Thursday, October 9, 2014

Xanga
Jun 3, '10 8:22 PM
for everyone

   
Bệnh Sùng Bái Lãnh Tụ


Trong bài viết “Khen quá lố, không nên!”, Bùi Tín nêu lên nghi vấn về sự kiện Võ Nguyên Giáp được Hội đồng Hoàng gia Anh vinh danh là một trong mười nhân vật quân sự lỗi lạc nhất mọi thời đại vào năm 1992. Tôi không rành về quân sự và cũng quá bận bịu để tìm hiểu hư thực về chuyện vinh danh ấy thế nào. Tôi chỉ muốn nhân bài viết của Bùi Tín đặt ra một vấn đề khác: bệnh sùng bái cá nhân.

Theo Max Weber, về phương diện chính trị, có ba kiểu quyền lực chính: truyền thống (traditional), pháp lý-duy lý (rational-legal) và sự lôi cuốn (charismatic). Tất cả các chế độ cộng sản đều ra đời sau các cuộc cách mạng cướp chính quyền bằng bạo lực, do đó, hai yếu tố đầu, truyền thống và pháp lý, coi như không có. Chỉ còn yếu tố cuối: Để thu hút sự ủng hộ của quần chúng, họ phải tự biến họ thành một sức lôi cuốn cực kỳ mạnh mẽ; và để có sức lôi cuốn như thế, họ phải đặt trọng tâm vào tuyên truyền; trong tuyên truyền, họ đặt trọng tâm vào chính sách thần thánh hóa đảng và các lãnh tụ của đảng. Hệ quả là tất cả các chế độ cộng sản đều có một đặc điểm giống nhau: sùng bái.

Nói đến sùng bái là nói đến tôn giáo. Trên lý thuyết, cộng sản đối nghịch và thù nghịch với các tôn giáo, nhưng trên thực tế, các chế độ cộng sản lại xây dựng quyền lực của mình theo mô hình của các tôn giáo, bao gồm ba yếu tố chính:

một
, tính lý tưởng: xây dựng một xã hội cộng sản không có giai cấp trên toàn thế giới;
hai, tính phổ quát: không phải chỉ giải phóng một dân tộc mà còn cả nhân loại; và cuối cùng,
ba, tính sùng bái, ở đó, mọi lãnh tụ đều biến thành ngẫu tượng.


Người đi tiên phong trong mưu đồ tôn giáo hóa chế độ này chắc chắn là Lenin. Nhưng người hoàn chỉnh nó lại là Stalin. Với Stalin, sự sùng bái đảng và sùng bái lãnh tụ biến thành sự sùng bái đối với cá nhân. Đó là một yếu tố mới. Trước, mọi chế độ quân chủ đều được xây dựng trên cơ sở ít nhiều có tính thần quyền, ở đó ngôi vua được linh thiêng hóa, gắn liền với thiên mệnh: Vua là con Trời. Vua nào cũng là con Trời. Mọi người phải vâng lời và trung thành với vua không phải vì tài năng hay cá tính của ông mà là vì: ông là con Trời. Vậy thôi. Đảng cộng sản không huyền thoại hóa hay thần thánh hóa ngôi vị Chủ tịch hay Tổng bí thư. Họ chỉ nhắm vào người đang giữ chức Chủ tịch hay Tổng bí thư. Nói như Khrushchev, trong bản cáo trạng dành cho Stalin vào năm 1956, ở đây việc sùng bái lãnh tụ biến thành việc sùng bái cá nhân.

Nhưng không phải lãnh tụ nào cũng được huyền thoại hóa hay thần thánh hóa. Trừ trường hợp của Stalin (và với một mức độ nào đó, Kim Chính Nhật ở Bắc Hàn hiện nay), các lãnh tụ được thần thánh hoá là những người sáng lập đảng và nhà nước, từ Mao Trạch Đông đến Hồ Chí Minh, từ Fidel Castro đến Kim Nhật Thành, v.v...

Theo E.A. Rees, trong bài “Leader Cults: varieties, preconditions and functions” in trong cuốn “The Leader Culture in Communist Dictatorship” (Palgrave Macmillan, 2004, tr. 10), chiến lược để thần thánh hóa lãnh tụ ở đâu cũng giống nhau: một, xuất bản các bài viết hoặc bài nói chuyện của họ thành sách để làm “kim chỉ nam” cho cả nước; hai, thêu dệt tiểu sử của họ; ba, dựng tượng và lấy tên họ đặt cho địa phương, trường học hoặc công trường, công xưởng; bốn, sinh nhật của họ được tổ chức rất trọng thể; và năm, khi họ chết thì nơi họ ở được biến thành viện bảo tàng. Xin nói thêm, với những lãnh tụ lớn, xác họ sẽ được ướp và để trong lăng để mọi người chiêm ngưỡng! Ngoài ra, người ta còn không ngớt phát động các chiến dịch làm thơ viết văn soạn nhạc để ca ngợi họ.

So với những lãnh tụ khác, việc thần thánh hóa Hồ Chí Minh, ngoài các điểm chung nêu trên, có mấy điểm dị biệt.

Thứ nhất
, ăn theo Stalin và Mao Trạch Đông. Ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã tự giới hạn vai trò của ông là ở Việt Nam. Sân khấu thế giới cũng như về phương diện lý thuyết, ông nhường cho Stalin và Mao Trạch Đông. Với họ, ông chỉ là học trò, một vị á thánh.
Thứ nhì, tận dụng truyền thống và cách xưng hô Việt Nam, Hồ Chí Minh trở thành “Bác” của cả nước. Ở Liên Xô, hình ảnh nổi bật của Stalin là hình ảnh một vị Tổng Tư Lệnh uy nghi; ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông là một vị Chủ Tịch có chủ thuyết riêng; ở Việt Nam, Hồ Chí Minh là một ông Bác hiền lành và nhân hậu.

Thứ ba
, ở Hồ Chí Minh, yếu tố “đức” được nhấn mạnh một cách đặc biệt, không phải chỉ ở lòng yêu nước hay thương dân mà còn ở cung cách xử thế, và nhất là, ở đời sống độc thân của ông. Khi yếu tố “đức” được nhấn mạnh, tính chất cách mạng được hòa quyện với tính chất nho sĩ và hiền sĩ; với chúng, Hồ Chí Minh mất đi chút uy nghi vốn dễ thấy ở Stalin và Mao Trạch Đông; bù lại, ở ông, có sự gần gũi mà những người kia không có.


Thứ tư
, trong khi việc thần thánh hóa Stalin và Mao Trạch Đông là do cả một bộ máy đảng và nhà nước; trong việc thần thánh hóa Hồ Chí Minh còn bàn tay của chính ông nhúng vào qua việc tự yêu cầu người khác gọi mình là “Bác” và nhất là, việc tự mình viết sách ca tụng mình. Lý do, có lẽ vào năm 1945, khi mới lên cầm quyền, bộ máy đảng và nhà nước ở Việt Nam còn quá yếu, trình độ cán bộ thấp, Hồ Chí Minh buộc phải tự mình ra tay chăng?


Ngày trước, lúc Hồ Chí Minh còn sống, việc thần thánh hóa ông được sử dụng như một nhu cầu để đoàn kết đảng, nhà nước và xã hội, để nâng cao lòng tự hào dân tộc, để khích động tinh thần của quần chúng, và cũng để nô lệ hóa quần chúng. Sau này, khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã bị sụp đổ, lý tưởng cộng sản đã tan tành, bảng giá trị cách mạng bị lung lay, các huyền thoại về độc lập và tự do trở thành thoi thóp, đảng Cộng sản biến hình ảnh “Bác Hồ” thành tư tưởng Hồ Chí Minh, ở đó, vai trò của ý thức hệ nổi bật hơn vai trò của hình ảnh; tính duy lý được đề cao hơn quan hệ gia đình hay thân tộc. Nhưng tôi sợ là họ không thành công. Hồ Chí Minh chỉ là một người hành động. Ông không có khiếu về lý thuyết. Ông biết điều đó và thừa nhận điều đó ngay từ thời kháng chiến chống Pháp lúc tuyên bố mọi vấn đề quan trọng đã được Stalin và Mao Trạch Đông nói hết rồi, ông không còn gì để thêm cả. Từ những cuốn sách hay những bài phát biểu đơn sơ và đơn giản của ông, khó có ai có hy vọng xây dựng nên được một hệ thống tư tưởng mạch lạc, sâu sắc và có sức thuyết phục. Huống gì bọn còn chút nhiệt tình nhảy ra đảm trách công việc đó chỉ là đám nịnh bợ và bất tài. Thành ra, cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”, đến nay, vẫn chỉ là một khẩu hiệu suông. Không có một nội dung cụ thể nào cả.

Điều cần chú ý là, ở Việt Nam, ngoài Hồ Chí Minh – người được thần thánh hóa, chỉ có một người duy nhất được huyền thoại hóa: Đó là Võ Nguyên Giáp.
Lê Duẩn: không có.
Trường Chinh: không có.
Phạm Văn Đồng: cũng không có.
Chỉ có một mình Võ Nguyên Giáp là có thật nhiều huyền thoại.


Thật ra, điều đó cũng dễ hiểu. Những kỳ tích của Võ Nguyên Giáp trong hai cuộc chiến 1946-54 và 1954-75 vốn được cả thế giới chú ý, rất dễ đi vào huyền thoại. Tuy nhiên, cũng nên lưu ý điều này: trước đây, những huyền thoại ấy chỉ được truyền tụng râm ran trong dư luận chứ không hề được đăng tải công khai trên báo chí. Thậm chí, có thời gian, hơn nữa, thời gian khá dài, việc nhắc đến tên Võ Nguyên Giáp cũng gây nên nhiều ái ngại. Bởi vậy, sẽ rất hợp lý nếu chúng ta đặt câu hỏi: Tại sao gần đây những câu chuyện có tính giai thoại về Võ Nguyên Giáp lại nở rộ đến vậy? Ở đâu cũng có.
Báo in: Có.
Báo mạng: Có.
Sau việc nở rộ ấy có động cơ gì không? Tôi nghĩ là có. Tuy Võ Nguyên Giáp thỉnh thoảng có những phát biểu đi ngược lại chủ trương của Bộ chính trị, nhưng, theo tôi, đảng Cộng sản vẫn cần, rất cần hình ảnh của ông, một người chiến thắng vang dội trong hai cuộc chiến tranh lớn. Để làm gì? Để gợi cho quần chúng nhớ đến truyền thống chống ngoại xâm ngày trước. Nếu không, chỉ nhìn vào hiện tại, có khi dân chúng chỉ thấy một đám hèn.


Võ Nguyên Giáp là người duy nhất ở Việt Nam hiện nay, với những huyền thoại chung quanh ông, làm một dấu nối với quá khứ hào hùng trước đây. Đó là tất cả những gì đảng Cộng sản – đang phải cúi mình trước một Trung Quốc hung hãn và bạo ngược – đang cần.

Ngày trước, đảng Cộng sản xây dựng quyền lực trên huyền thoại một thế giới đại đồng và viễn tượng một đất nước độc lập và giàu mạnh trong tương lai. Bây giờ, họ lại âm mưu củng cố quyền lực của mình trên hào quang và huyền thoại của quá khứ.

Cái hào quang và huyền thoại ấy lại được xây dựng trên một người đang nằm trong lăng và một người đã 100 tuổi!

Kể cũng mong manh lắm, phải không?

Nguồn: Nguyễn Hưng Quốc Blog


Dông Dài Chuyện… Bình Quyền


Đóng cửa phòng mạch sớm, Loan cùng với nhóm bạn thân bày trò bush walk. Cả bọn bỏ xe máy lạnh, bỏ giầy cao gót, bỏ váy bó, váy xòe; nện giầy vải, quyết đổ mồ hôi đày đọa tấm thân cho chừa bệnh thừa cân nặng mỡ. Năm vị cô nương được một trang nam tử dẫn đường len lỏi giữa kẽ đá, hoa rừng, thác ghềnh lần mò ra cửa vịnh ngắm trăng.

Tội nghiệp hết sức, một trang nam tử bị vây khốn giữa ngũ long công chúa, thế là sinh chuyện. Chuyện các đấng mày râu. Chuyện đàn bà Đông Tây kim cổ. Chuyện nam nữ bình quyền. Chuyện con cháu Eve điêu đứng mấy vạn năm để không bị các ông túm tóc đè xuống tận cùng đất đen.

Biển rì rầm, mà sóng thì cứ ào ào xô vào ghềnh đá. Cả bọn, người nằm soài trên kè đá, người ngồi nghe sóng. Nhìn trăng trải dài những luồng sáng ngời ngời trên mặt vịnh. Những nốt nhạc âm u vọng lên từ đáy cùng của biển và từ thẳm sâu trong lòng mình.

Cảnh đẹp khiến tôi sinh bệnh ngớ ngẩn, nhìn đăm đắm ra khơi xa mịt xa mù, tôi hỏi bạn:
-    Nếu tôi biến thành chim biển, bay về phía đó, suốt đêm nay cho đến tạn đêm mai, tôi sẽ hạ cánh xuống Vũng Tàu phải không?
Các bạn tôi cười xòa:
-    Làm gì có Vũng Tàu ở phía mịt mù đó. Bà bay mỏi cánh sẽ đáp xuống Nam Cực, cho mà chết cóng.
Vậy là, nếu tôi có gẫy gục cánh chim trong cõi mộng, tôi cũng chỉ thấy một Nam Cực băng buốt.

Bị quê, tôi vội chuộc lỗi kể cho bạn nghe, nhân loại có hàng triệu triệu bài thơ, bài nhạc, tranh ảnh, có hàng vạn tiểu thuyết nói đến niềm đau của người mẹ, người vợ, người tình. Nhưng chẳng ai đủ sức đếm giùm có bao nhiêu người vợ người mẹ ruột đau như bào muối lúc đưa chồng đưa con ra trận? Nước mắt của đàn bà trong các cuộc chiến từ trăm năm qua, từ ngàn năm qua có thể tạo thành đại hồng thủy dìm ngập quả đất.

Vậy mà khi quyết định đánh nhau, giết nhau, các ông chẳng bao giờ tham khảo ý kiến hay trưng cầu dân ý đàn bà bao giờ cả! Chỉ vì đàn ông, đàn bà sinh ra để liền xương nối thịt với nhau nhưng đàn ông ít khi chịu coi đàn bà là kẻ ngang hàng với mình. Cả ngàn năm qua các ông cứ vin vào kinh thánh bắt phụ nữ phải tin tưởng đàn bà chỉ là một mảnh xương sườn của đàn ông. Từ một mảnh xương sườn, đàn bà được tạo sinh để làm vui lòng đàn ông. Từ vua quan nhất phẩm triều đình cho đến hạng thứ dân, mặc sức vày vò thân xác người nữ để tìm lạc thú. Với quan niệm đàn bà là sinh vật được sinh ra để làm đàn ông vui thú dẫn đến cảnh phụ thuộc vào chồng, đoạn đường khổ nạn này coi bộ không xa xôi gì lắm.

Người Việt cũng không tránh khỏi nạn trọng nam khinh nữ, mặc dù sử chép rõ cuộc nổi dậy đầu tiên của Việt tộc vùng lên chống xâm lược phương Bắc chính là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, con gái quan lạc tướng ở huyện Mê Linh.

Năm Giáp Ngọ 34, đời vua Quang Vũ bên Tàu, hai chị em họ Trưng đã biết vùng lên tập hợp quân binh, đánh tan đạo quân của Tô Định.

Hậu Hán thư của Trung Quốc chép: Thái Thú Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp thuật trói buộc dân tình thái quá, Trưng Trắc phẫn nộ, cùng em nổi lên làm phản. Những bộ tộc người Man người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều nhất loạt hùa theo. Trưng Trắc chiếm được 65 thành, tự xưng làm vua.”.

Chưa hết, hơn hai trăm năm sau vào năm Mậu Thìn 248 ở huyện Cửu Chân, có bà Triệu Ẩu em gái thủ lãnh Triệu Quốc Đạt chiêu mộ được hơn 1000 tráng sĩ, phất cờ lệnh, tuyên bố trước ba quân: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở bể Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ cho dân chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu làm tì thiếp cho thiên hạ.”.

Lễ nghi phong kiến nặng chịch như người Nhật cũng hãnh diện khoe với đời, họ là con cháu của một đấng single mother. Single Mom đầu tiên của người Nhật chính là Thái Dương Thần Nữ. Xưa nay chữ Dương thường được dùng để chỉ mặt trời, tượng trưng cho quyền lực đàn ông. Mặt trăng dịu dàng hơn, tượng trưng cho đàn bà. Dương nam, âm nữ. Không hiểu sao người Nhật lại đảo lộn thế cờ nhất quyết gọi bà mẹ vĩ đại của họ là Nữ Thần Mặt Trời?

Câu hỏi này sau một công trình khảo cứu cẩn trọng của Viện Nghiên Cứu Whitehead, Massachusetts, các nhà sinh vật học đã xác định huyền thoại giống cái sinh giống đực là chuyện có thực. Chuyện đàn bà sinh ra đàn ông không phải là chuyện mộng mị xa vời nữa. Xin các vị đang thủ đắc địa vị ưu thắng của đàn ông trên mặt đất đừng vội hoảng hốt. Phe phụ nữ sinh ra để làm mẹ, bản năng trời cho vốn rộng lượng, chứ họ không tranh giành những mảnh danh vọng hão huyền đó.

Các nhà khoa học tuyên bố như thế này, yếu tố Nam-Nữ hoàn toàn tùy thuộc vào sự phát triển của nhiễm thể gọi là chromosome. Nói rõ hơn, nhiễm thể cội nguồn của sinh vật là X. Ích-xờ căn bản này nếu đụng vào một nhiễm thể X khác, sinh vật được hình thành trăm phần trăm sẽ thuộc về giống cái, hay con bé tí. Nếu nhiễm thể căn bản Ích-xờ này đụng nhằm nhiễm thể Y, sinh vật hình thành trăm phần trăm sẽ là giống đực. Nếu là người, tên tục của nó là thằng cu. Nhiễm thể Y rất nhỏ, chỉ bằng một phần ba nhiễm thể X. Khoa sinh vật học truy lùng nhiễm thể Y tới tận căn nguyên của nó và khám phá ra một điều khá lạ lùng… Khoảng 300 triệu năm trước, quả đất có vô vàn nhiễm thể X. Xin được thưa rõ, ba triệu năm trước quả đất thân yêu của chúng ta chỉ có toàn nhiễm thể Cái mà thôi. Một ngày lộn lạo nào đó, bất thình lình nhiễm thể X bị tách lìa ra một mảnh nhỏ. Phần nghịch tử này chuyển thái thành nhiễm thể Y.

Như vậy, về phương diện khoa học, dù tự ái có sôi lên đi nữa, các nhà khoa học cũng phải xác quyết - Từ muôn triệu năm trước, chính đàn bà đã sinh thành ra đàn ông.

Vô danh thiên địa chi thủy,
Hữu danh vạn vật chi mẫu.

Thuở u minh vũ trụ chỉ là nước. Vạn vật nên hình nhờ Mẹ uyên nguyên. Lão Tử đã nói trong Đạo Đức Kinh như vậy đó.

Vậy mà từ xa xưa, chuyện trọng nam khinh nữ ở xã hội của mấy ông Tây bà Đầm không phải chỉ bắt nguồn từ huyền thoại. Để biện minh cho chủ trương coi thường đàn bà, sách vở Tây phương có hàng trăm chuyện khởi đi từ một chủ đề - đàn bà là căn nguyên cội rễ của tội tổ tông. Khắp nơi và mọi thời, đàn ông cứ hùa nhau phạm đủ mọi giống tội, có ai hỏi tới… xoa tay đổ cho đàn bà là xong hết: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. Nhan sắc cũng bị răn đe là bẫy sập khiến đàn ông rơi vào sa đọa, vân vân và vân vân.

Ai cũng thấy rõ trong các chiến dịch truy lùng phù thủy ở Âu châu thời Trung Cổ, đàn bà bị buộc tội tà giáo nhiều gấp bội lần đàn ông. Cứ bốn phù thủy bà bị điệu lên giàn hỏa hay trấn nước mới có một phù thủy ông bị giết.

Một câu hỏi khó chịu lại đặt ra cho các ông. Đàn ông khinh đàn bà hay sợ đàn bà? Phe phụ nữ cười cợt bảo nhau, khinh hay sợ thì cũng chỉ là một chữ sợ to kềnh đấy thôi. Khinh chỉ là một biến dạng tội nghiệp của sợ. Chính Sợ Hãi là căn nguyên của mọi sai lầm trên đời này.

Từ nghìn đời, giống đực ngay trong tiềm thức vẫn sợ nguyên mẫu mẹ. Cho nên họ tìm đủ cách cấm đàn bà không được mó vào việc nước. Đi lính, bầu cử và ứng cử tuyệt đối cấm ngặt. Khoảng vài chục năm gần đây người ta mới cho phụ nữ gia nhập một vài binh chủng như quân y và ngành nữ trợ tá.

Trong xã hội Tây phương, người đầu tiên cố gắng vươn lên ngang hang với nam giới về phương diện tôn giáo, Nữ Thánh Teresa D’Avila, và về phương diện đời Nữ Thánh Jeane d’Arc. Jeane d’Arc là bà Trưng, bà Triệu của Pháp. Bà Trưng bà Triệu không cần giả trai như Hoa Mộc Lan của Trung Quốc, nhưng Jeane d’Arc thì phải ăn mặc như đàn ông để cầm quân ra trận. Nữ Thánh Teresa kết thúc đời mình trong một dòng tu kín, Nữ Thánh Jeane d’ Arc bị kết tội phù thủy chết oan trên giàn hỏa. Hai cái chết này chứng nghiệm lời cáo buộc của phụ nữ… Quyền lực cho đến bây giờ vẫn được xem là trò chơi độc quyền của đàn ông!

Kỳ thị phái tính không chỉ là một chuyện tôn giáo thôi. Đó còn là một vấn đề kinh tế xã hội nữa. Khi khoa học và nông nghiệp chưa phát triển, thiếu ăn và bệnh hoạn là những ám ảnh hàng đầu của con người. Xã hội ngày xưa man rợ hơn bây giờ. Chính quyền không có bộ nào lo cho người nghèo. Ai nghèo đói, bệnh tật, đơn côi, tự bơi lấy. Đa thê là chuyện ắt phải xảy ra. Có ruộng đất nhiều, thì lòng tham muốn, dâm vô độ cũng tăng: muốn bao nhiêu vợ cứ việc lấy.  Không có qui chế Welfare (an sinh, phúc lợi xã hội), nên vợ lớn vợ bé cào cắn nhau, vẫn ngậm cay nuốt đắng bám chặt vào chồng, bằng không ôm con bỏ đi  không lạc chợ trôi sông thì cũng lầu xanh lầu đỏ.

Tập tục bắt đàn bà mang tên họ chồng cũng là một sách lược để đàn bà hết đường cục cựa. Các mệnh phụ ngày xưa rất sợ lúc sống không được mang tên chồng. Lúc chết càng sợ không có tên chồng ghi trên bia mộ. Nỗi sợ phải chết vô danh thị, không được mang tên chồng, lù lù một nắm đất bên đường như mả Đạm Tiên là nỗi ám ảnh dày vò đàn bà từ nghìn năm về trước.

Mãi sau này nhờ các phong trào triết lý, văn học, nghệ thuật, nhất là những tiến bộ vượt bực về khoa học, quan niệm chồng chúa vợ tôi dần dần bị lùa vào bóng tối. Đàn bà mạnh dạn hơn trong việc đòi nữ quyền. Cách mạng phái tính khởi đầu trong các triều đình ở Âu Châu, từ các salon văn chương hay những hội quán văn nghệ do các công nương mệnh phụ lập ra. Đàn bà đã biết dùng sắc đẹp, sự khôn ngoan, và tiền bạc để tạo thế đứng dưới ánh sáng chói lòa của văn minh nhân loại.

Cách mạng Pháp 1789 là thành tựu đầu tiên của phụ nữ, khi cuộc cách mạng này thừa nhận đàn ông và đàn bà bình đẳng trước luật pháp về những quyền công dân căn bản. Thật ra sự bình đẳng này chỉ mới đạt được trên lý thuyết. Bằng chứng là hơn một thế kỷ sau, mãi đến năm 1902 phụ nữ Úc mới được quyền đi bầu, trước đó a-lê ở nhà quạt lò nấu ăn. Ở Mỹ mãi đến năm 1920 phụ nữ Hiệp Chủng Quốc mới túm váy lên, lò dò đi vào phòng bầu phiếu. Ở Anh tới tận năm 1928 phụ nữ Anh mới phe phẩy đi bầu viện dưới. Thụy Sĩ cổ hủ chậm như rùa bò, lệt bệt tới năm 1972 nước này mới cho nữ cử tri sờ đến lá phiếu của đàn ông.

Trong thập niên 90, ở Mỹ nữ sinh viên chiếm 60 phần trăm tổng số sinh viên tốt nghiệp. Ở Úc nữ sinh viên ra trường chiếm 50 phần trăm. Nhưng 90 phần trăm những việc làm béo bở kiểu Tổng Thống, Thủ Tướng, Thủ Hiến, tổng giám đốc các công ty, đàn ông vẫn hiên ngang chiếm gần hết, không cho phụ nữ chen vào. Tại sao kỳ cục vậy? Vì chê đàn bà dốt hay vì sợ đàn bà giỏi hơn mình?

Hiến pháp nước nào – trên giấy tờ - cũng ghi rõ - luật pháp bảo vệ quyền bình đẳng nam nữ, nhưng phụ nữ vẫn gọi hiện tượng bất bình đẳng này là – the glass ceiling, chính phủ có in ấn hằng trăm bộ luật dầy cộm cũng vậy thôi.

Phát minh thần kỳ nhất của y khoa giúp cho phụ nữ cởi bớt xiềng xích, chính là thuốc ngừa thai. Ai cũng biết mang nặng đẻ đau là cái cùm oan nghiệt cột cẳng phụ nữ vào giường đẻ hết đời này sang đời khác. Các bà cố, bà nội ngày xưa nhiều cụ năm nào cũng ì ạch vác bầu làm sao học hành để tiến bộ được.

Người Trung Hoa nổi tiếng lễ giáo và nghiêm đường. Tiết lễ thực sự bày ra chỉ để răn đe giai cấp quan lại trung gian, quan trên ép xuống dân đen trông vào mà thôi. Cung đình vua chúa loạn dâm, cướp vợ chia chồng bầy hầy từ ngai vàng xuống.

Trong văn chương Trung Hoa đã sản sinh ra một hiện tượng nam nữ bình quyền với Hoàng Dung, Tiểu Long Nữ, Triệu Minh của Kim Dung là những nhân vật bất tử trong tâm tưởng người đọc. Mỹ chỉ mới có Wonder Woman, Tân Tây Lan và Úc sau này có Xena.

Xena có trở thành một biểu tượng nữ quyền của xã hội Tây phương trong thế kỷ tới không, chưa ai dám cả quyết. Chỉ biết Thế Kỷ 20 và đệ nhị thiên niên kỷ đã cuốn gói ra đi với hình ảnh của một vài người đàn bà nổi tiếng can đảm như Madonna, Diana, Spice Girls, Pamela Anderson. Diana và Madonna là người của thế hệ cũ, Diana đã chết, Madonna đang chìm dần vào bóng tối. Spice Girls nổi lên nhờ có tài quậy nhưng bạo phát bạo tàn. Pamela Anderson gây sóng gió nhờ có nhân dáng hao hao giống Brigitte Bardot ngày trước. Một thời Hillary Clinton cũng được chiêm ngưỡng như một người đàn bà biết làm chủ đời mình. Cũng có người vặn hỏi Hillary nổi tiếng vì tự chủ hay nổi tiếng lây nhờ thói trăng hoa quá cỡ của ông chồng?

Dù sao, sau cả trăm năm lận đận. Đàn bà một số quốc gia Tây phương đã đòi được quyền bỏ phiếu. Quyền chơi thể thao. Quyền đánh giặc. Quyền thừa kế. Đàn ông sao đàn bà vậy.

Con đường nam nữ bình quyền còn gập ghềnh hơn trong các nước kém mở mang, nghèo khó. Việt Nam với miếng bánh vẽ dân chủ ăn hoài không hết, còn cái bánh vẽ nam nữ bình quyền nữa, ăn bao giờ mới xong?

Lệ Hằng Đường Lối Chinh Phục
của Trung Quốc Với Kẻ Thống Trị


Trung Quốc thích bị xâm lăng và thích được chinh phục. Đúng thế!
Trung Quốc chinh phục kẻ thống trị một cách hòa bình và tế nhị.

Giai đoạn 1:   Đẩy kẻ thống trị đến một nơi ở lý tưởng - cảnh an nhàn để hưởng lạc -  bằng cách thuyết phục kẻ chiến thắng chịu rút lui vào những lâu đài và hưởng lạc trong đó.  Người Tầu sẽ viện lẽ kẻ chiến thắng thì cần phải có nhiều tiện nghi, và họ để kẻ chiến thắng sống một nơi khu vực đặc biệt khoái ý, bất cứ ở thành phố nào.  Khu vực đó sẽ được đoàn binh sĩ đặc biệt bảo vệ chống lại những người dân phản loạn.  Bọn chiến thắng này sống tách riêng ra một nơi trong cảnh an nhàn, những công việc thường ngày tẻ ngắt sẽ do người Tầu đảm nhận – như thể họ làm tớ cho bọn thống trị.  Đây là cách giam lỏng và tập thói biếng nhác cho kẻ thống trị.

Giai đoạn 2:  bày cảnh trụy lạc, tiệc tùng, cờ bạc, hút sách, trai gái - kẻ chiến thắng càng ăn uống tiệc tùng nhiều bao nhiêu thì người Tầu lại càng hoan hỉ bấy nhiêu và nếu bọn chiến thắng này quen thói đỏ đen, năm thê bảy thiếp lại càng hay, cốt làm cho ý chí bạc nhược, tiêu trầm nghị lực,  cho đến khi bọn này trụy lạc tột bực thì bị người Tầu lật đổ ngay.

Giai đoạn 3:  Khi bọn thống trị bạc nhược, không còn thiết tới gì bổn phận và quyền hành, thì người Tầu dần dần nắm lấy quyền điều khiển, vì họ biết rằng những con mèo quý một khi  đã bị trụy lạc đến tột bực thì một cuộc nổi dậy của người Tầu sẽ lật đổ cái cơ cấu thối nát đó dễ như trở bàn tay.  

Pearl Buck

My Several Worlds
Lê Bá Kông dịch



No comments:

Post a Comment

Followers

Blog Archive