Saturday, February 15, 2014

Trích Hồi ức của Nguyễn Ngọc Chính - Multiply sang =>blogspot =>MultiplySep 4, '12 7:36 AM
for everyone


Thứ hai, ngày 03 tháng chín năm 2012

 

 

Nghĩa tử là nghĩa tận: Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

 


Bức tượng Thương Tiếc,
Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

 
Sài Gòn xưa có xa lộ Biên Hòa là con đường huyết mạch nối liền Sài Gòn với Biên Hoà. Đây là xa lộ đầu tiên tại miền Nam do Hoa Kỳ xây dựng năm 1959 và khánh thành năm 1961. Hãng thầu phụ trách xây dựng xa lộ là RMK-BRJ của Mỹ, họ áp dụng công nghệ tân tiến của thời đó là đổ bê-tông toàn bộ con đường.

Xa lộ Biên Hòa dài 31km, rộng 21m, bắt đầu từ cầu Phan Thanh Giản (nay là cầu Điện Biên Phủ) và kết thúc tại ngã tư Tam Hiệp, Biên Hoà. Khi người Mỹ xây dựng, họ cũng tính đến trường hợp khẩn cấp, xa lộ có thể sử dụng làm phi đạo dã chiến cho các loại phi cơ quân sự. Tuy nhiên, từ năm 1971 xa lộ được xây vách ngăn giữa tim đường phân đôi xa lộ thành 2 chiều riêng biệt.

Xa lộ Biên Hòa
(Tổng thống Ngô Đình Diệm khánh thành ngày 28/4/1961)

 
Tuy nhiên, chủ đề của bài viết này không nói về xa lộ Biên Hòa mà là Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa nằm phía trái dọc theo xa lộ nếu đi từ Sài Gòn. Ngày nay, nếu có dịp viếng nghĩa trang này, người Sài Gòn không khỏi chạnh lòng trước cảnh điêu tàn, đổ nát của những nấm mồ hoang phế tại đây.  

Được thành lập từ năm 1965 với quy hoạch 30.000 mộ phần, Nghĩa trang Quân đội tính đến năm 1975, đã là nơi an nghỉ của khoảng 16.000 tử sĩ. Trong số đó có hơn 10.000 quân nhân tử trận trong hai chiến trường đẫm máu nhất: Tết Mậu Thân năm 1968 và Mùa hè đỏ lửa năm 1972.

Dù sao đi nữa, xét về khía cạnh nhân bản, những người sống vẫn còn được an ủi là nghĩa trang chỉ mới đạt một nửa công suất thiết kế. Nếu 30.000 mộ được lấp kín, niềm đau thương sẽ tăng gấp đôi khi cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt. Tuy nhiên, xét về mặt chính trị, sự hoang phế của Nghĩa trang Quân đội ngày nay nằm ở trách nhiệm của chính quyền mới. Ông cha ta đã có câu nghĩa tử là nghĩa tận. Dù tử sĩ trước khi nằm xuống có khoác áo quân đội miền Nam hay miền Bắc thì họ vẫn là người Việt.

Năm 1964, nghĩa trang Quân đội ở Gò Vấp trở nên chật hẹp, không gánh vác được hậu quả của chiến tranh khi những người lính tử trận được đưa về ngày một nhiều. Cuộc chiến vẫn tiếp tục leo thang, phần lớn sĩ quan thuộc khu vực thủ đô đều được chôn tại nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi. Ở Mạc Đĩnh Chi, đất cũng bắt đầu khan hiếm và việc chôn cất ngày một tốn kém hơn.
 

Bình đẳng trong thế giới người chết:
Mộ Thiếu tá nằm cạnh Trung Sĩ tại Nghĩa trang Quân đội Gò Vấp

 
Từ những lý do đó, người ta nghĩ đến một nghĩa trang rộng lớn hơn. Ðơn vị Chung sự, chuyên lo hậu sự cho những chiến sĩ đã nằm xuống, cũng có nhu cầu về cơ sở để hoạt động. Kiến nghị được trình lên cấp trên, thông qua hệ thống Cục quân nhu, Tổng tham mưu, Tổng cục Tiếp vận. Các sĩ quan Quân nhu, Công binh, Ðịa ốc Tổng tham mưu đã phải bay trực thăng trên không phận Thủ Ðức, Bình Dương, Biên Hòa, nghiên cứu địa thế thật đẹp dành làm nơi an nghỉ cho các chiến hữu.

Đầu năm 1965, Liên đoàn 30 Công binh Kiến tạo đóng tại Hóc Môn đảm nhận công tác xây dựng và những chiếc xe ủi đất đầu tiên của Tiểu đoàn 54 Công binh bắt đầu hoạt động. Năm 1966, doanh trại của Liên đội Chung sự và khu nhà xác được xây dựng để tiếp nhận những di hài tử sĩ đầu tiên. Công binh tiếp tục làm đường, phân lô, xây Cổng Tam Quan, dựng Ðền Liệt Sĩ, đúc các tấm ciment và làm mộ bia.

Nghĩa trang Quân đội được xây dựng theo mô hình của một con ong. Đầu ong hướng về phía xa lộ Biên Hòa với mũi kim là con đường đâm ra xa lộ. Từ Cổng Tam Quan hai con đường dẫn lên Nghĩa Dũng Ðài cao 43m. Ðầu ong là đền thờ chiến sĩ, cũng có lúc gọi là Ðền Tử Sĩ hay Ðền Liệt Sĩ. Phía dưới chân đền là Cổng Tam Quan nối thẳng một đường dài ra xa lộ. Con đường này làm thành cây kim nhọn của con ong và đầu kim là bức tượng Thương Tiếc ngay bên xa lộ.
 

Không ảnh Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

 
Bức tượng Thương Tiếc là hình ảnh người lính ngồi nghỉ chân trên bệ đá, súng để ngang đùi, nét mặt buồn bã. Tác giả pho tượng đồng đen này là nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu, ông đã chọn người mẫu là một hạ sĩ quan thuộc binh chủng nhảy dù.
  
Người ta kể rằng vào những buổi chiều mờ sương, anh lính rời bệ đá, đi lững thững xuống con suối gần đó để uống nước. Còn có rất nhiều huyền thoại về bức tượng Thương Tiếc. Sau ngày 30/4/1975, tượng Thương Tiếc đã bị phá sập. Người ta nói anh lính đã chui vào lò nấu kim loại tái sinh… và như thế đã được đầu thai sang kiếp khác.
 

Số phận của Thương Tiếc sau năm 1975

 
Từ chân Nghĩa dũng đài, lưng ong chia làm hình nan quạt hướng ra 4 phía và tạo thành một lưới nhện. Phần đuôi ong hẹp, phần dưới dài ra như quả trứng. Các ngôi mộ giống nhau chia thành từng khu. Khu quốc gia dành cho các vị lãnh đạo, khu tướng lãnh, khu cấp tá, cấp úy và binh sĩ.

Quân nhu nhận tử sĩ từ mặt trận được đưa về bất kể ngày đêm để chôn cất, trong đó có những người lính tham gia các trận Mậu Thân 68, trận Mùa Hè 72, trận Hạ Lào, trận Cambodia. Tử sĩ của các đơn vị tổng trừ bị đem về từ 4 quân khu bên cạnh các tử sĩ thuộc quân khu thủ đô và các tiểu khu lân cận. Tử sĩ của các quân chủng, nữ quân nhân, thiếu sinh quân, tất cả đều nằm trong lòng đất Biên Hòa.

Tử sĩ chôn từ trung tâm Nghĩa Dũng Ðài lần lượt tỏa ra các khu bên ngoài. Ðã có trên 10 tướng lãnh nằm tại nghĩa trang Biên Hòa trong đó có cả các vị đại tá được vinh thăng sau khi tử trận. Người có cấp bậc cao cấp nhất được chôn tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa là cố Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí. Hiện nay ngôi mộ này đã được gia đình cải táng nhưng tại vị trí cũ vẫn còn dấu tích.

Trên đường vào nghĩa trang, đi theo con đường chánh xuyên tâm, lên dốc cao, phải qua Cổng Tam Quan, một công trình xây cất giản dị nhưng bề thế và chân phương. Giữa cảnh hoang tàn rêu phong hiện nay, Cổng Tam Quan vẫn giữ được đường nét vững vàng và gần như còn nguyên vẹn dù cỏ mọc, rêu phong.
 

Cổng Tam Quan ngày nay

 
Qua Cổng Tam Quan là con đường dẫn đến ngôi Ðền Tử Sĩ trên một ngọn đồi nhỏ có 4 lối dẫn lên từ bốn phía. Ðây là nơi để linh cữu trước khi chôn cất. Ðây cũng là nơi Tổng thống, Thủ tướng hay các giới chức cao cấp trong chính quyền chủ tọa các buổi lễ chiêu hồn tử sĩ.

Tháng 3/1975, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm lên thăm nghĩa trang và làm lễ đặt vòng hoa. Không ai có thể nghĩ đây là lần viếng sau cùng của một viên chức cao cấp sau biến cố tháng 4.
 

Đền Tử Sĩ (1969)

 
Nghĩa trang có các toán quân danh dự canh gác theo lễ nghi quân cách tại Vành Khăn Tang của Nghĩa Dũng Ðài. Quân nhân từ các quân binh chủng mặc sắc phục được điều động về theo đơn xin khi họ có đủ điều kiện. Với vóc dáng trẻ trung, khỏe mạnh, cao lớn, đoàn quân này được huấn luyện để canh gác và biểu diễn các thao tác nghi lễ như các đoàn quân danh dự tại nghĩa trang Arlington, Hoa Kỳ.

Sau Ðền Tử Sĩ, phải đi một đoạn rất dài mới đến đỉnh một dải đất cao, chính giữa trung tâm là Nghĩa Dũng Ðài. Ðây là công trình quan trọng nhất mà Công binh Việt Nam đã thực hiện từ tháng 11/1967.

Trên nền đất phẳng, Công binh đổ 10,000m3 đất làm thành một ngọn đồi nhân tạo trong gần hai tháng. Trên ngọn đồi nhỏ này, Công binh xây bệ tròn, chính giữa là ngọn kiếm hướng mũi lên trời. Cây kiếm có thân bốn cánh hình chữ thập cao 43m. Chân của chữ thập đường kính 6,5m và trên mũi nhọn là 3,5m, có bậc thang để leo lên đỉnh và đứng trên này sẽ nhìn thấy thành phố Sài Gòn.
 

Nghĩa Dũng Đài chụp năm 2000

Nếu không có biến cố năm 1975, Nghĩa trang Quân đội khi hoàn chỉnh sẽ là Nghĩa trang Quốc gia. Đây sẽ là nơi an nghỉ của không riêng gì tướng lãnh, sĩ quan và binh sĩ mà còn là nơi chôn cất các thành viên chính phủ thuộc các ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp.

Công trình xây dựng nghĩa trang do điêu khắc gia Lê Văn Mậu phụ trách, được dự kiến bước vào giai đoạn 2, kéo dài 6 năm, với ngân khoảng 100 triệu, tiền VNCH năm 1973. Bức tượng Thương tiếc, Cổng Tam Quan và Đền Tử Sĩ đã hoàn tất trước năm 1970. Nghĩa Dũng Đài với ngọn tháp cao cũng đã làm xong, Vành Khăn Tang vĩ đại chung quanh đang gần đến giai đoạn khánh thành vào ngày Quân Lực 19/6/1975 thì biến cố tháng 4/1975 ập đến.

Không biết đây là cảnh ‘bình minh’ hay ‘hoàng hôn’
của bức tượng Thương Tiếc?

Trong thập niên 1990, những người tù cải tạo rời khỏi Việt Nam để đi định cư tại Mỹ. Khi họ trở về thăm quê hương, không ít người, bằng cách này hay cách khác, đã trở lại Nghĩa trang Quân đội để viếng các chiến hữu đã nằm xuống tại quê nhà.

Năm 1994, cơ quan IRCC, Inc. đã cử người về thăm lại Nghĩa Trang Quân Đội và ghi nhận phần lớn mộ phần còn tồn tại nhưng đang trong tình trạng hoang phế. Cuối năm 1997, chương trình tảo mộ hàng năm được bắt đầu thực hiện dưới hình thức thân hữu gia đình và làm từng toán nhỏ để tránh sự dòm ngó của chính quyền. Ngoài ra, anh em thương phế binh Sài Gòn cũng được hỗ trợ tiền bạc từ bên ngoài để âm thầm chăm lo cho những ngôi mộ vô chủ.

Thế giới đã có không ít những bài học về tinh thần hòa giải dân tộc qua những giai đoạn lịch sử khác nhau. Hoa Kỳ đã trải qua thời nội chiến phân tranh khốc liệt giữa hai miền Nam-Bắc, kéo dài từ năm 1861 đến năm 1863.

Khi cuộc nội chiến kết thúc, tử sĩ của cả hai miền đều được an nghỉ bên nhau tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington ở thủ đô Washington DC. Mỗi năm có gần 4 triệu người Mỹ đến viếng Arlington với lòng thành kính biết ơn những người đã nằm xuống cho đất nước đứng lên. Họ hoàn toàn không phân biệt liệt sĩ là người của quân đội miền Nam hay miền Bắc.

Bên mộ Tổng thống Kennedy, Nghĩa trang Arlington 
(hình chụp năm 1971)

Năm 1863, Tổng thống Mỹ Abraham Lincohn đã khánh thành nghĩa trang Quốc gia với lý do thật giản dị, “tất cả những người chết đều là đồng bào”. Ông Lincoln tuyên bố trong diễn văn khánh thành nghĩa trang ngày 19/9/1863: “Tại đây chúng ta đoan quyết rằng cái chết không bao giờ là vô ích – rằng, dân tộc này, nhờ ơn Chúa, sẽ có sự hồi sinh mới của tự do – rằng một Chính phủ của nhân dân, do nhân dân và vì dân sẽ không thể bị phá hủy trên trái đất này”.

Cuộc nội chiến kết thúc, 20 vạn tù binh miền Nam được thả về nhà mà không cần cải tạo và cũng không có lễ ăn mừng chiến thắng. Lý do, một lần nữa cũng dễ hiểu, “những người bại trận cũng là đồng bào”.

Lớp hậu duệ của những người Đức đã bỏ mình trong những trận mưa pháo của hạm đội Hoa Kỳ và Anh Quốc cùng con cháu những chiến binh Anh-Pháp-Mỹ đã gục ngã trước họng súng đại liên của Đức quốc xã trong ngày đổ bộ lên bãi biển Normandy (6/6/1944) hồi Đệ nhị thế chiến… ngày nay đều cùng quay trở về thăm mộ bia của cha ông đến từ cả hai chiến tuyến.

Tại Trung Hoa, Nghĩa trang Hoàng Hoa Cương của quân đội Tưởng Giới Thạch – trong đó có cả mộ phần của liệt sĩ chống Pháp Phạm Hồng Thái đến từ Việt Nam – vẫn được chính phủ Hoa Lục trùng tu và chăm sóc cẩn thận. Ngày nay nghĩa trang này đã trở thành di tích lịch sử, thu hút một lượng khách du lịch đông đảo. Họ có thể là những người đến tham quan thắng cảnh và cũng có thể là hậu duệ của những tử sĩ đã nằm xuống tại đây.

Mộ Phạm Hồng Thái trong nghĩa trang Hoàng Hoa Cương

Tại Việt Nam, biết bao gia đình có con em phục vụ dưới hai mầu áo khác nhau nhưng mẹ Việt Nam vẫn không hề phân biệt trong những dịp cúng giỗ. Tình cảm thiêng liêng đó đã có từ trước 1975 và tiếp tục duy trì sau ngày Sài Gòn mất tên. Sao chúng ta không mở lòng như người mẹ bình thường đã và đang làm?

Người mẹ bên nấm mộ mới chôn (1972)

Nghĩa tử là nghĩa tận. Tại sao chúng ta không làm được như những dân tộc khác đã làm? Đối với những người còn sống, chúng ta vẫn có thể phân biệt chính kiến nhưng đối với người đã chết, liệu sự phân biệt đối xử đó có hợp với đạo lý muôn đời của người Việt hay không?

Học sinh trường Quốc Gia Nghĩa Tử tham dự lễ Quốc Khánh 1/11/1969
tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa


 
------------------------------------


8 Comments on Multiply

huynhtran wrote on Oct 17, '10
Đọc bài viết này mà tôi chợt rung cảm, lúc 1961 thì tôi chỉ mới 7 tuổi thôi.
Bây giờ đi ngang qua Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi cũ, tôi lại nghĩ tới nghĩa trang ở Pháp, nghĩa trang giữa lòng thành phố...
Và đi ngang qua xa lộ Biên Hòa ngày ấy, thì nhớ tới bức tượng và con đường hun hút leo lên đồi đó, dù chưa một lần đi vào...

Đọc tới đoạn viết về cách Tổng thống Mỹ Abraham Lincohn và Mỹ đã làm.. thì thấy cùng một sự việc nhưng khác biệt về xử sự ...
 
nguoigiaonline wrote on Oct 17, '10

"Đối với những người còn sống, chúng ta vẫn có thể phân biệt chính kiến nhưng đối với người đã chết, liệu sự phân biệt đối xử đó có hợp với đạo lý muôn đời của người Việt hay không?"
Anh đã tự có câu trả lời rồi đấy... từ thái độ của những kẻ thất học cho rằng mình thắng trận.

huutien73 wrote on Oct 17, '10, edited on Oct 17, '10
Nghĩa trang Biên Hoà hiện nay nằm ở chổ nào vậy anh?

nguoigiaonline wrote on Oct 17, '10
huutien73 said “Nghĩa trang Biên Hoà hiện nay năm chổ nào vậy anh?”
Mời bạn ghé trang các Trang này...
 

 v v... để có thêm thông tin bạn cần tìm hiểu, mến.

nguyenngocchinh wrote on Oct 17, '10
Đúng vậy. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi là công viên Lê Văn Tám ngày nay. Chắc Tiến chưa đọc bài "Nghĩa tử là nghĩa tận": Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (đăng trước bài "Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa").

huutien73 wrote on Oct 17, '10
nguyenngocchinh said “Đúng vậy. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi là công viên Lê Văn Tám ngày nay. Chắc Tiến chưa đọc bài Nghĩa tử là nghĩa tận: Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (đăng trước bài Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa).”

Dạ đúng rồi, em đọc bài Nghĩa trang Biên Hoà trước, rồi mới đọc bài kia sau, Cho nên em đã delete câu hỏi rồi đó.

130353 wrote on Oct 17, '10
Đọc bài này tôi cảm thấy đau xót cho những người nằm xuống, và cho cả những người chưa nằm xuống

hoangnamsg wrote on Oct 17, '10
Xem ra cách đối xử đồng bào ruột thịt là văn hóa. Bạn hiểu, mọi người hiểu, nhưng có 1 tồn tại chiến sĩ ngã xuống không cần hiểu.

 

Nghĩa tử là nghĩa tận: Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi


Sài Gòn xưa nổi đình nổi đám nhất trong thế giới của người chết là Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Nghĩa trang rộng khoảng 7,5 hectađược coi là nơi an nghỉ của giới ‘quý tộc’ Sài Gòn trước khi thành phố đổi tên. Nơi đây nhiều nhân vật nổi tiếng một thời như Tổng thống Ngô Đình Diệm, Đại tướng Lê Văn Tỵ đã từng yên nghỉ.

Tôi dùng chữ đã từng vì tưởng như thế là yên thân với ‘mồ yên mả đẹp’ nhưng có ai ngờ lại phải bốc mộ đi dời để biến nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi thành công viên Lê Văn Tám ngày nay.

Nghĩa trang MĐC và bức tường rào phía đường Hiền Vương 
(nay là Võ Thị Sáu)

Nhân đây cũng nên nói qua về nhân vật được ca tụng là ‘tuổi trẻ anh hùng’, ‘ngọn đuốc sống’ Lê Văn Tám theo sách giáo khoa hiện đang sử dụng trong hệ thống giáo dục ngày nay.

Ngày 19/10/1945 (?), cậu bé Lê Văn Tám (16 tuổi) đã tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng Thị Nghè Simon Piétri (?) của thực dân Pháp cách đấy mấy chục mét.

Về câu chuyện anh hùng này, Phan Huy Lê, giáo sư sử học Đại học Quốc gia Hà Nội, trong bài viết Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám đã kể lại theo lời dặn của Giáo sư Trần Huy Liệu khi đó đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời:

“Nhân vụ kho xăng của địch ở Thị Nghè bị đốt cháy vào khoảng tháng 10 - 1945 và được loan tin rộng rãi trên báo chí trong nước và đài phát thanh của Pháp, đài BBC của Anh; nhưng không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng nên tôi [tức GS Trần Huy Liệu – chú thích của NNC] đã "dựng" lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét”.


Đài BBC đưa tin và hôm sau bình luận: “Một cậu bé tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy thì sẽ gục ngay tại chỗ, hay nhiều lắm là chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng”. Ông Liệu chắc đã phải tự trách mình vì thiếu cân nhắc về logic nên có chỗ chưa hợp lý.

Thời Nam Bộ kháng chiến, có rất nhiều tấm gương hy sinh vì Tổ quốc cho nên ‘dựng’ chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ đến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), còn việc đặt tên Lê Văn Tám có lẽ vì họ Lê Văn rất phổ biến và Tám là nghĩ đến Cách mạng tháng Tám (?).

Ông Liệu giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời từ ngày 28/8/1945 đến ngày 1/1/1946, rồi Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Cổ động trong Chính phủ liên hiệp lâm thời từ ngày 1/1/1946 cho đến khi thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến tại kỳ họp Quốc hội ngày 2/3/1946. Ông Liệu là một con người rất trung thực, không muốn để lại một sự ngộ nhận trong lịch sử do mình tạo nên trong một bối cảnh và yêu cầu bức xúc của cuộc kháng chiến.

Theo GS Lê, ông Liệu đã căn dặn: “Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa. Trong câu chuyện, GS còn tiên lượng là biết đâu sau này có người đi tìm tung tích nhân vật Lê Văn Tám hay có người lại tự nhận là hậu duệ của gia đình, họ hàng người anh hùng. Đây chính là điều lắng đọng sâu nhất trong tâm trí mà tôi [tức GS Lê – chú thích của NNC] coi là trách nhiệm đối với GS Trần Huy Liệu đã quá cố và đối với lịch sử”.

Nói đi thì cũng phải nói lại. Trong loạt bài viết trên báo Sài Gòn Giải phóng nêu một số nguồn tham khảo cho biết Lê Văn Tám là một nhân vật có thật. Theo nhà văn Trần Trọng Tân, với tư liệu Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945 - 1975) của Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh (1994) thì có thể khẳng định kho đạn Thị Nghè đã bị nổ hai lần vào ngày 17-10-1945 và ngày 8-4-1946. Vụ nổ ngày 17-10-1945 gắn liền với Cây đuốc sống Lê Văn Tám là có thực.

Kho đạn hay kho xăng gần cầu Thị Nghè trong thời gian 1945-1946 đã từng bị cháy đến hai lần? Lần đầu xảy ra vào ngày 17-10-1945, khi đó thiếu niên Lê Văn Tám, dưới sự chỉ đạo của Lê Văn Châu, đã đột nhập vào kho đạn, mang theo diêm và xăng. Khi rút lui, Lê Văn Tám bị dính xăng và bốc cháy như một cây đuốc sống.

Biểu tượng ‘ngọn đuốc sống Lê Văn Tám’ đã được quảng bá rộng rãi, đi sâu vào tâm thức của mọi người, tiêu biểu cho tinh thần hi sinh anh dũng, ý chí xả thân vì nước của quân dân trong buổi đầu của Nam kỳ Kháng chiến chống thực dân Pháp. Một số đường phố, trường học, công viên hiện nay đã mang tên Lê Văn Tám nhưng tiếc thay vẫn còn nhiều nghi vấn, không biết đó là hư cấu vì mục đích tuyên truyền hay chuyện có thật.

Bức tượng về ‘ngọn đuốc sống’ trong công viên Lê Văn Tám,
nơi trước đây là Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi

Cũng tại Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, tiền thân của công viên Lê Văn Tám ngày nay, vốn được coi dành riêng cho quân đội Sài Gòn, có đến hàng trăm ngôi mộ chiến sĩ tình báo ‘cách mạng’, ‘binh vận’ từng đóng vai quan chức, quân nhân tư bản của chế độ Sài Gòn. Khi nằm xuống, họ vẫn mang cái ‘vỏ’ cũ... Thế là dù cách mạng hay phản cách mạng, những người đã nằm xuống đều có chung ‘thân phận’. Đó là thân phận của người chết.
 

Tổng thống Ngô Đình Diệm chết trong thiết vận xa M113

Sau khi bị lực lượng đảo chính giết vào tháng 11/1963, hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Áo quan của ông Diệm hình hộp, áo quan của Ngô Đình Nhu có nắp tròn. Một nhân chứng thời kỳ này giải thích, người thân của hai ông đi mua vội quan tài nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt dành cho ông Diệm, còn chiếc hạng vừa dành cho ông Nhu.
  
Mộ hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu khá đặc biệt, chỉ có tấm đan bê tông đặt bên trên cao hơn mặt đất vài chục phân. Suốt từng ấy năm cho đến 1975, hai ngôi mộ nằm lọt thỏm, đìu hiu giữa nghĩa trang bộn bề những ngôi mộ kiên cố.

Quan tài của ông Diệm nằm bên phải,
của ông Nhu bên trái trước khi được chôn

Những kẻ cơ hội quay lưng với gia đình họ Ngô đã đành, những người thân cũng ngại đến thăm viếng vì sợ chính quyền thời đó dòm ngó. Năm 1964, bà Phạm Thị Thân, thân mẫu của hai ông mất, đám tang thậm chí còn không người đưa tiễn!

Hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được chôn trong kim tĩnh (hộp bê tông dày và kín) rất khô ráo. Khi cải lên, thi thể của cả hai chỉ khô lại chứ không tan rữa, vẫn có thể nhận ra từng người. Đầu hai người đều quấn băng trắng in dấu máu đen từ những vết thương trước khi chết. Khi băng được mở, vết máu vẫn còn cứng. Sau gáy ông Nhu có một vết thương khá lớn, có thể do va đập.

Trong thời gian di dời, có một người phụ nữ tên là Hạnh từ Huế vào, xưng là cháu, nhận thi hài hai ông Diệm-Nhu và được đem đi cải táng tại nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương). Mộ ông Ngô Đình Cẩn (được chôn tại nghĩa trang sân bay Tân Sơn Nhất sau khi bị xử bắn vào năm 1965), và mộ bà thân mẫu Phạm Thị Thân cũng được quy tụ về Lái thiêu.

Trong khu đất rộng hàng nghìn hecta với những rặng cây lớn xanh và mát, mộ gia đình họ Ngô nằm cùng một dãy. Mộ bà Luxia Phạm Thị Thân nằm ở giữa, mộ hai ông Diệm, Nhu hai bên nhưng trên bia chỉ khắc Gioan Baotixita Huynh (ông anh) và Giacobe Đệ (ông em). Cách mộ ông Nhu một quãng là mộ ông Cẩn, trên bia có khắc Jean Baptiste Cẩn.

Mộ ông Ngô Đình Diệm
(trên bia khắc tên ‘Gioan Baotixita Huynh’)

Mộ ông Ngô Đình Nhu
(trên bia khắc tên ‘Giacobe Đệ’)

Mộ bà Luxia Phạm Thị Thân
(nằm giữa mộ hai người con, Huynh và Đệ)

Mộ ông Ngô Đình Cẩn
(trên bia chỉ đề Jean Baptiste Cẩn)

Tại Mạc Đĩnh Chi, ngoài mộ hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu còn có mộ thân phụ của các ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, một số tướng lĩnh cao nhất, dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn, cùng hàng nghìn nhân vật tên tuổi trong chính quyền. Trước năm 1975, một số người vì muốn thân nhân đã khuất được danh giá, bản thân được chút tiếng tăm, phải cố chạy chọt giành lấy một khoảnh đất trong Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Một người từng cải táng mộ thân nhân tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi vào năm 1983 là bà Thanh Triều. Bà có chồng là sĩ quan VNCH và cháu là Hồng Ngọc (vợ của ca sĩ Elvis Phương) chôn tại đây. Chồng bà bị tử nạn khi máy bay rơi trên đường từ Đà Nẵng về Đà Lạt năm 1973. Còn cô cháu Hồng Ngọc mất năm 1970 do tai nạn giao thông.

Bà Triều nhớ lại: "Tôi nhận được thông báo di dời nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi vào đầu tháng 5 năm 1983. Thời gian di dời là 3 tháng. Nói thật, tôi thấy bàng hoàng, vì khi chôn thì xác định rằng chôn vĩnh viễn. Nhưng sau, suy nghĩ cạn lý, tôi thấy việc này không đừng được. Nghe đâu mấy ổng trước [chính phủ Sài Gòn – chú thích của NNC] đã nhiều lần định làm rồi, nhưng cứ nán lại vì sợ đụng ông nọ, ông kia".

Bà Triều thuê đội bốc mộ cải táng. Khi cải lên, do chôn trong kim tĩnh, lại chôn trong vùng đất cao và khô, nên cả hai thi hài vẫn giữ nguyên hình dạng. Bà cho đem đi thiêu cả hai. Từ đó đến giờ, bà gửi tro cốt chồng tại chùa Phổ Quang. Bà vẫn thường xuyên lên chùa, hương hỏa cho chồng.

Còn phần tro cốt của Hồng Ngọc đã được ca sĩ Elvis Phương mang ra nước ngoài để tiện việc thờ cúng. Không biết có chính xác hay không, theo nhiều người kể lại, trên mộ của Hồng Ngọc tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi hồi đó, Elvis Phương có khắc dòng chữ “Ngọc chết rồi Phương chơi với ai?”.

Ca sĩ Elvis Phương trước năm 1975

Trước 75, Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, còn được gọi qua tên Đất thánh Tây, là một khu đất bao bọc bởi bức tường vôi màu vàng cũ kỹ nằm ngay giữa trung tâm sầm uất của Sài Gòn xưa. Vì là nghĩa trang của giới quý tộc nên một khoảnh đất nhỏ trong Mạc Đĩnh Chi có giá bằng cả một gia tài của một người sống giữa đất Sài Gòn.

Mộ bia tại đây thường là những tấm đá cẩm thạch, đá hoa cương bóng lộn với dòng chữ R.I.P (rest in peace), có những câu đậm mùi triết lý “Hãy nhớ mình là cát bụi và sẽ trở về với cát bụi” hoặc “Người sẽ chết tưởng nhớ người đã chết”... Nghĩa tử là nghĩa tận, ‘người sẽ chết’ đã lo cho ‘người đã chết’ bằng những mộ phần hào nhoáng trị giá gấp trăm, thậm chí gấp nghìn lần, những căn nhà ọp ẹp dựng trên bờ kinh nước đen Nhiêu Lộc.

Truy lùng VC tại nghĩa trang MĐC vào Tết Mậu Thân 1968

Công bằng mà nói, việc biến nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi thành công viên Lê Văn Tám - dù có đụng chạm đến quyền lợi của một số người có thân nhân nằm trong đó - vẫn là một việc phải làm khi đất đai tại trung tâm thành phố ngày càng thu hẹp, dân số ngày càng gia tăng.

Chắc hẳn những người đã an nghỉ tại Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi cũng rộng lòng thông cảm cho lớp hậu duệ ngày nay!


(Trích Hồi Ức Một Đời Người – Chương 4: Thời quân ngũ)

 

Chủ nhật, ngày 02 tháng chín năm 2012

 

Nghĩa tử là nghĩa tận: Lăng Cha Cả

Lăng Cha Cả nằm ở khu vực ngã tư Nguyễn Văn Thoại - Trương Minh Ký (ngày nay đổi tên là Hoàng Văn Thụ - Lê Văn Sỹ). Lăng là khu đất rộng khoảng 2 ngàn thước vuông, gồm một nhà lợp ngói, cột và vách bằng gỗ quý, ở trước có bia đá lớn. Người công giáo gọi Cha Cả là vị tu sĩ đứng đầu địa phận và Lăng Cha Cả là mộ phần của Giám mục Bá Đa Lộc, tu sĩ người Pháp đã sang giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn Nguyễn Huệ. Bá Đa Lộc là tên tiếng Việt được phiên âm từ tiếng Pháp, Pigneau de Behain.


Lăng Cha Cả ngày xưa

Nhà nghiên cứu Lý Nhân Phan Thứ Lang, người Công giáo, đặt vấn đề: "Nhiều người nghĩ đó là mộ thật của Đức Giám mục, nhưng tờ Nam Phong Tạp Chí của Phạm Quỳnh, quyển XVI, 92, phát hành tháng 2 năm 1925, có bài: "Bá Đa Lộc: mộ ông... hiện nay ở đâu?" của Vương Gia Bật, chỉ rõ: Lăng Ngọc Hội cách thành phố Nha Trang 8 cây số. Phía trước mộ có một cái miếu nhỏ ở giữa đề chữ Hán: "Bá Đa Lộc chi mộ". Phía sau miếu có khắc cây Thánh giá. Ngày 13/3/1925, quan Công sứ và Linh mục nhà thờ Bình Can (Nha Trang) ra lệnh cải táng. Bên trong, xương cốt đã mục, hàm còn dính 3 cái răng, có 2 - 3 cái rơi ra ngoài....”

Mặt tiền Lăng Cha Cả

Như vậy, mộ Đức Cha Bá Đa Lộc đích thực chôn ở Nha Trang. Theo tôi, ngay sau khi cải táng, hài cốt của Đức Cha đã được đưa về Pháp, ngôi mộ ở khu Lăng Cha Cả tại Sài Gòn chỉ là tượng trưng. Khi vua Gia Long mới lên ngôi, sợ Tây Sơn có ngày lật ngược thế cờ, nên phải cho dựng lăng ở Gia Định để đánh lạc hướng.

Sau khi Sài Gòn đổi chủ, chính quyền mới ra lệnh giải tỏa khu vực lăng vào năm 1980, đến năm 1983 việc cải táng hoàn tất. Riêng mộ của Giám mục Bá Đa Lộc, khi khai quật, chỉ thấy cây Thánh giá bằng vàng Tây lớn mà ông đeo khi xưa, chiếc gậy vàng của chức Giám mục và những mề đay của nhà nước Pháp và Việt trao tặng cho ông.

Tro cốt Giám mục Bá Đa Lộc hiện được lưu giữ tại Pháp

Khu vực Lăng Cha Cả ngày nay không còn vết tích của lăng mà thay vào đó là một vòng xoay lớn để phân luồng xe cộ. Mặc dù đã phân luồng nhưng đây vẫn là một điểm nóng, luôn xảy ra kẹt xe. Xe từ phía phi trường Tân Sơn Nhất đổ ra, xe từ đường Nguyễn Văn Sỹ (Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký ngày xưa), xe từ đường Lý Thường Kiệt (xưa là đường Nguyễn Văn Thoại)… tất cả đều gặp nhau ở khu vực Lăng Cha Cả nên kẹt xe là chuyện thường ngày.

Bên hông Lăng Cha Cả ngày xưa

Trước năm 1975, gia đình tôi thuê nhà tại khu Lăng Cha Cả. Căn gác số 42/1/17 đường Bùi Thị Xuân nằm trong xóm đạo Tân Sa Châu của người Bắc di cư. Trong xóm đạo có cả khu nghĩa trang để chôn người chết và căn gác của tôi có balcon nhìn thẳng xuống nghĩa địa. Như vậy là chúng tôi sống chung với người chết từ măm 1970 đến khoảng 1990.

Kể cũng lạ. Trong suốt 20 năm chung sống với người chết, cả gia đình chúng tôi hoàn toàn không có ý niệm về việc ‘sợ ma’. Có lẽ bốn đứa con tôi lớn lên trong môi trường thường xuyên tiếp xúc với những nấm mộ nên chúng hoàn toàn không hề có cảm giác sợ sệt. Có lúc, thậm chí tôi còn nghĩ, nhờ nghĩa địa này mà căn gác trở nên thông thoáng mỗi khi mở cửa balcon trông xuống tường rào nghĩa địa.

Khi chúng tôi dọn đến, nghĩa trang đã gần hết chỗ, chỉ thỉnh thoảng mới có đám ma mới chen vào những ngôi mộ cũ. Cũng như xã hội người sống, có kẻ giàu, người nghèo, những nấm mộ trong nghĩa trang cũng nói lên địa vị xã hội của người chết. Có những nấm mộ đắp đất sơ sài, thậm chí còn không có mộ bia, nhưng cũng có những nấm mộ xây bê tông cốt thép có cả mái che mưa, che nắng.

Đám ma với kèn trống trong Chợ Lớn

Nghĩa trang bao giờ cũng buồn trong sự yên lặng của người chết. Họ không bao giờ to tiếng, chẳng hề bon chen và nhất là bình đẳng sau khi chết. Chỉ những người sống là ồn ào, ngay cả trong phút tiễn đưa người chết đến nơi an nghỉ cuối cùng. Người đưa đám khua kèn trống dinh tai, cất tiếng khóc não nuột. Nhưng rồi đâu cũng vào đấy. Khi tang lễ chấm dứt, họ tiếp tục quay về với cuộc sống hiện tại.

Ngày xưa, người Sài Gòn rất ghét bọn gian thương Ba Tàu chỉ vì chúng lũng đoạn thị trường, làm giàu trên xương máu người Việt. Ấy vậy mà khi một chú Ba nằm xuống, đám ma rình rang, kèn Tây kèn Tàu rầm rộ, người đi đưa đám vui như một đám hội. Không biết một thi sĩ nào đã tức cảnh đề thơ về những cái chết của chú Ba:

Sống phá rối thị trường,
Chết chật đường, chật xá!

Đám tang của người Hoa

Hồi mới ‘giải phóng’ có bài ca Kết Đoàn từ miền Bắc du nhập vào Nam, lời ca thể hiện phương châm của chính quyền nới: “Đoàn kết, Đoàn kết, đại Đoàn kết…:

Kết đoàn chúng ta là sức mạnh,
Kết đoàn chúng ta là anh em…

Trẻ con trong xóm tôi lại có lời ca thứ hai, diễn tả một đám ma bằng những hình ảnh thật trung thực, dựa trên âm điệu của bài Kết Đoàn:

Chết rồi bỏ vô hòm đóng lại,
Chết rồi bỏ vô hòm đem chôn
Người chết đi đằng trước
Người sống đi đằng sau
Cả lũ kéo nhau
Vừa khóc vừa mếu…

Một đám tang linh đình năm 1949

Người sống sau đó lại quay về với cuộc sống hàng ngày, bỏ lại sau lưng những nấm mồ của người thân. Và có lẽ chỉ có chúng tôi, những người hàng xóm sống với người chết, đi ra đi vào nhìn thấy nhau dù nhà của họ chỉ là một nấm mộ rộng vài ba tấc đất.

Có những đêm nóng nực, tôi mở cửa ra balcon ngồi hóng gió. Đó là những lúc tôi cảm thấy gần gũi với người chết nhiều hơn, họ là đám đông thầm lặng dưới mồ. Có những nấm mộ dường như đã trở nên thân quen như hàng xóm. Quen chỉ vì quen mặt người thân năng lui tới thăm mộ.

Đó là một ông già vợ chết, hầu như ngày nào ông cũng đạp xe đến với bà. Mộ của bà nằm gần tường rào trước balcon nhà tôi. Nhiều lúc ông chỉ đến tay không, hay có chăng vài nén nhang thắp trên mộ bà.  Trước khi về, ông dáo dác nhìn quanh. Tôi dấu mình trong nhà để tôn trọng giây phút thiêng liêng giữa ông và bà. Không thấy ai, ông lén hôn lên bức ảnh của bà trước khi về. Tất cả đều diễn ra trong cái yên lặng của nghĩa trang và có lẽ chỉ mình tôi chứng kiến.

Một chiếc xe tang giản dị

Cho đến năm 1980, nghĩa trang bị giải tỏa theo quy hoạch của quận Tân Bình để xây chung cư và làm đường thông với đường Phạm Văn Hai (khu ông Tạ) và Nguyễn Văn Sĩ. Khu nghĩa trang xưa đã bị xóa tên và nay trở thành khu phố của người Đại Hàn. Họ đến ở kéo theo những tiệm ăn Hàn Quốc, Karaoke Hàn Quốc và những người con gái lấy chồng Hàn Quốc.

Nghĩa trang ngày xưa giờ chỉ còn đọng lại trong tôi mùi thật khủng khiếp khi người ta bốc mộ di dời. Một mùi hôi thối đặc trưng của xác người chết khi bị đào lên. Mùi hôi đến lợm giọng, buồn nôn mỗi khi có cơn gió đưa vào mũi. Mùi hôi toát ra từ việc bốc mộ có lẽ là mùi khủng khiếp nhất trong bất cứ mùi hôi nào trên đời.

Thân xác con người lúc sống thơm tho như vậy mà sao lúc chết đi lại có mùi dễ sợ đến như thế. Ông già si tình ngày nào không biết còn có đủ can đảm để hôn một cái xác nặng mùi của bà vợ? Tôi chắc, với ông, bà lúc nào cũng thơm, dù còn sống hay đã chết. Tình yêu đã biến những cái ‘không thể’ thành ‘có thể’?

Cầu cho ông vẫn ‘thơm’ bà trong giấc mơ… cho đến ngày ông nằm xuống.

 

(Trích Hồi Ức Một Đời Người – Chương 4: Thời quân ngũ)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

**********

7 Comments on Multiply

130353 wrote on Oct 15, '10
truyen buon qua

caulongbachai wrote on Oct 15, '10
He he, nếu không có để dành xuất bản thì post chương đầu xem nhé!

nguyenngocchinh wrote on Oct 15, '10
caulongbachai saidnếu không có để dành xuất bản thì post chương đầu xem nhé!”
 Tôi sẽ cố gắng post đều đều cho đến hết. Chỉ sợ tuổi già, sức yếu, lực bất tòng tâm mà thôi!

caibang9 wrote on Oct 15, '10
Thì bạn Chính cứ viết thẳng vào blog thì khỏi mất công post. hihihi
Chúc Chính cùng gia đình thân tâm thường lạc, mọi sự hanh thông.

lenassi wrote on Oct 15, '10
bài viết của chú đọc hay và có ý nghĩ quá, dù hơi buồn

caulongbachai wrote on Oct 15, '10
Cám ơn.

nguoigiaonline wrote on Oct 15, '10
Congratulation my older friend, entry của anh ngày càng hay và càng nhiều bạn ghé thăm. Giữ sức khỏe nghen.

Followers

Blog Archive