CSBV cùng với Trung
đoàn xe tăng và hai Trung đoàn pháo tiến dọc theo thung lũng Voi bao vây thành
phố. Phía Nam Sư đoàn 711, 304 BV tiến chiếm Đại Lộc và Dục Đức, Đà Nẵng đã nằm
trong tầm pháo của quân thù. Tại thành phố lớn thứ hai của miền nam này Quân
đoàn I chỉ còn có Sư đoàn 3 và 2 lữ đoàn TQLC, các Sư đoàn 1 và 2 đã bị rã ngũ
trên đường triệt thoái, một phần đã được tầu chở ra khơi, lực lượng không đủ để
đương đầu với áp lực quá đông của BV, lại nữa thành phồ với hằng triệu người tỵ
nạn đã trở nên hỗn loạn không thể nào kiểm soát được.
Sáng ngày 28/3/1975
Tướng Trưởng họp khẩn cấp các đơn vị trưởng ban hành một số biện pháp vãn hồi
trật tự và tái trang bị các đơn vị di tản trong thành phố nhưng ta không còn đủ
quân tác chiến để thực hiện kế hoạch này. Các quân nhân có mặt được sung vào
các đơn vị tác chiến nhưng không đủ để bù vào thiệt hại do cuộc triệt thoái gây
ra. Trưa 28/3 Phòng 2 thuộc Bộ TTM cho Quân đoàn I biết Cộng quân có thể tấn
công trong đêm, Sư đoàn I Không quân được lệnh di tản về Phù Cát, Phan Rang,
Quân đoàn I ban lệnh ứng chiến tại các tuyến phòng thủ. Hai giờ trưa các xã ấp
quanh Đà Nẵng đã lọt vào tay Cộng quân. Địa phương quân, nghĩa quân tan rã,
binh sĩ rã ngũ rời đơn vị.
CSBV pháo phi trường,
căn cứ Hải quân khi trời vừa tối rất dữ dội và chính xác nhờ những toán đặc
công, tiền pháo viên chỉ điểm hướng dẫn. Tướng Trưởng vội báo cáo về Bộ Tổng
tham mưu và gọi cho Tổng thống Thiệu xin di tản bằng đường biển. Tướng Thiệu
không ra lệnh rõ ràng chỉ hỏi vu vơ nếu di tản thì có thể được bao nhiêu. Pháo
kích của BV khiến cho liên lạc giữa Sài Gòn và Đà Nẵng bị cắt đứt, Tướng Trưởng
lập tức ra lệnh bỏ Đà Nẵng, ông họp với Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại Tư lệnh Hải quân
vùng I và các cấp chỉ huy để hẹn địa điểm rút quân tại chân đèo Hải Vân , núi
Non Nước và cửa khẩu Hội An.
Rạng sáng ngày 29/3/1975
sương mù bao phủ dọc theo bờ biển, ngoài khơi tầu đã có mặt ở điểm hẹn, thủy
triều thấp tầu không vào bờ được, binh sĩ phải lội ra biển. Cuộc di tản êm xuôi
cho đến khi khi BV phát hiện bèn pháo kích vào địa điểm tập trung quân và tầu
ngoài khơi gây nhiều thiệt hại, đoàn tầu di tản được khoảng 6,000 TQLC, 3,000
lính Sư đoàn 3 và nhiều đơn vị khác.
Đà Nẵng được coi như
thất thủ ngày 29/3/1975. Có tài liệu cho biết VNCH mất 130 máy bay tại Đà Nẵng.
Năm 1976 Tướng Trưởng trả lời một cuộc phỏng vấn cho biết khoảng 6,000 TQLC,
non nửa lực lượng của Sư đoàn và 4,000 quân thuộc các binh chủng khác đã được
tầu bè cứu thoát. Tướng Nguyễn Duy Hinh Tư lệnh Sư đoàn 3 cho biết trong số
12,000 người của Sư đoàn 3 chỉ có 5,000 đến được điểm tập trung và sau cùng chỉ
có 1,000 người lên được tầu. Tổng cộng có 70,000 người dân được cứu thoát và 16
ngàn lính, 4 Sư đoàn kể cả TQLC bị thiệt hại nặng nề không thể gọi là đơn vị
chiến đấu được nữa. Tất cả quân trang quân dụng, vũ khí, xe tăng đại bác… của
Quân khu I coi như mất hết.
Quân khu I thất thủ một
cách dễ dàng trong khoảng 10 ngày, không có lực lượng nào được tổ chức để đánh
chận hậu, đánh trì hoãn khi Quân đoàn di tản. Cuộc lui binh thất bại hoàn toàn
được coi tồi tệ hơn so với Quân đoàn II, hỗn loạn gấp bội phần, sự thiệt hại về
nhân mạng cao hơn cuộc triệt thoái tại Tây nguyên nhiều.
© Trọng Đạt
Labels:
CSVN
Kính chuyển,
Xin xem thêm phần góp ý của các đọc giả ( 123 y' kien) kha' ly' thu'
Nguon
http://www.voatiengviet.com/content/vietnam-co-thang-my/1633524.html
Xin xem thêm phần góp ý của các đọc giả ( 123 y' kien) kha' ly' thu'
Nguon
http://www.voatiengviet.com/content/vietnam-co-thang-my/1633524.html
1975: Việt Nam có thắng Mỹ?

Tin liên hệ
- Thắng
và bại
- Đầu
tư trên xác chết
- Cuộc
chiến thầm lặng trong các thư viện
- Kêu
gọi lòng tin: Không đủ!
- Tại
sao người ta tàn nhẫn đến vậy?
CỠ CHỮ
02.04.2013
Trong bài “Thắng và bại”, từ kinh nghiệm chiến tranh ở Iraq, tôi nêu lên
nhận định: Thắng và bại là một vấn đề phức tạp, gắn liền với một chu cảnh
(context) nhất định. Có khi người ta thắng một trận đánh nhưng lại thua một
cuộc chiến tranh; có khi thắng một cuộc chiến tranh nhỏ nhưng lại thua một cuộc
chiến tranh lớn. Hoặc ngược lại. Cũng có khi người ta thua hẳn một cuộc chiến tranh
nhưng lại thắng trong hòa bình, sau đó.
Từ chuyện thắng và bại, nhân tháng Tư, thử nhìn lại chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-75.
Liên quan đến cuộc chiến tranh ấy, cho đến nay, hầu như mọi người đều khẳng định: Việt Nam (hiểu theo nghĩa là miền Bắc Việt Nam) đã thắng Mỹ. Bộ máy tuyên truyền Việt Nam lúc nào cũng ra rả điều đó. Ngay người Mỹ cũng tự nhận là họ thua: Đó là cuộc chiến tranh đầu tiên mà họ thua trận! Điều đó đã trở thành một chấn thương dữ dội đối với một siêu cường quốc số một thế giới như Mỹ khiến nhiều người trong họ không ngừng trăn trở. Chiến tranh Việt Nam, do đó, với họ, trở thành một cuộc-chiến-chưa-kết-thúc (unfinished war) hoặc một chiến tranh vô tận (endless war) theo cách gọi của các học giả.
Dĩ nhiên, nhiều người nghĩ khác. Họ không chấp nhận họ thua trận với một trong ba lý do chính.
Một, một số người cho, về phương diện quân sự, quân đội Mỹ hầu như luôn luôn chiến thắng, hơn nữa, tính trên tổng số thương vong, họ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương: trong khi Mỹ chỉ có 50.000 người chết, phía miền Bắc, có khoảng từ một triệu đến một triệu rưỡi người bị giết (từ phía người Việt Nam, chúng ta biết rõ điều này: Trong đó có rất nhiều dân sự ở cả hai miền!) Những người này cho họ chỉ thua trên mặt trận chính trị; và trong chính trị, họ không thua Bắc Việt, họ chỉ thua… những màn ảnh tivi hằng ngày chiếu những cảnh chết chóc ghê rợn ở Việt Nam trước mắt hàng trăm triệu người Mỹ, từ đó, làm dấy lên phong trào phản chiến ở khắp nơi. Nói cách khác, Mỹ không thua Bắc Việt: Họ chỉ thua chính họ, nghĩa là họ không thể tiếp tục kéo dài chiến tranh trước sự thiếu kiên nhẫn của quần chúng, trước quyền tự do ngôn luận và phát biểu của quần chúng, trước nhu cầu phát triển kinh tế trong nước.
Hai, một số người khác lại lý luận: Mặc dù Mỹ thua trận năm 1975, nhưng nhìn toàn cục, họ lại là người chiến thắng. Một người Mỹ gốc Việt, Viet D. Dinh, giáo sư Luật tại Đại học Georgetown University, trên tạp chí Policy Review số tháng 12/2000 và 1/2001, quan niệm như vậy, trong một bài viết có nhan đề “How We Won in Vietnam” (tr. 51-61): “Chúng ta thắng như thế nào tại Việt Nam.” Ông lý luận: Mỹ và lực lượng đồng minh có thể thua trận tại Việt Nam nhưng họ lại thắng trên một mặt trận khác lớn hơn và cũng quan trọng hơn: Cuộc chiến tranh lạnh chống lại chủ nghĩa Cộng sản trên toàn thế giới (tr. 53). Hơn nữa, cùng với phong trào đổi mới tại Việt Nam cũng như việc Việt Nam tha thiết muốn bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, Mỹ cũng đã thắng trên mặt trận lý tưởng và thiết chế: Cuối cùng thì Việt Nam cũng đã theo Mỹ ít nhất một nửa: tự do hóa thị trường (Còn nửa kia, dân chủ hóa thì chưa!) (tr. 61).
Một số người khác lại cho, sau khi rút quân khỏi Việt Nam, nhìn lại, người Mỹ thấy Việt Nam đang lủi thủi chạy theo sau mình trên con đường tư bản hóa. Họ khẳng định: “Chúng ta đã chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam bằng cách rút quân ra khỏi nơi đó.”
Ba, một số người khẳng định dứt khoát: Mỹ không hề thua Bắc Việt. Chiến thắng của miền Bắc vào tháng Tư 1975 là chiến thắng đối với miền Nam chứ không phải đối với Mỹ. Lý do đơn giản: Lúc ấy, hầu hết lính Mỹ đã rút khỏi Việt Nam. Trước, ở đỉnh cao của cuộc chiến, Mỹ có khoảng nửa triệu lính ở Việt Nam. Sau Tết Mậu Thân, thực hiện chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, lính Mỹ dần dần rút khỏi Việt Nam: Tháng 8/1969, rút 25.000 lính; cuối năm, rút thêm 45.000 người nữa. Đến giữa năm 1972, lính Mỹ ở Việt Nam chỉ còn 27.000. Tháng 3/1973, 2.500 người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Từ đó, ở Việt Nam, Mỹ chỉ còn khoảng 800 lính trong lực lượng giám sát đình chiến và khoảng gần 200 lính Thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại sứ ở Sài Gòn. Trong trận chiến cuối cùng vào đầu năm 1975, lúc Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, không có cuộc giao tranh nào giữa Việt Nam và Mỹ cả. Chính vì vậy, một số người Mỹ đặt câu hỏi: Tại sao có thể nói là chúng ta thua trận khi chúng ta đã thực sự chấm dứt cuộc chiến đấu cả hơn hai năm trước đó?
Có thể tóm tắt lập luận thứ ba ở trên như sau: Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ chỉ bỏ cuộc chứ không thua cuộc.
Một số người phản bác lập luận ấy. Họ cho: bỏ cuộc tức là không hoàn thành được mục tiêu mình đặt ra lúc khai chiến; không hoàn thành mục tiêu ấy cũng có nghĩa là thua cuộc. Không có gì khác nhau cả.
Nhưng ở đây lại nảy ra một vấn đề: Mục tiêu Mỹ đặt ra lúc tham gia vào chiến tranh Việt Nam là gì?
Có hai mục tiêu chính:
Một, giúp đỡ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam trong cuộc đối đầu với chế độ Cộng sản ở miền Bắc.
Hai, ngăn chận làn sóng Cộng sản từ Trung Quốc đổ xuống Việt Nam, và từ đó, toàn bộ vùng Đông Nam Á.
Tập trung vào mục tiêu thứ nhất, nhiều người cho Mỹ thua trận ở Việt Nam. Đó là điều không thể chối cãi được: cuối cùng, vào ngày 30/4/1975, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ.
Tuy nhiên, xin lưu ý: trong hai mục tiêu trên, mục tiêu thứ hai mới là quan trọng nhất. Khi lính Mỹ mới được điều sang Việt Nam, họ luôn luôn được nhắc nhở đến mục tiêu thứ hai: “Nếu chúng ta không đến đây để ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, chúng ta có thể sẽ phải chiến đấu chống lại nó ở San Francisco sau này.” Mục tiêu đầu, nhằm xây dựng một chế độ dân chủ không Cộng sản ở miền Nam, chỉ thỉnh thoảng mới được nhắc đến.
Có thể nói mục tiêu thứ nhất được đặt ra để cụ thể hóa mục tiêu thứ hai. Nói cách khác, chính vì muốn ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, Mỹ mới nhảy vào giúp chính quyền miền Nam. Mục tiêu thứ nhất, như vậy, chỉ là hệ luận của mục tiêu thứ hai. Nó chỉ là mục tiêu phụ.
Liên quan đến mục tiêu thứ hai, nên nhớ đến thuyết Domino vốn xuất hiện từ năm 1951, thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh, và được xem là nền tảng lý thuyết cho các chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ đầu thập niên 1960 trở đi. Dựa trên thuyết Domino, chính phủ Mỹ tin là: Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, Miến Điện và Thái Lan sẽ bị Cộng sản chiếm gần như ngay tức khắc. Sau đó, sẽ rất khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả, để cho Indonesia, Ấn Độ và các nước khác tiếp tục nằm ngoài quỹ đạo thống trị của Cộng sản Xô Viết.” Nghĩ như thế, chính phủ Mỹ đã xem Miền Nam như một tiền đồn để ngăn chận hiểm họa cộng sản.
Nếu chỉ nhìn vào mục tiêu thứ hai này - mục tiêu ngăn chận làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á - không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại. Ngược lại. Năm 1972, sau chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng thống Nixon, Mỹ đã thành công ở ba điểm: Một, bước đầu bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước để, tuy chưa hẳn là bạn, họ cũng không còn thù nghịch với nhau như trước nữa; hai, khoét sâu mối mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô để hai nước đứng đầu khối Cộng sản này không còn thống nhất với nhau; và ba, làm giảm bớt sự ủng hộ và trợ giúp của Trung Quốc đối với Bắc Việt.
Với ba sự thành công ấy, Mỹ an tâm được ba điều: Một, khi Trung Quốc và Liên Xô đã bị phân hóa, khối Cộng sản không còn mạnh và do đó, cũng không còn quá nguy hiểm như trước. Hai, khi khối Cộng sản không còn mạnh, đặc biệt khi Trung Quốc đang rất cần duy trì quan hệ hòa bình với Mỹ để phát triển kinh tế và tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô, Trung Quốc sẽ không còn tích cực “xuất cảng cách mạng” ở các nước khác trong vùng Đông Nam Á. Và ba, như là hệ quả của hai điều trên, Mỹ tin chắc: ngay cả khi miền Bắc chiếm được miền Nam và ngay cả khi cả Campuchia và Lào đều rơi vào tay Cộng sản thì chủ nghĩa Cộng sản cũng không thể phát triển sang các nước khác như điều họ từng lo sợ trước đó.
Với ba sự an tâm trên, Mỹ quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam. Với họ, mục tiêu thứ hai, tức mục tiêu quan trọng nhất, đã hoàn tất thì mục tiêu thứ nhất trở thành vô nghĩa. Miền Nam chỉ còn là một nước cờ chứ không phải là một ván cờ. Họ thua một nước cờ nhưng lại thắng cả một ván cờ.
Thắng ở ba điểm:
Một, sau năm 1975, chủ nghĩa Cộng sản không hề phát triển ra khỏi biên giới Lào và Campuchia. Các nước láng giềng của Đông Dương vẫn hoàn toàn bình an trước hiểm họa Cộng sản.
Hai, sau khi chiếm miền Nam, chủ nghĩa Cộng sản ở Á châu không những không mạnh hơn, mà ngược lại, còn yếu hơn hẳn. Yếu ở rất nhiều phương diện. Về kinh tế, họ hoàn toàn kiệt quệ. Về quân sự, họ liên tục đánh nhau. Về đối nội, họ hoàn toàn đánh mất niềm tin của dân chúng, từ đó, dẫn đến phong trào vượt biên và vượt biển rầm rộ làm chấn động cả thế giới. Về đối ngoại, họ hoàn toàn bị cô lập trước thế giới với những hình ảnh rất xấu: Ở Khmer Đỏ là hình ảnh của sự diệt chủng; ở Việt Nam là hình ảnh của sự độc tài và tàn bạo; ở Trung Quốc, sự chuyên chế và lạc hậu. Cuối cùng, về ý thức hệ, ở khắp nơi, từ trí thức đến dân chúng, người ta bắt đầu hoang mang hoài nghi những giá trị và những tín lý của chủ nghĩa xã hội: Tầng lớp trí thức khuynh tả Tây phương, trước, một mực khăng khăng bênh vực chủ nghĩa xã hội; sau, bắt đầu lên tiếng phê phán sự độc tài và tàn bạo của nó. Một số trí thức hàng đầu, như Jean-Paul Sartre, trở thành những người nhiệt tình giúp đỡ những người Việt Nam vượt biên.
Ba, vào năm 1990, với sự sụp đổ của Liên Xô, của bức tường Berlin và của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Mỹ toàn thắng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Ván cờ kéo dài nửa thế kỷ giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa tư bản đã kết thúc.
Nhìn vào ba sự thành công ấy, khó có thể nói Mỹ đã thua trận ở Việt Nam. Lại càng không thể nói là miền Bắc Việt Nam đã thắng Mỹ.
Cũng cần lưu ý đến những sự thay đổi trong bản chất của chiến tranh. Từ giữa thế kỷ 20 trở về trước, hầu hết các chiến lược gia, khi nghĩ về chiến tranh, đều cho cái đích cuối cùng là phải chiến thắng một cách tuyệt đối. Tiêu biểu nhất cho kiểu chiến thắng tuyệt đối ấy là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai. Ở cả hai lần, những kẻ thù của phe Đồng minh đều tuyên bố đầu hàng. Ranh giới giữa thắng và bại rất rõ. Rõ nhất là ở Nhật Bản. Sức tàn phá kinh hồn của hai trái bom nguyên tử do Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki đã chứng tỏ sức mạnh vô địch không thể chối cãi được của người chiến thắng.
Tuy nhiên, sau hai quả bom ấy, bản chất chiến tranh và cùng với nó, ý nghĩa của chiến thắng, hoàn toàn thay đổi. Trong chiến tranh lạnh, cả Mỹ lẫn Liên Xô đều có bom nguyên tử. Lúc nào cũng muốn tiêu diệt nhau nhưng cả hai đều biết rất rõ cái điều Albert Einstein từng cảnh cáo: “Tôi không biết trong chiến tranh thế giới lần thứ ba người ta đánh bằng gì, nhưng trong chiến tranh thế giới lần thư tư, người ta sẽ chỉ có thể đánh nhau bằng gậy và đá.” Thành ra, người ta vừa chạy đua chế tạo thật nhiều, thật nhiều vũ khi nguyên tử vừa biết trước là chúng sẽ không được sử dụng. Không nên được sử dụng. Không thể được sử dụng. Để tránh điều đó, chiến tranh toàn diện (total war) biến thành chiến tranh giới hạn (limited war); chiến tranh thế giới biến thành chiến tranh khu vực, ở một số điểm nóng nào đó. Ý nghĩa của cái gọi là chiến thắng, do đó, cũng đổi khác: bên cạnh cái thắng/bại về quân sự có cái thắng/bại về chính trị và bên cạnh cái thắng/bại có tính chiến thuật có cái thắng/bại có tính chiến lược.
Với những thay đổi ấy, chuyện thắng hay bại lại càng trở thành phức tạp hơn.
Phần kết luận, có hai điểm tôi xin nói cho rõ:
Thứ nhất, tôi chỉ muốn tìm hiểu một sự thật lịch sử chứ không hề muốn bênh vực cho Mỹ.
Thứ hai, dù Mỹ thắng hay bại, sau biến cố tháng 4/1975, miền Nam vẫn là nạn nhân. Trên phạm vi quốc tế, ngoài miền Nam Việt Nam, Đài Loan là một nạn nhân khác, tuy không đến nỗi bất hạnh như chúng ta.
Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Từ chuyện thắng và bại, nhân tháng Tư, thử nhìn lại chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-75.
Liên quan đến cuộc chiến tranh ấy, cho đến nay, hầu như mọi người đều khẳng định: Việt Nam (hiểu theo nghĩa là miền Bắc Việt Nam) đã thắng Mỹ. Bộ máy tuyên truyền Việt Nam lúc nào cũng ra rả điều đó. Ngay người Mỹ cũng tự nhận là họ thua: Đó là cuộc chiến tranh đầu tiên mà họ thua trận! Điều đó đã trở thành một chấn thương dữ dội đối với một siêu cường quốc số một thế giới như Mỹ khiến nhiều người trong họ không ngừng trăn trở. Chiến tranh Việt Nam, do đó, với họ, trở thành một cuộc-chiến-chưa-kết-thúc (unfinished war) hoặc một chiến tranh vô tận (endless war) theo cách gọi của các học giả.
Dĩ nhiên, nhiều người nghĩ khác. Họ không chấp nhận họ thua trận với một trong ba lý do chính.
Một, một số người cho, về phương diện quân sự, quân đội Mỹ hầu như luôn luôn chiến thắng, hơn nữa, tính trên tổng số thương vong, họ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương: trong khi Mỹ chỉ có 50.000 người chết, phía miền Bắc, có khoảng từ một triệu đến một triệu rưỡi người bị giết (từ phía người Việt Nam, chúng ta biết rõ điều này: Trong đó có rất nhiều dân sự ở cả hai miền!) Những người này cho họ chỉ thua trên mặt trận chính trị; và trong chính trị, họ không thua Bắc Việt, họ chỉ thua… những màn ảnh tivi hằng ngày chiếu những cảnh chết chóc ghê rợn ở Việt Nam trước mắt hàng trăm triệu người Mỹ, từ đó, làm dấy lên phong trào phản chiến ở khắp nơi. Nói cách khác, Mỹ không thua Bắc Việt: Họ chỉ thua chính họ, nghĩa là họ không thể tiếp tục kéo dài chiến tranh trước sự thiếu kiên nhẫn của quần chúng, trước quyền tự do ngôn luận và phát biểu của quần chúng, trước nhu cầu phát triển kinh tế trong nước.
Hai, một số người khác lại lý luận: Mặc dù Mỹ thua trận năm 1975, nhưng nhìn toàn cục, họ lại là người chiến thắng. Một người Mỹ gốc Việt, Viet D. Dinh, giáo sư Luật tại Đại học Georgetown University, trên tạp chí Policy Review số tháng 12/2000 và 1/2001, quan niệm như vậy, trong một bài viết có nhan đề “How We Won in Vietnam” (tr. 51-61): “Chúng ta thắng như thế nào tại Việt Nam.” Ông lý luận: Mỹ và lực lượng đồng minh có thể thua trận tại Việt Nam nhưng họ lại thắng trên một mặt trận khác lớn hơn và cũng quan trọng hơn: Cuộc chiến tranh lạnh chống lại chủ nghĩa Cộng sản trên toàn thế giới (tr. 53). Hơn nữa, cùng với phong trào đổi mới tại Việt Nam cũng như việc Việt Nam tha thiết muốn bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, Mỹ cũng đã thắng trên mặt trận lý tưởng và thiết chế: Cuối cùng thì Việt Nam cũng đã theo Mỹ ít nhất một nửa: tự do hóa thị trường (Còn nửa kia, dân chủ hóa thì chưa!) (tr. 61).
Một số người khác lại cho, sau khi rút quân khỏi Việt Nam, nhìn lại, người Mỹ thấy Việt Nam đang lủi thủi chạy theo sau mình trên con đường tư bản hóa. Họ khẳng định: “Chúng ta đã chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam bằng cách rút quân ra khỏi nơi đó.”
Ba, một số người khẳng định dứt khoát: Mỹ không hề thua Bắc Việt. Chiến thắng của miền Bắc vào tháng Tư 1975 là chiến thắng đối với miền Nam chứ không phải đối với Mỹ. Lý do đơn giản: Lúc ấy, hầu hết lính Mỹ đã rút khỏi Việt Nam. Trước, ở đỉnh cao của cuộc chiến, Mỹ có khoảng nửa triệu lính ở Việt Nam. Sau Tết Mậu Thân, thực hiện chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, lính Mỹ dần dần rút khỏi Việt Nam: Tháng 8/1969, rút 25.000 lính; cuối năm, rút thêm 45.000 người nữa. Đến giữa năm 1972, lính Mỹ ở Việt Nam chỉ còn 27.000. Tháng 3/1973, 2.500 người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Từ đó, ở Việt Nam, Mỹ chỉ còn khoảng 800 lính trong lực lượng giám sát đình chiến và khoảng gần 200 lính Thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại sứ ở Sài Gòn. Trong trận chiến cuối cùng vào đầu năm 1975, lúc Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, không có cuộc giao tranh nào giữa Việt Nam và Mỹ cả. Chính vì vậy, một số người Mỹ đặt câu hỏi: Tại sao có thể nói là chúng ta thua trận khi chúng ta đã thực sự chấm dứt cuộc chiến đấu cả hơn hai năm trước đó?
Có thể tóm tắt lập luận thứ ba ở trên như sau: Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ chỉ bỏ cuộc chứ không thua cuộc.
Một số người phản bác lập luận ấy. Họ cho: bỏ cuộc tức là không hoàn thành được mục tiêu mình đặt ra lúc khai chiến; không hoàn thành mục tiêu ấy cũng có nghĩa là thua cuộc. Không có gì khác nhau cả.
Nhưng ở đây lại nảy ra một vấn đề: Mục tiêu Mỹ đặt ra lúc tham gia vào chiến tranh Việt Nam là gì?
Có hai mục tiêu chính:
Một, giúp đỡ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam trong cuộc đối đầu với chế độ Cộng sản ở miền Bắc.
Hai, ngăn chận làn sóng Cộng sản từ Trung Quốc đổ xuống Việt Nam, và từ đó, toàn bộ vùng Đông Nam Á.
Tập trung vào mục tiêu thứ nhất, nhiều người cho Mỹ thua trận ở Việt Nam. Đó là điều không thể chối cãi được: cuối cùng, vào ngày 30/4/1975, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ.
Tuy nhiên, xin lưu ý: trong hai mục tiêu trên, mục tiêu thứ hai mới là quan trọng nhất. Khi lính Mỹ mới được điều sang Việt Nam, họ luôn luôn được nhắc nhở đến mục tiêu thứ hai: “Nếu chúng ta không đến đây để ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, chúng ta có thể sẽ phải chiến đấu chống lại nó ở San Francisco sau này.” Mục tiêu đầu, nhằm xây dựng một chế độ dân chủ không Cộng sản ở miền Nam, chỉ thỉnh thoảng mới được nhắc đến.
Có thể nói mục tiêu thứ nhất được đặt ra để cụ thể hóa mục tiêu thứ hai. Nói cách khác, chính vì muốn ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, Mỹ mới nhảy vào giúp chính quyền miền Nam. Mục tiêu thứ nhất, như vậy, chỉ là hệ luận của mục tiêu thứ hai. Nó chỉ là mục tiêu phụ.
Liên quan đến mục tiêu thứ hai, nên nhớ đến thuyết Domino vốn xuất hiện từ năm 1951, thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh, và được xem là nền tảng lý thuyết cho các chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ đầu thập niên 1960 trở đi. Dựa trên thuyết Domino, chính phủ Mỹ tin là: Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, Miến Điện và Thái Lan sẽ bị Cộng sản chiếm gần như ngay tức khắc. Sau đó, sẽ rất khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả, để cho Indonesia, Ấn Độ và các nước khác tiếp tục nằm ngoài quỹ đạo thống trị của Cộng sản Xô Viết.” Nghĩ như thế, chính phủ Mỹ đã xem Miền Nam như một tiền đồn để ngăn chận hiểm họa cộng sản.
Nếu chỉ nhìn vào mục tiêu thứ hai này - mục tiêu ngăn chận làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á - không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại. Ngược lại. Năm 1972, sau chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng thống Nixon, Mỹ đã thành công ở ba điểm: Một, bước đầu bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước để, tuy chưa hẳn là bạn, họ cũng không còn thù nghịch với nhau như trước nữa; hai, khoét sâu mối mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô để hai nước đứng đầu khối Cộng sản này không còn thống nhất với nhau; và ba, làm giảm bớt sự ủng hộ và trợ giúp của Trung Quốc đối với Bắc Việt.
Với ba sự thành công ấy, Mỹ an tâm được ba điều: Một, khi Trung Quốc và Liên Xô đã bị phân hóa, khối Cộng sản không còn mạnh và do đó, cũng không còn quá nguy hiểm như trước. Hai, khi khối Cộng sản không còn mạnh, đặc biệt khi Trung Quốc đang rất cần duy trì quan hệ hòa bình với Mỹ để phát triển kinh tế và tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô, Trung Quốc sẽ không còn tích cực “xuất cảng cách mạng” ở các nước khác trong vùng Đông Nam Á. Và ba, như là hệ quả của hai điều trên, Mỹ tin chắc: ngay cả khi miền Bắc chiếm được miền Nam và ngay cả khi cả Campuchia và Lào đều rơi vào tay Cộng sản thì chủ nghĩa Cộng sản cũng không thể phát triển sang các nước khác như điều họ từng lo sợ trước đó.
Với ba sự an tâm trên, Mỹ quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam. Với họ, mục tiêu thứ hai, tức mục tiêu quan trọng nhất, đã hoàn tất thì mục tiêu thứ nhất trở thành vô nghĩa. Miền Nam chỉ còn là một nước cờ chứ không phải là một ván cờ. Họ thua một nước cờ nhưng lại thắng cả một ván cờ.
Thắng ở ba điểm:
Một, sau năm 1975, chủ nghĩa Cộng sản không hề phát triển ra khỏi biên giới Lào và Campuchia. Các nước láng giềng của Đông Dương vẫn hoàn toàn bình an trước hiểm họa Cộng sản.
Hai, sau khi chiếm miền Nam, chủ nghĩa Cộng sản ở Á châu không những không mạnh hơn, mà ngược lại, còn yếu hơn hẳn. Yếu ở rất nhiều phương diện. Về kinh tế, họ hoàn toàn kiệt quệ. Về quân sự, họ liên tục đánh nhau. Về đối nội, họ hoàn toàn đánh mất niềm tin của dân chúng, từ đó, dẫn đến phong trào vượt biên và vượt biển rầm rộ làm chấn động cả thế giới. Về đối ngoại, họ hoàn toàn bị cô lập trước thế giới với những hình ảnh rất xấu: Ở Khmer Đỏ là hình ảnh của sự diệt chủng; ở Việt Nam là hình ảnh của sự độc tài và tàn bạo; ở Trung Quốc, sự chuyên chế và lạc hậu. Cuối cùng, về ý thức hệ, ở khắp nơi, từ trí thức đến dân chúng, người ta bắt đầu hoang mang hoài nghi những giá trị và những tín lý của chủ nghĩa xã hội: Tầng lớp trí thức khuynh tả Tây phương, trước, một mực khăng khăng bênh vực chủ nghĩa xã hội; sau, bắt đầu lên tiếng phê phán sự độc tài và tàn bạo của nó. Một số trí thức hàng đầu, như Jean-Paul Sartre, trở thành những người nhiệt tình giúp đỡ những người Việt Nam vượt biên.
Ba, vào năm 1990, với sự sụp đổ của Liên Xô, của bức tường Berlin và của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Mỹ toàn thắng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Ván cờ kéo dài nửa thế kỷ giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa tư bản đã kết thúc.
Nhìn vào ba sự thành công ấy, khó có thể nói Mỹ đã thua trận ở Việt Nam. Lại càng không thể nói là miền Bắc Việt Nam đã thắng Mỹ.
Cũng cần lưu ý đến những sự thay đổi trong bản chất của chiến tranh. Từ giữa thế kỷ 20 trở về trước, hầu hết các chiến lược gia, khi nghĩ về chiến tranh, đều cho cái đích cuối cùng là phải chiến thắng một cách tuyệt đối. Tiêu biểu nhất cho kiểu chiến thắng tuyệt đối ấy là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai. Ở cả hai lần, những kẻ thù của phe Đồng minh đều tuyên bố đầu hàng. Ranh giới giữa thắng và bại rất rõ. Rõ nhất là ở Nhật Bản. Sức tàn phá kinh hồn của hai trái bom nguyên tử do Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki đã chứng tỏ sức mạnh vô địch không thể chối cãi được của người chiến thắng.
Tuy nhiên, sau hai quả bom ấy, bản chất chiến tranh và cùng với nó, ý nghĩa của chiến thắng, hoàn toàn thay đổi. Trong chiến tranh lạnh, cả Mỹ lẫn Liên Xô đều có bom nguyên tử. Lúc nào cũng muốn tiêu diệt nhau nhưng cả hai đều biết rất rõ cái điều Albert Einstein từng cảnh cáo: “Tôi không biết trong chiến tranh thế giới lần thứ ba người ta đánh bằng gì, nhưng trong chiến tranh thế giới lần thư tư, người ta sẽ chỉ có thể đánh nhau bằng gậy và đá.” Thành ra, người ta vừa chạy đua chế tạo thật nhiều, thật nhiều vũ khi nguyên tử vừa biết trước là chúng sẽ không được sử dụng. Không nên được sử dụng. Không thể được sử dụng. Để tránh điều đó, chiến tranh toàn diện (total war) biến thành chiến tranh giới hạn (limited war); chiến tranh thế giới biến thành chiến tranh khu vực, ở một số điểm nóng nào đó. Ý nghĩa của cái gọi là chiến thắng, do đó, cũng đổi khác: bên cạnh cái thắng/bại về quân sự có cái thắng/bại về chính trị và bên cạnh cái thắng/bại có tính chiến thuật có cái thắng/bại có tính chiến lược.
Với những thay đổi ấy, chuyện thắng hay bại lại càng trở thành phức tạp hơn.
Phần kết luận, có hai điểm tôi xin nói cho rõ:
Thứ nhất, tôi chỉ muốn tìm hiểu một sự thật lịch sử chứ không hề muốn bênh vực cho Mỹ.
Thứ hai, dù Mỹ thắng hay bại, sau biến cố tháng 4/1975, miền Nam vẫn là nạn nhân. Trên phạm vi quốc tế, ngoài miền Nam Việt Nam, Đài Loan là một nạn nhân khác, tuy không đến nỗi bất hạnh như chúng ta.
Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


No comments:
Post a Comment