Sunday, October 21, 2012

Bài viết của Lm Stephano Huỳnh Trụ đăng trên Bài Giảng Chúa Nhật, về các từ Mông Triệu và Phụng Triệu.  
Bất động sản ì ạch nên nhiều công ty dùng chính nhà chung cư của mình làm quà biếu sếp nhân dịp Tết (ảnh minh họa)Mong Trieu 1

Mong Trieu 2

Mong Trieu 3

Mong Trieu 4


Mong Trieu 5

Mong Trieu 6


Mong Trieu 7

Mong Trieu 8

Aug 29, '09 3:13 PM
for everyone

Bài viết của nhạc sĩ Phanxicô(Nguyễn Đình Diễn) gửi Ban Thánh Nhạc
TaoVat-Phanxico_Page_1

TaoVat-Phanxico_Page_2


TaoVat-Phanxico_Page_3

TaoVat-Phanxico_Page_4


TaoVat-Phanxico_Page_5


TaoVat-Phanxico_Page_6

TaoVat-Phanxico_Page_7


TaoVat-Phanxico_Page_8

TaoVat-Phanxico_Page_9
 

Bài viết của Linh Mục Stephanô Huỳnh Trụ đăng trên Thánh Nhạc Ngày Nay


TaoVat_LM_HuynhTru_s_Page_1

TaoVat_LM_HuynhTru_s_Page_2


Chữ "tạo vật" trong tiếng Việt

Một đổi mới của “tạo vật”
Hay cũng chỉ là cách dụng ngữ như "thụ tạo" ?

Trần Trùng Trục

Có một bài Thánh Ca lời lẽ rất đơn sơ và cảm động của nhạc sĩ Phanxicô mà không ít người Công Giáo Việt Nam nào mà không biết. Đó là bài “Con chỉ là tạo vật” (CCLTV) có lời hát thật đơn sơ rằng:

"Lạy Chúa con chỉ là tạo vật, Chúa thật í a sang giàu. Có gì mà dâng Chúa đâu, có gì mà dâng Chúa đâu. Vì trước mặt Chúa Thái Sơn cũng mọn hèn, dòng sông cả mấy sâu có là mấy đâu. Giữa đời con đây nhỏ bé, biết tìm chi dâng tiến Ngài."

(Nhạc Sĩ Phanxicô - Con chỉ là tạo vật) (1)

Nhưng mới đây khi đọc bài viết của Lm Stephanô Huỳnh Trụ tựa đề “Tạo Vật: "Tạo Hoá" hay "vật thụ tạo" ?” đăng trên báo Thánh Nhạc Ngày Nay , số 29 tháng 1 năm 2008, thì tôi cũng đâm hoảng. Bài báo đã phê bình việc dùng chữ "tạo vật" trong bài hát CCLTV của nhạc sĩ Phanxicô là không đúng. Vì ngài đã xác định và phán quyết rằng "rõ ràng Tạo Vật chỉ có nghĩa là Đấng Tạo Hoá, tức là Thiên Chúa, hoàn toàn không có nghĩa là vạn vật." (2)

Thưa các bạn, tôi đã lo sợ thật ! Và tôi đã không tin có chuyện đó ! Chả lẽ mấy chục năm nay, chúng ta đã "ngạo mạn" dùng chữ “tạo vật” chỉ có nghĩa là Thiên Chúa mà đem chỉ con người và các vật được Ngài dựng nên hay sao ? Phải chăng sự khám phá và xác quyết của linh mục Stephanô Huỳnh Trụ đã có thể thay đổi hoàn toàn ‎ý nghĩa của chữ “tạo vật” mà người Công Giáo Việt Nam chúng ta vẫn đang dùng ngày nay hay sao ? Nếu đúng như ngài nói, thì tại sao mấy chục năm nay không thấy có một tiếng nói hay văn kiện chính thức nào của Giáo Hội Việt Nam lên tiếng để sửa đổi hai chữ đó cho đúng với ‎ý nghĩa của Thánh Kinh, Tín L‎ý, Thần Học và Giáo Huấn của Giáo Hội ?

Và vì không hiểu rõ nguồn ngạnh của vấn đề, nên tôi đã cố dành ít thời giờ rảnh rỗi, sau khi đọc được bài viết của ngài, để tìm tòi nghiên cứu cho ra lẽ. Nhất là khi ngài bảo tôi phải bỏ chữ “tạo vật” trong bài hát gói trọn tâm tình mỗi lần hát dâng lời nguyện cầu, thì tôi thấy "thật ái ngại và tiếc lắm !"

Chúng ta hãy cùng tìm hiểu bài viết của Lm Stêphanô Huỳnh Trụ, đồng thời nghiên cứu những cách dùng chữ “tạo vật” trong ngôn ngữ của đạo Công Giáo Việt Nam, nhất là sau Công Đồng Vatican II.

Xin được chia bài viết nhỏ này làm ba phần :

Phần I) Trình bày bài viết “Tạo Vật: "Tạo Hoá" hay "vật thụ tạo" ?” của Lm Stephanô Huỳnh Trụ, đăng trên báo Thánh Nhạc Ngày Nay , số 29 tháng 1 năm 2008.

Phần II) Tìm hiểu hai chữ “tạo vật “ vẫn được dùng trong đạo Công Giáo Việt Nam.

Phần III) Nhận định và kết luận.

Phần I: Trình bày bài viết của Lm Stephanô Huỳnh Trụ

“Tạo Vật: "Tạo Hóa" hay "vật thụ tạo" ?”

Tóm tắt bài viết:

Bài báo của Lm Stephanô Huỳnh Trụ tựa đề “Tạo Vật: “Tạo Hoá” hay “vật thụ tạo”?” đăng trên nguyệt san Thánh Nhạc Ngày Nay của nhạc sĩ Ngọc Kôn, số 29, năm thứ 3, tháng 1 năm 2008. Bài viết chỉ có 2 trang, đăng trong phần “Vốn Từ Cần Biết” trang 40-41. Tác giả đã chia bài ra làm bốn tiểu đoạn :

1.1 Đoạn 1) Xác định chữ "tạo vật" trong bài hát CCLTV là sai vì theo sự hiểu biết của tác giả từ trước đến giờ, là "Tạo Vật" chỉ dùng để chỉ Thiên Chúa.

1.2 Đoạn 2) Định nghĩa chữ "Tạo Vật" bằng cách chiết tự chữ "Tạo" có tất cả 26 nghĩa từ chữ Hán và chữ "Vật" có khoảng 7 nghĩa, theo tự điển Hán Văn và rất nhiều tự điển Trung Hoa khác. Tác giả cũng trích dẫn từ điển tiếng Việt và Hán Việt "tất cả đều giải nghĩa chữ Tạo Vật là Tạo Hóa, Trời ." Chỉ có cuốn “Từ ĐIỂN TIẾNG VIỆT (của Viện Ngôn Ngữ Học, nxb Đà Nẵng, 2004) ghi là:

tạo vật : danh "1.(cũ)như "Tạo Hóa". 2. những vật tồn tại trong thiên nhiên nói chung, coi là do Tạo Hóa tạo ra.”
(3)

Các từ điển của Công Giáo, về triết học và thần học thì ngài nói là "thường dịch" như sau:

-Création (P), creation (A): Sáng tạo, tạo thành
-Créateur(P),Creator(A): Tạo Hóa, Hóa Công
-Créature(P), creature(A): Thụ tạo

Tiếp theo, Lm Huỳnh Trụ đã đưa ra hai ví dụ. Tôi xin phép kể lại theo thứ tự thời gian của sách đã in ra:

a) Năm 1966: cuốn TỰ ĐIỂN VÀ DANH TỪ TRIẾT HỌC của Đức Ông Trần Văn Hiến Minh, Tủ sách Ra Khơi, tại Sài gòn xuất bản. Trong đó cha Trần Văn Hiến Minh đã nói như sau về chữ “tạo vật” :

"tạo vật (créature) Danh từ này có người dùng để chỉ vật được Thượng Đế sáng tạo. Nhưng để rõ hơn, người ta dùng chữ thụ tạo. Có người lại hiểu là tạo nên vật, tức Đấng Tạo Hoá. Thiết nghĩ chỉ nên dùng hai chữ Tạo Hoá (Créateur) và thụ tạo (créature)."

b) Năm 1995 cuốn TỰ ĐIỂN THẦN HỌC TÍN LÝ ANH VIỆT của Lm Vũ Kim Chính, SJ dòng tên, đã được xuất bản tại Đài Loan. Trong đó ngài đã dịch:

Creator : Chúa Tạo Vật, Đấng Tạo Hoá, Đấng sáng tạo.
Creature: Thụ tạo vật, vật được tạo dựng, tạo vật, kẻ được tạo dựng.

1.3 Đoạn 3) Tác giả xác nhận là: " Ngày nay có rất nhiều người (không chỉ riêng trong giới Công Giáo, mà còn trong các tôn giáo khác, và cả ngoài xã hội nữa) sử dụng từ Tạo Vật theo nghĩa là thụ tạo (creature), tức là vật được tạo ra ." Ngài nói đó là "sai lầm cách phổ biến". Và tác giả đã cắt nghĩa "sự sai lầm" đó bằng cách trưng ra rất nhiều ví dụ đang dùng, rất thông thường trong tiếng Việt Nam:

"Trong cấu trúc từ ghép Hán Việt, thông thường thành tố chính đứng sau thành tố phụ, ví dụ như: ẩn số (số được giấu kín), di sản (tài sản được người chết để lại), hồng y (y phục mầu hồng) ... Cứ theo quy luật tạo từ này, ta có các từ mang thành tố "vật" : cống vật (vật được đem đi dâng biếu), di vật (vật được để lại .... và ... tạo vật (vật được tạo ra) . Như vậy, "tạo vật" là từ ghép bất đẳng lập, gồm có "vật" là thành tố chính và "tạo" là thành tố phụ." (4)

Lm Huỳnh Trụ cũng trích dẫn một đoạn dài của ông Nguyễn Trường Tộ, trong đó đã có dùng 15 lần chữ Tạo Vật để chỉ Đấng Tạo Hóa trong Di thảo số 5.

Tiếp theo tác giả đã cắt nghĩa sở dĩ Tạo Vật có nghĩa là Tạo Hóa vì chữ Tạo là Hán ngữ cổ đại đơn âm, chuyển sang Hán ngữ hiện đại vẫn giữ ý nghĩa của chữ chính mà không thay đổi.

Và dựa theo giả thuyết đó, tác giả đã khai triển thêm:

"Vì vậy, theo chúng tôi:" Tạo" là từ Hán Ngữ cổ đại đơn âm tiết, tự nó có nghĩa là "Tạo Hoá" ( danh từ) rồi . Sau người ta mới ghép thành những từ như: ( Đấng) Sáng Tạo, Tác Tạo, Tạo Hoá, Tạo Thành, Tạo Vật ... tất cả đều có chung nghĩa là Trời vậy, vì" Người xưa cho rằng vạn vật là do Trời dựng nên, nên gọi Trời là Tạo Vật", cũng vậy, trong tiếng Việt người ta ghép thành những từ như: con tạo, ông tạo, thợ tạo ..."

1.4 Phần Kết luận

Sau khi dựa vào dẫn chứng và giả thuyết trên, Lm Stêphanô Huỳnh Trụ đã đưa ra một quả quyết :

"Rõ ràng Tạo Vật chỉ có nghĩa là Đấng Tạo Hoá, tức là Thiên Chúa, hoàn toàn không có nghĩa là vạn vật . Để nói về vạn vật được tạo thành (creature) chúng ta nên dùng chữ "thụ tạo" hoặc " vật thụ tạo" mà thôi."

Cuối cùng, vì muốn anh Phanxicô phải thay đổi chữ "tạo vật" trong bài hát CCLTV, Lm Stephanô Huỳnh Trụ đã dùng mấy lời tâm sự của chính anh đăng trong trang diễn đàn “Tâm Tư Sao Biển”, mà người post là anh Nguyễn Khang ở Houston Hoa Kỳ, (5) để có ý nói là anh sáng tác bài đó không có căn bản nhạc lý, không có nền tảng tín lý cũng như thần học. Và vì anh đã phổ biến không có kiểm duyệt nên đáng nhẽ khi nhận ra điểm sai lầm hoặc thiếu sót trong tác phẩm của mình, sau này trong lần tái bản thành sách, anh đã có thể sửa lại mà không chịu sửa. Các bạn có thể vào tìm hiểu ngay tại đây:


Phần II: Về việc dùng chữ “tạo vật” trong đạo Công Giáo Việt Nam

Mục đích của bài viết:  

Vì bài viết của Lm Stêphanô Huỳnh Trụ đã đưa ra một phán quyết rất quan trọng, đã làm cho nhiều người trong chúng ta thắc mắc, tự hỏi và đặt thành vấn đề, nên tôi cũng xin mạn phép trình bày một vài dữ kiện đã nghiên cứu và thu thập được, để minh chứng và muốn nói lên một cái nhìn khác.

Trong tinh thần tìm hiểu và đóng góp cho chương trình "làm phong phú" tiếng Việt như lời kêu gọi của Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục giáo phận thành phố Sài Gòn, và chương trình Thuật Ngữ Tiếng Việt của Việt Catholic Network, bài viết này hoàn toàn dựa trên những dẫn chứng thống kê và các dữ kiện thực tế. Chúng tôi, vì là thế hệ trẻ, cũng rất mong muốn được sự chỉ dạy và hướng dẫn của mọi ‎‎ý kiến và đóng góp trong tinh thần tìm hiểu và bàn thảo. Xác định như thế thì chúng ta mới có thể cùng nhau tìm hiểu và học hỏi để được thêm lòng yêu mến Chúa và trung thành với Giáo Hội một ngày một hơn.

Sau đây, để hiểu rõ thêm về việc dùng chữ “tạo vật” trong đạo Công Giáo Việt Nam, chúng ta sẽ tìm những ví dụ dùng chữ "tạo vật" trong tiếng Việt Nam từ trước đến giờ, qua những dẫn chứng ở các lãnh vực sau đây :

1) Dựa vào các văn kiện nói về Truyền thống Kitô giáo (Christian Tradition) chẳng hạn như các bản dịch Thánh Kinh, bản dịch các Văn Kiện của Giáo Hội.

2) Dựa vào những kinh nghiệm cá nhân (personal experience) bao gồm những suy tư, những chia sẻ của các nhà thần học và học giả đã có sử dụng danh từ đó để nói về những vấn đề của đạo và Giáo Hội hay không.

3) Dựa vào những tài liệu văn hóa ( cultural resources), những áp dụng thực tế tại giáo hội địa phương, hoặc nền văn hóa và xã hội địa phương. (6)

A. Sơ lược về sự hình thành của chữ viết Tiếng Việt

1) Từ những thế kỷ đầu đến trước Công Đồng Vatican II

Khi đi học những năm đầu của trung học Việt Nam, chúng ta đã được học biết về sự hình thành của chữ viết tiếng Việt.

Ngay từ những thế kỷ đầu, nước ta đã dùng chữ Hán là phương tiện ghi chép và truyền thông của người Việt. Đến thế kỷ thứ VIII thì chữ Hán trở thành chữ viết rất phổ thông trong mọi lãnh vực từ kinh tế thương mại đến văn chương tôn giáo. Các kinh sách Phật Giáo đều viết bằng chữ Hán.

Trong suốt thời gian bị đô hộ bởi người Tàu, người Việt Nam ta luôn phấn đấu muốn độc lập, không những về phương diện chính trị mà còn về văn chương ngôn ngữ nữa. Các nhà trí thức và anh hùng từ thế kỷ thứ VI đã tìm ra được một cách viết chữ Việt mà không cho người Trung Hoa hiểu. Đó là chữ Nôm. Giai đoạn sơ khởi gọi là đồng hoá chữ Hán tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ ngữ rất bình dân và phổ thông như tên người, tên vật, tên gọi các xúc vật và đồ đạc, ... (thế kỷ thứ VI).

Giai đoạn tiếp theo là dùng chữ Hán để viết phiên âm theo cách đọc tiếng Việt, giống như kiểu học tiếng Anh có phần phát âm ngay bên cạnh.(7) Kiểu viết này đã làm điên đầu các nhà trí thức trọng chữ Hán và những quan lại người Tàu vì họ đọc mà không hiểu. Bởi thế mới có sự khinh thường chữ Nôm, và cho chữ quốc âm là chữ của người bình dân, không học và dĩ nhiên là không đúng với từ điển ... Trung Quốc. Nôm na cha mách qué là vậy.(8)

Nhưng đến thế kỷ thứ XVIII và XIX thì chữ Nôm đã trở nên thịnh hành trong giới trí thức khoa bảng Việt Nam, lấn át cả những giới trí thức kẻ sĩ và quan lại đã từ lâu vẫn dùng chữ Hán là cách duy nhất và cho là đúng nhất để viết tiếng ... Tàu cho người Việt đọc.(9) Có những tác phẩm văn chương bằng chữ Nôm trong giai đoạn này rất nổi tiếng như truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn Thị Điểm, hoặc Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều. Điều đó nói lên là người Việt Nam mình đã có thể dùng một kiểu viết chữ riêng, để diễn tả cho người Việt những vấn đề trừu tượng, tâm l‎ý, triết l‎‎ý và xã hội rất phức tạp bằng hình thức văn chương, thi phú, mà khi đọc lên, cũng chính là âm thanh của tiếng mẹ đẻ mình. "Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi" là vậy.(10)

Khi các nhà truyền giáo sang Việt Nam từ ngả Trung Hoa và Nhật Bản thì các ngài có mang theo mấy sách viết bằng chữ Hán để hy vọng rằng có thể giao tiếp ngay với người địa phương. Nhưng khi gặp các văn tự chữ Nôm thì các ngài chịu thua. Vì thực sự, mặt chữ viết như chữ Hán, đọc gần như chữ Hán mà phải hiểu đó là tiếng nói và sự suy nghĩ của người Việt, vì đó là một kiểu viết xuống những tư tưởng và cách truyền thông của người Việt. Nhưng trên thực tế, kiểu viết chữ Nôm đó, một phần lại quá lệ thuộc vào chữ Hán, vì dùng chữ Hán để viết, một phần lại quá phiền phức và khó học hơn chữ Hán. Và khi nghe nói chữ Nôm có chừng 80 ngàn chữ để học thì các ngài đâm hoảng thật, và chịu thua hoàn toàn vì tính ra đến ... 10 năm cũng chưa học được hết ... mặt chữ cái. (11) Giáo sư Trần văn Toàn khi nghiên cứu về cuốn từ điển của Đức Giám Mục Jean-Louis Taberd, một người nói tiếng Pháp soạn tự-vị Việt-La-tinh, thì GS cũng thấy ngài cũng than ... khó như vậy. Đây là lời nhận xét của giáo sư:

" Đã thế, khi dùng chữ Hán, có lúc lấy đúng nghĩa chữ, có lúc chỉ lấy cách đọc nhưng lại hiểu theo nghĩa khác, có lúc lại đọc trại ra làm dăm ba kiểu và hiểu ra dăm ba nghĩa. Giám-mục Taberd trong phần chỉ-dẫn cũng xác-nhận sự-kiện ấy, và có đưa ra ví-dụ chữ "lận" nghĩa là sẻn-so, mà ta có thể tùy câu văn mà đọc thêm ra nữa là lần, lấn, lẩn, lẫn ! Cho nên người ta có đọc ‘’lẫn’’ chữ nôm, thì cũng không có gì là khó hiểu." (12)

Thế là các giáo sĩ truyền giáo bèn nghĩ ra cách viết lại chữ Việt theo kiểu đọc của các ngài là người Âu Châu, tức là lấy mẫu tự La Tinh ABC để viết xuống cho dễ nhớ hầu có thể nói chuyện được với người Việt. Một trong những người có sáng kiến đầu tiên này là cha Đắc Lộc mà tất cả mọi người Việt Nam chúng ta ngày nay phải mang ơn mãi mãi. Kiểu viết này rất dễ học và dễ viết, vì chỉ có 24 chữ cái, nên đã được các trí thức ảnh hưởng Tây Phương đón nhận và học hỏi rất nhanh chóng.(13)

Các nhà nghiên cứu lịch sử văn chương Công Giáo như Lm Thanh Lãng đã cho cuốn "Phép Giảng Tám Ngày" của cha Đắc Lộ phát hành năm 1651 là "tác phẩm văn chương Công Giáo" đầu tiên bằng chữ quốc ngữ. (14) Ngày nay có nhiều nỗ lực từ những người ngoài Công Giáo đang tìm cách chối bỏ công lao này của cha Đắc Lộ.(15) Trong cuốn “Biểu nhất lãm văn học cận đại” in tại Sài Gòn năm 1958, người đọc không thấy Lm Thanh Lãng nói đến tác phẩm Công Giáo nào khác viết bằng chữ Hán. Phải chăng điều đó cũng có thể là chữ Hán đã không có ảnh hưởng nhiều trong các văn tự , bản viết, kinh kệ của người Công Giáo ngay từ thời đó ?(16) Cũng trong thập niên này, GS Hoàng Xuân Hãn đã khám phá ra trong thư viện quốc gia ở Paris một số sách chữ Nôm do giáo sĩ Girolamô Majorica (1591-1656) viết. Theo ông, cha đã soạn nhiều sách tôn giáo bằng chữ Nôm, trong đó có nhiều tích truyện các thánh, sách giáo l‎ý và tiểu sử thánh Phanxicô Xaviê.(17) Hy vọng một ngày nào đó chúng ta sẽ tìm được trong những tác phẩm này có những bằng chứng cụ thể về sự ảnh hưởng của đạo Công giáo qua những tác phẩm văn chương xa xưa đó. Đây vẫn còn là một câu hỏi rất lớn, cần nhiều thời gian và tài liệu lịch sử mới hy vọng có thể tìm ra những câu trả lời thỏa đáng.

2) Sau Công Đồng Vatican II

Đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, thì có thể nói thời điểm sau Công Đồng Vatican II là một giai đoạn có những thay đổi rất quan trọng của Giáo Hội, để cải tiến, không những các quan niệm và ngôn ngữ Việt Nam để diễn tả những ý nghĩa trong Thánh Kinh, Tín L‎ý, Thần Học và những hình thức của các Lễ Nghi Phụng Vụ, mà còn cả về những đường hướng Mục Vụ trong đời sống đạo của các linh mục tu sĩ giáo dân nữa. Công Đồng cũng nhấn mạnh đến vai trò hội nhập, truyền giáo và tương quan của người tín hữu Công Giáo với những tôn giáo bạn. Bởi thế, ngay sau khi Công Đồng Vatican II vừa chấm dứt, những nỗ lực từ mọi nơi, từ các Học Viện, chủng viện, dòng tu và từ các nhóm dưới sự lãnh đạo của các Đức Giám Mục, linh mục và tu sĩ đã được du học từ các nước Âu Châu về, đã nhanh chóng họp lại chuyển dịch những văn kiện và tài liệu của Giáo Hội để mọi người Công Giáo Việt Nam có thể kịp thời học hỏi và bắt đầu sống đời sống mới theo Tinh Thần của Công Đồng Vatican II. Có thể nói đây là giai đoạn phát triển mạnh nhất của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam về mọi phương điện, đúng theo tinh thần của Công Đồng Vatican II kêu gọi là mọi phần tử trong Giáo Hội Công Giáo trên toàn thế giới phải biến đổi trở thành một "tạo vật mới" (Gal 6:15)‎. Nhấn mạnh như thế để chúng ta có thể hiểu tầm quan trọng và những công lao cố gắng phi thường của mọi người. Nhờ Ơn Chúa và qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, chúng ta đã có thể dùng ngôn ngữ : chữ viết và tiếng nói Việt Nam để truyền đạt và diễn tả những vấn đề trừu tượng, linh thiêng của Truyền Thống và Giáo Huấn Kitô Giáo của Giáo Hội cho mọi người Công Giáo Việt Nam thông hiểu.

Nhìn lại quá trình gần 50 năm, thời gian tuy quá ngắn so với lịch sử của Giáo Hội, nhưng cũng đủ dài để đánh dấu một sự trưởng thành vượt bực của Giáo Hội Việt Nam về mọi phương diện, nhất là chúng ta đã có được những văn bản Thánh Kinh, Văn Kiện Giáo Hội, Qui Chế Thánh Lễ Rôma, Thánh Ca, Giáo L‎ý, Giáo Luật, các nghi thức Phụng Vụ, ... bằng tiếng đia phương Việt Nam, đúng với tinh thần và qui luật mà Giáo Hội sau Công Đồng Vatican II cho phép.

B. Những bằng chứng dùng chữ “tạo vật” trong văn chương và ngôn ngữ của đạo Công Giáo tại Việt Nam

Theo tài liệu lịch sử, rất tiếc là chúng ta không tìm được những tác phẩm viết bằng chữ Hán dùng trong đạo Công Giáo tại Việt Nam để có thể nói là những danh từ và ngôn ngữ chúng ta dùng trong đạo là được phát xuất từ chữ Hán. Linh mục Thanh Lãng trong bài viết " Về sách báo của các tác giả Công giáo [thế kỷ XVII-XIX], đã cho biết "Chỉ nguyên những sách vở chữ Nôm cộng đồng Thiên Chúa giáo ở Việt Nam biên soạn vào thế kỷ XVII mà tác giả còn cất giữ được, có số trang lên tới 42.000 trang" Điều đó chứng tỏ cần thêm nhiều thời gian và nghiên cứu thì chúng ta mới có thể khẳng định được sự ảnh hưởng này.

Nhưng một điều ngày nay chúng ta có thể quả quyết, là ảnh hưởng nhiều nhất cho đạo Công Giáo tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 tới nay, phải nói là từ Tây Phương, đặc biệt là sau Công Đồng Vatican II, vì hầu hết các vị lãnh đạo của chúng ta đã được đi du học từ Rôma và các nước Âu Châu về. Có thể đó là l‎‎ý do chúng ta tìm thấy những bằng chứng điển hình là chữ “tạo vật” trong tiếng Việt Nam đã được dùng rất phổ biến và đã được hiểu theo một nghĩa hoàn toàn khác hẳn với nguyên ngữ từ chữ Hán.

Phải chăng chữ "tạo vật" bây giờ là chữ Việt Nam thuần túy, được hình thành bằng cách mượn chữ "tạo" trong chữ Nôm để dịch thẳng nghĩa cho chữ La Tinh, chứ không phải là từ chữ Hán như giả thuyết của Lm Huỳnh Trụ đưa ra ? Chữ "tạo" đó, tuy nguyên thủy là từ chữ Hán, nhưng đã được dùng trong chữ Nôm và bây giờ trong chữ Quốc Ngữ để dịch thẳng chữ "creat" trong tiếng La Tinh, có nghĩa là "tạo dựng nên từ hư vô" sang tiếng Việt. Và rồi tiếng Việt Nam chúng ta ngày nay cũng có những cặp từ để đi song song như trong các tiếng Tây Phương :

Tạo Hóa - tạo vật (Việt Nam)
Creator - creatura (La-tinh)
Creatore - creatura (Ý)
Créateur - créature (Pháp)
Creator - creature (Anh)
Creador - criatura (Tây Ban Nha)
Criador- criatura (Bồ Đào Nha)

Và dựa theo giả thuyết đó, chúng ta đã có thể tìm được những bằng chứng rất cụ thể sau đây, khi các tác giả chuyển dịch các bản văn từ ngoại ngữ. Chữ "tạo vật" đã được dùng đồng nghĩa với những chữ thụ tạo, tạo thành, thọ sinh và thụ sinh.

1. Bằng chứng trong các bản dịch sách vở Truyền thống Kitô giáo (Christian Tradition)
1.1  Thánh Kinh

Tại Việt Nam, đã có nhiều bản dịch Thánh Kinh của các tác giả nổi tiếng. Vì sự giới hạn của phương tiện nghiên cứu tại Hoa Kỳ, chúng tôi chỉ có thể tham khảo bản dịch của nhóm Phụng Vụ Các Giờ Kinh (PVCGK), bản dịch của Lm Nguyễn Thế Thuấn Dòng Chúa Cứu Thế (NTT), và bản dịch những câu Thánh Kinh của Giáo Hoàng Học Viện (GHHV) trích dẫn trong các Văn kiện của bản dịch Thánh Công Đồng Vatican II.

1.1.1       Bằng chứng trong Cựu Ước

Sách Giuditha 9:12

PVCGK : "Vâng, vâng, lạy Thiên Chúa của cha con, Thiên Chúa của dân Ít-ra-en, Chúa Tể trời đất, Đấng sáng tạo sông ngòi biển khơi, Vua muôn loài thụ tạo, xin lắng nghe lời con khẩn cầu."
NTT: "Vâng, vâng, lạy Thiên Chúa của cha tôi, Thiên Chúa trên cơ nghiệp của Israel, Chúa tể trời đất, Đấng tạo thành ra nước, Vua trên tất cả tạo thành của Người, xin chính người nhậm lời tôi nguyện. "
GHHV: (không có)

Khôn ngoan 5:17

PVCGK : "Người lấy ghen tuông làm binh giáp, dùng thụ tạo làm vũ khí đánh đuổi quân thù."
NTT: "Người sẽ lấy nhiệt tâm của Người làm giáp binh, Người sẽ võ trang cả tạo thành để công phạt địch thù."
GHHV: (không có)

Khôn ngoan 14:11

PVCGK : "Bởi thế, Thiên Chúa sẽ trừng trị hết mọi tượng thần của chư dân, vì giữa muôn loài thụ tạo của Thiên Chúa tượng thần đã nên đồ ghê tởm, nên cớ vấp ngã cho con người, nên cạm bẫy cho kẻ ngu dốt trượt chân. Nguồn gốc việc tôn thờ ngẫu tượng. "
NTT: "Vì thế sẽ có viếng thăm (hỏi tội) các thần tượng chư quốc, vì giữa tạo thành của Thiên Chúa, chúng đã nên đồ ghê tởm, cớ vấp phạm cho hồn nhân loại, bẫy gài chân phường ngu dại."
GHHV: (không có)

Huấn ca 31:13

PVCGK : "Hãy nhớ rằng: mắt hau háu là điều chẳng hay. Có thụ tạo nào tệ hơn con mắt ? Gặp chi nó cũng phát khóc (vì thèm)."
NTT: "Nghĩ xem thật đáng ghét con mắt tà vạy - trong mọi vật Thiên Chúa đã dựng không gì xấu hơn con mắt - ấy vì thế mà trước sự gì nó cũng khóc."
GHHV: (không có)

1.1.2 Bằng chứng trong Tân Ước

- Marcô 16:15

PVCGK: "loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo."
NTT: "rao giảng tin mừng cho mọi loài thụ tạo."
GHHV: "rao truyền Phúc Âm cho mọi tạo vật."

- Roma 1:25

PVCGK: " họ đã tôn thờ những loài thụ tạo, thay vì chính Đấng Tạo Hoá."
NTT: "đã khâm sùng kính bái tạo vật thay vì Ðấng Tạo hóa."
GHHV: khiến họ phụng sự tạo vật hơn là phụng sự Ðấng Tạo Hóa."

- Roma 8:21

PVCGK: " là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang."
NTT: " là chính tạo thành cũng sẽ được tự do khỏi cảnh làm tôi mục nát, mà vào địa vị tự do trong vinh quang thuộc hàng con cái Thiên Chúa."
GHHV: "chính tạo vật cũng được giải phóng khỏi ách nô lệ hư nát, lại được tự do trong vinh quang con cái Thiên Chúa."

- Roma 8:39

PVCGK: " hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác."
NTT: "hay bất cứ tạo vật nào khác."
GHHV: " hay bất cứ tạo vật nào khác."

- Col 1:15

PVCGK: "Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo,"
NTT: "Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình là trưởng tử giữa mọi thụ sinh,"
GHHV: "Ngài là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, Con đầu lòng của tạo vật,"

- 2 Cor 5:17

PVCGK: "Cho nên, phàm ai ở trong Đức Ki-tô đều là thụ tạo mới."
NTT: "Cho nên ai ở trong Ðức Kitô, kẻ ấy là tạo thành mới."
GHHV: " biến con người thành một tạo vật mới. "

- Gal 6:15

PVCGK: "trở nên một thụ tạo mới."
NTT: "có chăng (là vì đã nên) một tạo thành mới.”
GHHV: "biến con người thành một tạo vật mới. "

Xem như thế thì Nhóm Phụng Vụ Các Giờ Kinh đã chỉ dùng chữ thụ tạo, Nhóm phiên dịch của Giáo Hoàng Học Viện dùng chữ tạo vật, và Lm Nguyễn Thế Thuấn thì hai lần dùng chữ thụ tạo, hai lần dùng chữ tạo vật, những lần khác thì dùng chữ tạo thành”, “ thụ sinh”, “ mọi vật.

1.2 Bằng chứng trong các Văn Kiện của Giáo Hội

Văn Kiện của Công Đồng Vatican II

Hiện nay, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chỉ có chuẩn ấn một bản dịch duy nhất các Văn Kiện của Công Đồng Vatican II do Nhóm phiên dịch của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt chuyển dịch. Bản dịch này được hoàn thành năm 1970, dưới sự điều hành và chú giải thêm của các giáo sư thần học, đặc biệt là của Linh Mục Felipe Gómez và linh mục Phanxicô Vũ Từ Nhân (Urritia).(18)

Khi đọc qua những văn kiện này, ta đã tìm thấy những chữ như sau:

1.2.1 Hiến Chế Về Phụng Vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium)

Một lần dùng chữ "thụ tạo". Ví dụ:

Paragraph 6 : “Vì vậy, như Chúa Kitô được Chúa Cha sai đi thế nào, thì chính Người cũng sai các Tông Ðồ đầy tràn Thánh Thần đi như vậy, không những để trong khi rao giảng Phúc Âm cho mọi thụ tạo.

1.2.2 Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium)

Một lần dùng chữ "thụ tạo", 18 lần dùng chữ "tạo vật". Xin đưa dẫn chứng:

Ngay Lời Giới Thiệu đã có câu : "Ðối thoại chân thành và cởi mở với mọi thực tại thụ tạo, "

Paragraph 1. 1. “... bằng việc rao truyền Phúc Âm cho mọi tạo vật.”

Paragraph 2. “....Con đầu lòng của tạo vật. "

Paragraph 7. “.... biến con người thành một tạo vật mới.”

Chú thích số 7: “b) ... Ðây là tư tưởng chính yếu hướng dẫn tất cả tiến trình: ơn cứu rỗi biến cải con người thành một tạo vật mới. Chính Chúa Kitô là tạo vật mới ấy trong thân xác vinh hiển của Người, trong đó Người triệu tập và nối kết mọi anh em nhờ sức mạnh của Thần Khí Người (7a).”

Chương VIII,

Paragraph 62. “.... Thực vậy, không bao giờ có thể đặt một tạo vật ngang hàng với Ngôi Lời nhập thể và cứu chuộc; nhưng cũng như chức linh mục của Chúa Kitô được thông ban dưới nhiều hình thức cho các thừa tác viên và các giáo dân, và cũng như sự tốt lành duy nhất của Thiên Chúa được ban phát nhiều cách cho các tạo vật, thì sự trung gian duy nhất của Ðấng Cứu Thế không những không loại bỏ mà còn khuyến khích các thụ sinh cộng tác, trong sự tùy thuộc vào nguồn mạch duy nhất.” (19)

1.2.3 Sắc Lệnh Về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio)

Dùng chữ "tạo vật" 1 lần . Lời Mở Ðầu : “Quả thực, sự phân rẽ này hiển nhiên vừa trái ngược với ý muốn của Chúa Kitô vừa là gương xấu cho thế giới và phương hại cho công cuộc rất thánh thiện là rao giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật.”

1.2.4 Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo (Gravissimum Educationis)

Dùng chữ "tạo vật" 1 lần. “Paragraph 2. Nền giáo dục Kitô giáo. Mọi Kitô hữu, nhờ việc tái sinh bởi nước và Thánh Thần, đã trở nên những tạo vật mới.”

1.2.5 Hiến Chế Tín Lý Về Mạc Khải Của Thiên Chúa (Dei Verbum)

Đây là Hiến Chế quan trọng nhất nói về cốt tuỷ của đức tin Công Giáo, cắt nghĩa sự tương quan giữa Thiên Chúa và con người cùng các loài khác. Đọc toàn bản văn ta đếm được 5 lần dùng chữ "tạo vật" để chỉ những gì Thiên Chúa đã dựng nên. Ví dụ:

Paragraph 3. “... trước mặt loài người qua các tạo vật.”

Paragraph 6. “... có thể từ các tạo vật nhận biết cách chắc chắn có Thiên Chúa”

Note 8* “... Bản văn xác nhận sự kiện "Mạc Khải qua vũ trụ" hay qua "tạo vật" theo thơ gởi tín hữu Rôma 1,19-20. Nhưng bản phúc trình không muốn giải quyết vấn nạn là trong thực tế Thiên Chúa có ban ơn để người ta có thể nhận biết Chúa qua tạo vật không (Relatio đính kèm lược đồ III, 1964, trg 11,3,A). Thiên Chúa mạc khải khi tạo dựng; nhưng nên chú ý là bản văn nói "Chúa tạo dựng" chứ không nói Chúa đã tạo dựng để chỉ rõ là tất cả tạo vật luôn luôn tùy thuộc vào Ðấng Tạo Hóa, dầu cả trong giả thuyết tiến hóa. Mọi người đều có thể thấy trong tạo vật bằng chứng sự hiện hữu của Thiên Chúa. Chính đây là nền móng cho thần học của các tôn giáo ngoài Kitô giáo.”

1.2.6 Sắc Lệnh Về Tông Ðồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem)

Dùng chữ "tạo vật" 1 lần. Paragraph 5. Nhập đề. ... Hai phạm vi tuy khác biệt, nhưng trong ý định duy nhất của Thiên Chúa, chúng được liên kết với nhau đến nỗi chính Thiên Chúa muốn thâu tóm vũ trụ lại trong Chúa Kitô thành một tạo vật mới, khởi sự ở trần gian và hoàn tất trong ngày sau hết.”

1.2.7 Sắc Lệnh về Hoạt Ðộng Truyền Giáo Của Giáo Hội (Ad Gentes)

Dùng chữ "tạo vật" 1 lần, và chữ "thụ tạo" 2 lần. “Paragraph 5. .... "Hãy đi khắp trần gian rao giảng Phúc Âm cho hết mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu rỗi: còn ai không tin sẽ bị luận phạt" (Mc 16,15).”

Paragraph 6. .....Tuy nhiên, cả hai việc này đều liên kết rất chặt chẽ với nhiệt tâm truyền giáo của Giáo Hội;: thực vậy, sự chia rẽ giữa các Kitô hữu gây tai hại cho công việc rất thánh thiện là rao giảng Phúc Âm cho mọi loài thụ tạo.

Trong “Chương VI Sự Cộng Tác” Paragraph 38. " Mệnh lệnh của Chúa Kitô sai đi rao giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật trước hết và trực tiếp nhắm tới các Ngài, cùng với Phêrô và dưới quyền Phêrô."

1.2.8 Sắc Lệnh Về Chức Vụ Và Ðời Sống Các Linh Mục (Presbyterorum Ordinis)

Paragraph 4. "Các con hãy đi khắp thế giới rao giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật." (Mc 16,15)

Paragraph 5..... “Người mời gọi và dẫn đưa con người hiến dâng chính mình, dâng những vất vả của mình và mọi tạo vật làm một với Người.”

Paragraph 17 .... “Nhờ đời sống thân hữu và huynh đệ giữa các Linh Mục với nhau và với những người khác, các ngài có thể biết cách thẩm định và vun trồng những giá trị nhân bản và quý mến các tạo vật tốt lành như những ơn phúc của Thiên Chúa.”

1.2.9 Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay (Gaudium Et Spes)

Dùng chữ "tạo vật" 24 lần, và chữ "thụ tạo" 1 lần. Ví dụ:

Paragraph 9. “Những khát vọng phổ quát hơn của nhân loại. Trong khi đó, người ta thêm xác tín rằng nhân loại không những có thể và phải mỗi ngày mỗi củng cố thêm sự thống trị của mình trên tạo vật mà còn phải thiết lập một trật tự chính trị, xã hội và kinh tế để phục vụ con người ngày đắc lực hơn, giúp mỗi cá nhân, mỗi tập thể khẳng định và trau dồi phẩm giá riêng của mình.” (20)

Tổng cộng toàn bộ Văn Kiện Công Đồng Vatican II, ta đã đếm được 5 lần có chữ "thụ tạo" 55 lần có chữ "tạo vật".

Những ví dụ trong Văn Kiện khác

1.2.10
Ngày 2 tháng 11 năm 2005, Ủy Ban Giáo Lý Ðức Tin, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam tại Sài Gòn, có viết một bài để giới thiệu "Hiến Chế Tín Lý Về Mạc Khải Của Thiên Chúa" (Dei Verbum ), để xác nhận sự quan trọng của Hiến Chế này và chấp thuận "Bản dịch Việt Ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X" là đúng với Giáo L‎ý của Giáo Hội dậy.(21) Sự việc năm 2005 chuẩn ấn lại văn kiện quan trọng này, chứng tỏ bản dịch rất chính xác và không có gì đi sai nguyên bản hay giáo lý của Giáo Hội.

1.2.11 Một tài liệu khác, bài dịch văn kiện SOLLICITUDO REI SOCIALIS (QUAN TÂM ĐẾN VẤN ĐỀ XÃ HỘI) CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN-PHAOLÔ II cũng do Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN chuẩn ấn.(22)

Toàn bản văn đã dùng chữ "tạo vật" 5 lần. Không có lần nào dùng chữ "thụ tạo".

1.2.12 Thông Điệp Spe Salvi . Đây là thông điệp thứ hai của ĐGH Benêditô với tựa đề ”Spe Salvi” (Chúng ta đã được cứu độ trong hy vọng).

Theo bản dịch của VietCatholic Network , chúng ta đã có thể đếm được 5 lần dùng chữ "tạo vật", không có lần nào dùng chữ "thụ tạo" cả.(23) Ví dụ như:

Paragraph 16: "Điều này cũng dẫn đến một hệ quả thần học: mối tương quan mới giữa khoa học và ứng dụng sẽ có nghĩa là quyền năng thống trị trên tạo vật - được Chúa ban cho nhân loại và bị mất đi vì tội nguyên tội – sẽ được phục hồi." (24)

2. Bằng chứng trong kinh nghiệm cá nhân (personal experience) các ngôn từ của các nhà Thần học, và các vị chủ chăn

2.1
Ai cũng biết, Cha Gomez Ngô Minh S.J., người Tây Ban Nha, là một thần học gia rất nổi tiếng "của Việt Nam". Ngài có bằng tiến sĩ Thần Học ở đại học Gregorian, dạy ở Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt. Có thể nói ngài là bậc thầy, là “sư phụ” đã đào tạo biết bao Giám Mục, linh mục ưu tú của Việt Nam thuộc Dòng Tên, Dòng Phanxicô và các “top graduate” của các Giáo Phận Việt Nam. Ngài đã đóng góp rất nhiều cho Giáo Hội Việt Nam từ năm 1989 đến 1996 trong việc phiên dịch các tài liệu thần học sang tiếng Việt. Nhất là ngài đã hướng dẫn ban phiên dịch và chú thích các bản Hiến Chế Tín L‎ý sau Công Đồng Vatican II sang tiếng Việt Nam mà cho đến ngày nay, những bản dịch này vẫn đang được Giáo Hội Việt Nam chấp nhận sử dụng như là những bản dịch chính thức. Sau khi rời Việt Nam, ngài đã cộng tác với rất nhiều linh mục ở hải ngoại thành lập web site cho tờ báo "Hợp Tuyển Thần Học" tiếp tục thông dịch những tài liệu và những bài ngiên cứu của các nhà thần học nổi tiếng trên thế giới.(25)

Vào trang "Hợp Tuyển Thần Học" này, ta thử chọn một bài dịch của Lm Nguyễn Thế Minh, bài VẤN ĐỀ THẦN HỌC TẠO DỰNG nguyên văn tiếng Pháp, tựa đề “La Théologie de la création en question” của tác giả Christoph Theobald S.J. Ngài là linh mục Dòng Tên, người Pháp, là giáo sư thần học tại Phân khoa Thần học Centre Sèvres, Paris, Pháp.(26)

Trong bài viết khi Lm Nguyễn Thế Minh SJ chuyển ngữ những chữ có gốc từ "créature" từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, thì ngài:

a) Dùng chữ "thụ tạo" 2 lần. Ví dụ: “Thân phận thụ tạo”, "giữa Thiên Chúa và thụ tạo".

b) Dùng chữ "tạo vật" 13 lần. Ví dụ trong câu "Trong bối cảnh duy lý hay tự nhiên chủ hướng thời đó, văn kiện chỉ chủ ý nêu bật sự khác biệt giũa Đấng Tạo Hóa và các tạo vật”.

Xem ra, ngài đã không theo một qui luật nhất định nào cả, vì đối với ngài cả hai chữ đều đồng nghĩa. Đó chỉ là sở thích dùng chữ, mà không hề làm thay đổi nguyên nghĩa. Tưởng cũng nên ghi thêm là Lm Nguyễn Thế Minh dòng tên đã từng là Giám Đốc cho chương trình Việt Ngữ của đài phát thanh Vatican.(27)

2.2 Một ví dụ khác trong bài viết "Đức Maria, Mẹ Chúa Kitô, Trong Giáo Hội", Lm Felipe Gómez Ngô Minh, SJ đăng trong Hợp Tuyển Thần Học số 10, năm thứ tư 1994, đã viết về Đức Maria như sau:

"Đức Maria là một tạo vật như chúng ta: Người chỉ có thể đón nhận ơn và cầu thay nguyện giúp xin Thiên Chúa ban ơn cho chúng ta, hằng dạy cho chúng ta biết. Nhiều nhà thần học đã tranh cãi về thành ngữ Đức Maria Trung Gian; và dù công đồng Vaticanô II có gọi Mẹ là Đấng Trung Gian (LG 62), thì cũng vẫn không quên lưu ý cho thấy ngay rằng đó chỉ là một vai trò trung gian phụ thuộc đối với Đấng Trung Gian duy nhất là Đức Kitô (1Tm 2,5)."

"Các tác giả trình thuật đều là người Do thái, đều quan niệm về một Thiên Chúa hoàn toàn siêu việt, không thể nào hòa lẫn với tạo vật được; " (28)

2.3 Xin vào trang Giáo L‎‎ý của "Ủy Ban Giáo Lý Việt Nam: tại Hoa Kỳ" do Lm Việt Hưng Dòng Tận Hiến chịu trách nhiệm thành lập. Ngài có bằng Cao học về Giáo L‎ý của Đại Học Loyola, một đại học nổi tiếng về Giáo L‎ý của dòng tên ở New Orleans, Louisiana. Hơn 25 năm nay, ngài đặc trách về giáo l‎‎ý và chuyên mở các lớp huấn luyện đào tạo giảng viên Giáo Lý cho rất nhiều cộng đoàn ở Hoa Kỳ và Canada. (29)

Ngay phần một của Tông Huấn CATECHESI TRADENDAE về "DẠY GIÁO LÝ TRONG THỜI ĐẠI CHÚNG TA", ta đọc được chữ "tạo vật" 2 lần.

2.4 Việc dùng chữ “tạo vật” trong bài giảng của các vị Chủ Chăn

Đây cũng là những bằng chứng hùng hồn, vì có thể có người sẽ đưa ra lý do, tại vì các văn kiện viết bằng tiếng La Tinh cho nên những bản dịch là từ tiếng ngoại quốc, là tiếng chính thức của Giáo Hội La Mã mà chúng ta phải theo. Người Công Giáo Việt Nam thuần túy, nếu hiểu tiếng Việt trong sáng thì không thể nào dùng chữ “tạo vật” cách lầm lẫn được. Những bằng chứng sau đây đã minh chứng ngược lại:

2.5 Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn đã dùng chữ "tạo vật" trong bài "Bài học lịch sử về phát triển đất nước" viết vào "Mùa Thu năm 2007" trong loạt bài Lời Chủ Chăn mà ngài viết hàng tháng, để nhắn nhủ tất cả các linh mục, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong giáo phận, Đức Hồng Y Mẫn đã viết:

"Thiên hạ trong trời đất xưa nay đều ý thức và xác tín rằng sự sống và nhân phẩm là bẩm sinh, là thiên phú. Dân gian gọi đó là của Trời cho. Tín đồ các tôn giáo tin rằng đó là quà tặng của Đấng Tạo Hoá Chí Tôn trao cho loài người để quản lý vũ trụ tạo vật vì sự sống, phẩm giá và hạnh phúc của con người. " (30)

2.6 Đức cha Bùi Tuần cũng dùng chữ "tạo vật" trong một bài suy niệm "Nghĩ về Sự Chết " :

" Ðiều quan trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn đấu thanh luyện mình, phải biết khiêm tốn quên mình, dấn thân sống theo ý Chúa, để được trở thành tạo vật mới. Nếp sống kiêu căng cần phải bị loại tận gốc. Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường cần được thường xuyên phát huy." (31)

2.7 Đức Cha Giuse Nguyễn Văn Thiên, GM Hải Phòng vào dịp giảng "TĨNH TÂM LINH MỤC GIÁO PHẬN PHAN THIẾT", trong bài một về: "ĐỨC GIÊSU, NHÀ GIẢNG THUYẾT", ngài cũng đã dùng chữ "tạo vật” 3 lần.

Ví dụ:

"- Adam là tạo vật mà lại muốn được như Thiên Chúa
- Đức Giêsu là Thiên Chúa lại muốn sống như tạo vật."

Hoặc một câu khác :

"Con người thời nay đã muốn dựng nên Thiên Chúa thay vì chấp nhận mình là tạo vật của Ngài." (32)

3. Bằng chứng trong những tài liệu văn hóa ( cultural resources) tôn giáo, phong tục và xã hội ở Việt Nam

3.1 Trong bài viết "Về chữ tạo vật" của Phanxicô, anh đã đưa ra rất nhiều bằng chứng đã có dùng chữ “tạo vật” trong các tôn giáo khác như Hồi Giáo, Phật Giáo, Cao Đài Giáo và các anh em Tin Lành. Xin được trích lại những dẫn chứng của anh:

Ví dụ bài hát "Con Tôn Kính Ngài" của anh em Tin Lành Baptist:

"Con tôn kính Ngài, Chúa ơi con yêu Ngài
Mọi quyền năng Cha luôn tỏ bày, mọi tạo vật tụng ca danh Chúa
Con tôn kính Ngài, Chúa ơi con yêu Ngài
Lạy Giê-hô-va, con thờ lạy Cha." (33)

Hoặc một ví dụ khác mà anh Phanxicô đã trích từ một bài biện luận về sự hiện hữu của Thượng Đế trong trang web của anh em Phật Giáo:

"Tại sao ít khi Ngài nâng tay lên để ban phước lành?
Tại sao tạo vật mà do chính Ngài tạo ra
Lại phải bị đọa đầy trong cảnh khổ?
Tại sao Ngài không ban hạnh phúc cho tất cả?" (34)

Một điểm rất đáng chú ý mà anh Phanxicô đã khám phá ra, là anh không tìm thấy các tôn giáo đó dùng chữ “thụ tạo”. Phải chăng chữ “thụ tạo” chỉ có quen dùng trong đạo Công Giáo Việt Nam ? (35)

3.2 Sau đây, tôi chỉ xin mạn phép trưng dẫn thêm một ví dụ về lịch sử trong câu của Lm Đỗ Quang Chính dòng tên. Lm Đỗ Quang Chính SJ du học về Sử Học tại Đại Học Sorborne, Paris (1967-1970) và là một người chuyên môn về lịch sử đạo Công Giáo ở Việt Nam. Từ năm 1970 đến 1975 ngài đã dạy Giáo Sử tại các Đại Chủng Viện Huế, Vĩnh Long, Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt và các Đại Học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt và Tây Ninh. Trong bài diễn thuyết "NHÌN LẠI GIÁO HỘI HÒA MÌNH TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM", Lm Đỗ Quang Chính SJ cũng đã nói:

"Thờ cúng tổ tiên là cụm từ càng gây khó hiểu, rắc rối cho bao người! Các thừa sai chỉ dành cho một Thiên Chúa duy nhất, ngoài ra bất cứ một tạo vật nào, một thần thánh nào dù cao cả đến đâu cũng còn kém xa Thiên Chúa vô cùng, nên không được dùng danh từ thờ, mà phải dùng danh từ khác như kính, tôn vinh… Kẻ nào dám thờ những nhân vật, những thần thánh khác, đều tỏ ra không tin thờ một Thiên Chúa, chối bỏ Thiên Chúa, rơi vào cái bẫy đa thần, mê tín dị đoan. "

3.3 Tạo vật theo cách hiểu trong xã hội anh Phanxicô cũng đã đưa ra rất nhiều bằng chứng đã có dùng chữ “tạo vật” trong văn chương Việt Nam như bài bàn về Cốm xanh của nhà văn Nguyễn Tuân. Hoặc nhà thơ Huy Cận tưởng niệm Xuân Diệu:

"Xuân Diệu còn là tác giả tập Phấn thông vàng gồm những truyện ngắn trữ tình tuyệt diệu, tập Trường ca là những bài thơ văn xuôi xúc động về tạo vật, về tình đời." (36)

Và còn rất nhiều ví dụ khác nhưng vì phạm vi bài viết, chúng ta không thể tiếp tục liệt kê hết ở đây.

Phần III: Nhận xét và phê bình

Một các tổng quát, bài viết của Lm Stephanô Hùynh Trụ đã cho ta biết nguồn gốc của chữ Tạo Vật là của chữ Hán từ thời cổ đại xa xưa. Tuy nhiên chúng ta không tìm thêm được những bằng chứng cụ thể nào khác, theo ý nghĩa mà Lm Huỳnh Trụ nói, đã và đang được dùng trong văn chương và ngôn ngữ hiện đại của đạo Công Giáo chúng ta. Trái lại chúng ta đã tìm được những bằng chứng cụ thể và rất rõ ràng là chữ "tạo vật" đã mang một ý nghĩa hoàn toàn khác trong tiếng Việt Nam và có thể nói, ngày nay hai chữ này chỉ được dùng để chỉ vạn vật, hay những vật do Đấng Tạo Hóa dựng nên.

Độc giả sẽ tự hỏi ngay, vậy tại sao Lm Huỳnh Trụ lại viết những lời thật là quả quyết rõ ràng như thế ? Thiết tưởng chúng ta cần phân tích kỹ những dẫn chứng của ngài:

1) Trước hết, khi ngài viết “theo chúng tôi” thì chúng ta cũng chỉ có thể hiểu đây cũng chỉ là một giả thuyết và là ý kiến riêng của tác giả không hơn gì những giả thuyết khác. Nếu là giả thuyết thì cần phải được minh chứng, nghiên cứu và l‎‎ý luận theo phương pháp khoa học và phải kiểm chứng bằng những ví dụ thực tế trong ngôn ngữ của người Việt Nam.

a) Thực sự chúng ta không hề phủ nhận trong tiếng Trung Hoa, chữ "Tạo Vật" là tiếng Hán dùng để chỉ Đấng Tạo Hoá. Điển hình là trong ví dụ của ông Nguyễn Trường Tộ mà Lm Huỳnh Trụ đã đưa ra. Theo báo Nam Phong số 113, trang 3-11 thì nguyên văn bản di thảo Số 5 này viết bằng tiếng Hán. Tưởng cũng nên nhắc lại, ông Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) xuất thân là một nho sĩ, là người Công Giáo, sau này ông được du học Tây Phương, và học hỏi mở mang kiến thức nhờ đọc sách ngoại ngữ bằng tiếng La Tinh và tiếng Pháp, cũng như sách dịch sang tiếng Tàu. Khi đệ trình lên Vua Tự Đức để có một hệ thống chữ viết cho nước Việt Nam thời đó, ông đã đề nghị dùng chữ Hán. Xin trích lại nguyên văn lời đệ trình của ông như sau:

‘’Chả lẽ nước ta không có ai giỏi có thể lập ra một thứ chữ để viết tiếng ta hay sao? Vì ta dùng chữ Nho đã lâu nên không cần thay đổi tất cả, sợ làm cho người ta lạ tai lạ mắt ’’. ... Tôi tính quốc âm ta ước chừng hơn một vạn tiếng, trong đó chỉ có lối ba ngàn tiếng không thể viết như chữ Hán. Trường hợp đó ta dùng những chữ Hán tương tự rồi thêm hiệp vần vào một bên mà thôi. Đó gọi là ‘’chữ Hán quốc âm’’ ... Như vậy người học sau này chỉ học mặt chữ thôi, không phải tốn nhiều công phu học cái tiếng chẳng phải Hán chẳng phải ta.’’ (37)

Và lịch sử đã chứng minh rõ ràng rằng rất ít người đã nghe theo lời đề nghị này của ông, vì hiện thời chúng ta đang viết chữ Việt Nam theo vần tiếng La Tinh.

Ngoài bằng chứng của ông Nguyễn Trường Tộ từ hơn 130 năm trước, và những định nghĩa trong tự điển, chúng ta không được tác giả dẫn chứng trong ngôn ngữ ngày nay chữ "Tạo Vật" được dùng để chỉ Đấng Tạo Hóa ra sao.

b) Có rất nhiều giả thuyết đưa ra về sự hình thành của tiếng Việt. Năm 1942, GS Dương Quảng Hàm trong bài viết "CHỮ NÔM và CÔNG VIỆC KHẢO CỨU CỔ VĂN VIỆT NAM" cũng đã đưa ra một số giả thuyết về sự hình thành của chữ quốc âm. (38)

Và sau này, nước Việt Nam chúng ta cũng đã có rất nhiều người chuyên môn về ngôn ngữ học, được huấn luyện về những phương pháp nghiên cứu sử học, có bằng cấp và danh tiếng trên thế giới, khi nghiên cứu về sự hình thành của Tiếng Việt, từ thời xa xưa đến nay, các ngài cũng chỉ dám đưa ra những giả thuyết rồi tìm những chữ đã quen dùng hay đã có trong sách vở từ trước đến giờ để hỗ trợ cho giả thuyết của mình. Chưa có một ai dám quả quyết chắc chắn là đã có luật lệ, nguyên tắc và sự hình thành rõ ràng và bắt buộc phải như vậy. Vì có rất nhiều từ vựng, đúng cho giả thuyết này nhưng lại mâu thuẫn với giả thuyết khác. Rồi còn biết bao nhiêu luật trừ và khuyết điểm cho giả thuyết đó trong sự hình thành một ngôn ngữ nữa.

c) Lm Huỳnh Trụ cũng đã công nhận có một phương pháp tạo thành tiếng Việt cho người Việt Nam hiểu là cách dùng "thành tố chính đứng sau thành tố phụ". Ví dụ ẩn số, di sản, hồng y, tuyển thủ, cống vật, di vật, húy vật, tặng vật, ... Ngài đã không đưa ra những l‎ý do nào để từ chối những chữ này của người Việt cả. Rồi những chữ khác trong tiếng Hán ‎ý nghĩa một đằng mà người Việt Nam dùng một nẻo thì sao ? Ví dụ chữ thần tượng trong chữ Hán là "tượng một vị thần", nhưng tiếng Việt Nam lại có nghĩa là người mà ta ngưỡng mộ. Khúc chiết trong chữ Hán có nghĩa là "quanh co", tiếng Việt mình lại có nghĩa là rõ ràng, mạch lạc, gãy gọn. Ta nói "một bài viết khúc chiết" tức là ta khen người đó viết rõ ràng, chứ không phải là ta chê họ diễn tả quanh co.

Tác giả Quang Đạm trong bài viết "Nghĩa gốc và nghĩa dùng của một số từ Hán Việt" đã dẫn giải về sự thay đổi ‎ý nghĩa trong tiếng Việt Nam như sau: "Nghĩa quen dùng là nghĩa dễ phù hợp với tư duy đương thời và thực tiễn cuộc sống. Nghĩa gốc đã đi xa hẳn vào dĩ vãng không còn sự sống trong quan hệ giao tế xã hội nữa, cũng giống như nghĩa của những từ thuộc về một ngôn ngữ chết. Trong Hán Việt có rất nhiều từ có nghĩa gốc nhưng chỉ được nói, viết và hiểu theo nghĩa quen dùng khác hẳn nghĩa gốc".(39) Phải chăng chữ Tạo Vật không còn được hiểu như nghĩa gốc là Đấng Tạo Hóa nữa vì chữ Hán của ngày xa xưa đó đã là chữ "thuộc về một ngôn ngữ chết" từ lâu rồi.

d) Bằng chứng cụ thể là ta cũng có thể thấy ngay trong chính ví dụ mà Lm Huỳnh Trụ đã đưa ra về cuốn tự điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học xuất bản ở Đà Nẵng năm 2004. Sách này đã cho chúng ta hai định nghĩa của danh từ "tạo vật" trái ngược hẳn nhau:

nghĩa 1: " (cũ) như Tạo Hóa."
nghĩa 2: " những vật tồn tại trong thiên nhiên nói chung coi là do Tạo Hoá tạo ra ".

Điều này chứng tỏ chữ “tạo vật” trong tiếng Việt Nam đã thay đổi hẳn ‎‎ý nghĩa theo thời gian có cũ và mới, và phản nghĩa với nhau rồi.

2) Thiết tưởng chúng ta cũng cần trở lại tìm hiểu hai cuốn tự điển Công Giáo bằng tiếng Việt mà Lm Huỳnh Trụ đã nói đến:

Năm 1966, Lm Trần Văn Hiến Minh đã xuất bản cuốn tự điển của ngài, tức là trước năm 1970, năm mà nhóm Phiên Dịch của Giáo Hoàng Học Viện xuất bản toàn bộ văn kiện Công Đồng Vatican II. Trong bản dịch đó ta đã đếm được tổng cộng 55 lần có chữ “tạo vật” 5 lần có chữ “thụ tạo”. Phải chăng thư viện của Giáo Hoàng Học Viện, một thư viện lớn nhất của Việt Nam vào thời đó, không có lưu giữ cuốn tự điển của Lm Trần Văn Hiến Minh, hay những cuốn tự điển Thần Học và Triết Học mà Lm Huỳnh Trụ trích dẫn trong bài viết?

Và rồi 29 năm sau, Lm Vũ Kim Chính, S.J., Giáo sư Thần Học, Ðại Học Công Giáo Fu Jen, Ðài Loan cũng đã dịch chữ creature là “tạo vật” theo đúng ý nghĩa những chữ đã được dùng trong bản dịch Công Đồng Vatican II của GHHV.

Tại sao nhóm phiên dịch của GHHV và Lm Vũ Kim Chính không theo lời đề nghị của Lm Trần Văn Hiến Minh là "có người lại hiểu là tạo nên vật, tức là Đấng Tạo Hóa, chỉ nên dùng hai chữ Tạo Hóa (Createur) và thụ tạo (créature) " ?

Tại sao Lm Đỗ Quang Chính SJ một nhà Sử Học chuyên môn về lịch sử đạo Công Giáo ở Việt Nam khi diễn thuyết về đề tài "NHÌN LẠI GIÁO HỘI HÒA MÌNH TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM", ngài cũng đã dùng chữ "tạo vật" chỉ vạn vật trong mối tương quan với Thượng Đế ?

Tại sao những bản dịch của Thánh Kinh, của các Văn Kiện mới nhất của Giáo Hội sau này, và Đức Hồng Y và các Đức Giám Mục không "chỉ dùng chữ thụ tạo" để tránh hiểu lầm, mà các ngài lại dùng tất cả mọi chữ đang có trong tiếng Việt ngày nay như tạo vật, thụ tạo, tạo thành, thụ sinh, thọ sinh, ...để chỉ vạn vật do Thiên Chúa dựng nên ?

Thưa vì các ngài là thành phần đại đa số người Công Giáo Việt Nam đã biết và hiểu chữ “tạo vật” là thuần túy tiếng Việt Nam, không còn là chữ Hán, mà là chữ dùng theo nghĩa của tiếng Tây Phương, và đang được dùng và hiểu để chỉ vạn vật do Đấng Tạo Hóa dựng nên. Các ngài đang muốn làm phong phú tiếng Việt chứ không phải chỉ dùng có mỗi một chữ thụ tạo. Và quan trọng hơn hết, không có ai hiểu chữ tạo vật trong tiếng Việt Nam là dùng để chỉ Đấng Tạo Hóa bao giờ.

3) Lm Huỳnh Trụ cũng đã công nhận là “trong tiếng Việt người ta ghép thành những từ như: con tạo, ông tạo, thợ tạo ...”, vì cho đến nay, trong những tác phẩm chữ Nôm mà chúng ta đã biết, chưa thấy những chữ "Tạo" nào mà có chữ "Vật" đi kèm. Anh Phanxicô khi nghiên cứu về sự lạ lùng trên, cũng thử đưa ra một giả thuyết như sau:

“Công Giáo Việt Nam tạo vật được hiểu là Tạo Hoá chăng? Kinh hạt của chúng ta có những cách nói như lạy (Đấng) Tạo Hoá, lạy Hoá Công, nhưng dường như chưa hề có lạy Tạo Vật bao giờ. Thế có nghĩa là theo thời gian, ý nghĩa tạo vật = Tạo Hoá đã bị mai một. Phải chăng từ "vật" trong chữ Hán đồng âm với "vật" trong chữ Nôm vốn có những kết hợp như sự vật, đồ vật, con vật, vì thế người Việt Nam ngại ngần không muốn dùng từ Tạo Vật để chỉ Đấng tạo tác muôn loài? Văn chương Việt Nam, nhất là văn chương cổ điển, đã tránh dùng nguyên gốc từ tạo vật để nói đến tạo hoá mà chọn những cách nói "trại" như:

"Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Thử xem Con Tạo xoay vần đến đâu"
(Truyện Kiều)

"Trẻ Tạo Hoá đành hanh quá ngán
Chết đuối người trên cạn mà chơi"
(Cung Oán Ngâm Khúc). » (40)

4) Phần kết luận bài viết của Lm Huỳnh Trụ là phần làm cho chúng ta có thắc mắc nhiều nhất.

a) Tạo Vật hoàn toàn không có nghĩa là vạn vật. Nếu ngài xác quyết theo tiếng Trung Hoa thì câu nói trên đã nằm ngoài vấn đề chúng ta cần nói rồi. Nhưng khi nói trong ngôn ngữ Việt Nam chữ "tạo vật" hoàn toàn không có nghĩa là vạn vật, thì ta có thể nói những bằng chứng cụ thể mà chúng ta đã dẫn chứng ở trên đã hoàn toàn phủ nhận câu xác quyết của ngài. Hơn thế nữa chúng ta còn hiểu thêm rằng những chữ tạo vật, thụ tạo, thụ sinh, thọ sinh, tạo thành đều đã được dùng như nghĩa là vạn vật, vật thụ tạo hay vật do Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa dựng nên.

b) Một điều rất tiếc trong một bài viết khách quan khoa học mà tác giả lại phải dùng đến cá tính và hoàn cảnh sáng tác bài nhạc của tác giả Phanxicô để nói thêm vào cho những dẫn chứng của mình, thì độc giả cũng sẽ tự hỏi, bây giờ tác giả sẽ có những bằng chứng nào để nói về những lần dùng chữ "tạo vật" của nhóm phiên dịch Giáo Hoàng Học Viện, của các nhà Thần Học Việt Nam, của những tác giả các bài hát Muôn tạo vật ơi, Trường ca các tạo vật, và nhất là những bài giảng huấn đức của các Đức Giám Mục ?

c) Nhưng vì tác giả đã đưa ví dụ như là một bằng chứng xác quyết và có thể nói như là mục đích chính để ngài viết bài báo trên, để chỉ muốn nhạc sĩ Phanxicô sửa lại bài hát CCLTV, thì chúng tôi cũng xin mạn phép thử tìm hiểu đâu là sự thật của dữ kiện này theo yếu tố thời gian:

- Bài viết của Lm Stephanô Huỳnh Trụ mang tựa đề "Tạo Vật: “Tạo Hoá” hay “vật thụ tạo” ? " đăng trên nguyệt san Thánh Nhạc Ngày Nay của nhạc sĩ Ngọc Kôn, số 29, năm thứ 3, tháng 1 năm 2008.

- Bài tâm sự trao đổi bằng điện thư giữa anh Nguyễn Khang và anh Phanxicô (tên thật là Nguyễn Đình Diễn) là trong thời gian từ ngày 12 tháng 10 năm 2001. Ngày anh Nguyễn Khang post lên những tâm sự của hai người bạn này là ngày "Monday Oct 11, 2004 12:32 pm" dưới chủ đề post là: “Con chỉ là tạo vật”. Lúc đó anh Nguyễn Khang mới chỉ là khách của diễn đàn, nhưng cũng trong ngày anh gia nhập là thành viên của diễn đàn "Tâm Tư Sao Biển". Lm Stephanô Huỳnh Trụ đã lấy ngày đó là ngày anh Phanxicô bộc lộ sự “đâm hỏang” của mình, ngày này xem ra có vẻ gần với ngày anh đang chuẩn bị phát hành “Tuyển Tập Cát Biển Sao Trời” hơn, hàm ‎ý là nếu anh muốn sửa, anh vẫn còn nhiều thời gian để thay đổi trước khi trình làng vào "Mùa Vọng, tháng 12 năm 2005" như ngày in trên bìa sách.

- Những dòng tâm sự này là những tâm tình trao đổi giữa hai người bạn, một người là nhạc sĩ, một người là ca trưởng chịu trách nhiệm tập hát cho ca đoàn. Cả hai tâm hồn gặp nhau trong lòng cảm mến, yêu thích Thánh Nhạc. Để cho mọi người được sáng tỏ hơn, tôi xin đăng lại nguyên văn lá thư sau đây. Những chữ in đậm là những chữ Lm Stephanô Huỳnh Trụ đã chọn để trích lại.

“Phanxicô trả lời

*- Anh Khang mến,

Mấy ngày vừa qua bận tíu tít chuyện trường lớp, nay mới đuợc ngồi lại thưởng thức cái thú tâm sự với anh. Xin hân hạnh “phúc đáp” những câu “phỏng vấn” của anh về ca khúc “Con Chỉ Là Tạo Vật”.

Phanxicô có hai giai đọan viết lách. Từ 1975 đến khoảng 1982 là viết ngẫu hứng (nghĩ sao viết vậy) với cái vốn nhạc lý học đuợc trong nhà Ðức Chúa Trời.

Từ khoảng 1982 trở đi (1982 bắt đầu theo học Cha Kim Long và Thầy Viết Chung) thì viết có bài bản, có lý luận đôi chút.

Bài CCLTV thuộc giai đọan trước.

Thú thật với anh, viết xong cũng chẳng biết vì sao mà có nốt Si giáng, có Fa thăng (sau này mới biết Si giáng của piano là La “già” [= La tấu hơi cao lên một chút] và Fa thăng là Fa “già” của điệu thức “Óan” trong dân ca nam bộ).

1) Bài này viết năm 1980, khi ấy mình đang dạy học xa nhà ở Ðất Ðỏ, một vùng quê cách Bà Rịa 10 km. Tối hôm ấy cùng người bạn đồng nghiệp và đồng phòng đi ăn cuới. Ðất nước khó khăn, chỉ có rượu đế. Anh bạn say lắm. Diễn dìu bạn về nhà trên con đuờng làng đẫm ánh trăng. Săn sóc bạn xong Diễn ngả lưng xuồng giường của mình ngay bên cạnh. Ðèn dầu hết dầu nên viết phần đầu của bài này trên... giường và trong... bóng tối. Ngày hôm sau hoàn tất, và trong một dịp về Sài Gòn Diễn trao bài này cho ca đoàn thiếu nhi xứ nhà hát lần đầu tiên. Sau đó cho in vào tập “Nhạc Khúc Thiên Ðường” của Nguyễn Duy.

Một thời khó khăn, nhiều khi bài hát in ra không có tên tác giả. Phanxicô và Nguyễn Duy hay in nhạc chung nên dân chúng thường nhầm lẫn lấy râu của ông này cắm cho ông nọ. Anh em đồng môn cả, vui vẻ hết mọi sự. Anh Khang dùng bài này ở Ba Làng có lẽ phải sớm hơn 1989 vì Nha Trang với Sài Gòn liên hệ về thánh nhạc rất nhanh.

2) Nhớ lại thì thấy rằng không có hoàn cảnh sáng tác gì đặc biệt. Không hề có manh nha ý tưởng từ trước, không có gì gợi ý rõ ràng. Tất cả đều tự nhiên nảy ra như có sẵn và Chúa cho hiện hình. Và, nhớ lại thấy rằng thuở ấy tâm hồn thanh thản và trong sáng lắm. Hai mươi năm qua lòng vẩn đục đi nhiều lắm rồi.

3) Anh góp ý
“dẫu mà ngàn năm đã qua... ngàn năm sẽ qua” rất đúng. Nếu viết như thế thì diễn đạt đuợc sự miên viễn của tình Chúa. Nhưng hình như thuở ấy mình cho lặp lại giống nhau vì 2 lẽ.

Một là cho nó tương tự sự lặp lại ở phiên khúc 1
“Có gì mà dâng Chúa đâu có gì mà dâng Chúa đâu”.

Hai là vì bắt chước thói quen của dân ca - đã lặp lại là lặp lại 100% :
“tình tình tình gió bay, tình tình tình gió bay”.

4) Như đã nói trên, thuở đó mình viết theo cảm tính rất nhiều. Ngay cả chuyện thần học giáo lý cũng chẳng để ý nữa. Cũng chẳng phải viết “tội tình” cho hợp vần với “hy sinh”.

Thú thật với anh, chẳng qua là vì viết tới đó thấy chữ “tội tình” có vẻ “ai óan” hơn, cái vỏ âm thanh có vẻ diễn cảm hơn, thế là hạ bút.

Sau này, anh Khang ạ, còn có ý kiến cho rằng từ “tạo vật” là để chỉ Thiên Chúa (Creator), còn con người phải gọi là “tạo thành” mới đúng... Diễn đâm hoảng. Nhưng mà biết sửa sao đuợc nữa. Ðúng hay sai thì bài hát đã đuợc phổ biến rồi.

Cám ơn anh đã thân tặng những suy nghĩ về ca khúc của Diễn. Bài hát có nhiều khuyết điểm lẽ ra có thể sửa chữa đuợc ngay từ đầu. Nhưng thuở ấy mình còn trẻ nguời non dạ lắm. Những khuyết điểm ấy đánh dấu quãng đời thanh niên những mong ước vươn đến lý tưởng cao đẹp trên đuờng đời đầy chông gai. Dù sao, bài hát ấy là hồng ân của Thiên Chúa. Nó tràn đầy cảm xúc chân thành và những mông muội cung chân thành. Nó giống như một em bé lem luốc, nhưng vì là em bé nên vẫn có vẻ dễ thương. Mọi em bé Chúa đặt vào thế giới này đều dễ thương.

Vui vui với mấy dòng tự bạch vội vàng này nhé anh Khang. Lúc nào “nghĩ” ra câu hỏi nào mới, anh cứ “meo” về VN cho Diễn. Kiếm đuợc chút thời giờ thì tâm tình với nhau cho quên sầu.

Cầu nguyện cho nhau.

Thân ái,

Phanxicô”
(42)

Đâu là ‎ý chính trong những lời tâm sự của nhạc sĩ Phanxicô?

Đọc qua những giòng trên, ta thấy những dữ kiện lịch sử mà nhạc sĩ Phanxicô viết vào, chỉ là những yếu tố phụ để nói lên một điểm chính là bài hát đã được sáng tác trong một hoàn cảnh nghèo nàn về mọi phương diện:

- Kiến thức của tác giả rất nghèo vì chưa được học hỏi gì.

- Hoàn cảnh để viết bài hát cũng thật nghèo: Sinh viên mới ra trường, đi dậy học xa nhà. “Ðèn dầu hết dầu nên viết phần đầu của bài này trên... giường và trong... bóng tối".

- Nơi viết bài này cũng là một vùng quê rất nghèo thời đó, mặc dầu chỉ cách Bà Rịa có mười cây số.

- Tâm tình của tác giả cũng rất ... đơn sơ trong hoàn cảnh nghèo "có gì mà dâng Chúa đâu !". Một chuyện tình cờ, tác giả mới khám phá ra sau khi hoàn thành bài hát, là bài này đã được viết theo điệu dân ca Miền Nam, miền của những người có tâm hồn đơn sơ, thành thật, có sao chịu vậy, nghĩ sao nói vậy. Không khách sáo cầu kỳ.

- Bài hát "Không hề có manh nha ý tưởng từ trước, không có gì gợi ý rõ ràng."

Sau khi đọc hết những dòng tâm sự trên, độc giả đã nhận ra ngay: phải chăng chính trong sự nghèo nàn, cô đơn của đêm tối đó mà nhạc sĩ Phanxicô đã được diễm phúc tìm gặp Chúa ? "Tất cả đều tự nhiên nảy ra như có sẵn và Chúa cho hiện hình." Sau này khi chia sẻ với anh Khang, tác giả cũng đã cảm nhận bài hát ấy là "hồng ân của Thiên Chúa ban ".

Và lịch sử suốt gần 30 năm đã cho mọi người thấy, Chúa đã dùng người thanh niên có “những mong ước vươn đến lý tưởng cao đẹp trên đường đời đầy chông gai” đó, là khí cụ đơn sơ của Ngài, vì không những anh chỉ viết có một bài hát đó, mà còn hơn 250 bài hát Thánh Ca khác mà Giáo Hội Việt Nam và toàn thể dân Chúa vẫn luôn dùng để ca tụng Ngài.

Suy nghĩ đến đây, chúng ta vẫn chưa hiểu tại sao Lm Stephanô Huỳnh Trụ lại bỏ đi những dòng chữ chân thật, viết đầy cảm xúc, đánh dấu một mảnh đời rất quan trọng khi viết tác phẩm đầu tay CCLTV này:

“Bài hát có nhiều khuyết điểm lẽ ra có thể sửa chữa được ngay từ đầu. Nhưng thuở ấy mình còn trẻ người non dạ lắm. Những khuyết điểm ấy đánh dấu quãng đời thanh niên những mong ước vươn đến lý tưởng cao đẹp trên đường đời đầy chông gai. Dù sao, bài hát ấy là hồng ân của Thiên Chúa. Nó tràn đầy cảm xúc chân thành và những mông muội cũng chân thành. Nó giống như một em bé lem luốc, nhưng vì là em bé nên vẫn có vẻ dễ thương. Mọi em bé Chúa đặt vào thế giới này đều dễ thương.”

Chắc các bạn cũng như tôi, mỗi lần hát bài thánh ca này, đều có thể liên tưởng đến ‎câu thánh kinh của thánh Mathêu: Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, ngài cũng chỉ muốn chúng ta là những tạo vật đến với Ngài với những tâm tình đơn sơ, của một trẻ nhỏ. (Mt 18:3)

Nhưng khi đọc xong bài viết của Lm Stephanô Huỳnh Trụ, độc giả lại có một cảm giác là: anh Phanxicô đã biết sai mà không chịu sửa, vì cuối cùng cha đã viết một câu không nhẹ lời:

"Thiết nghĩ việc tái bản có sửa chữa và bổ xung là việc mà các tác giả vẫn làm và cần làm khi nhận ra điểm sai lầm hoặc thiếu xót trong tác phẩm của mình." Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa" (Mt 22,21)". (43)

Sau khi đọc bài viết của Lm Huỳnh Trụ và đọc lại bài viết của Phanxicô, ta cũng thắc mắc là khi viết và đăng bài trên báo Thánh Nhạc Ngày Nay ở trên, cha đã có dịp được đọc bài "đôi lời phát biểu" của anh Phanxicô gửi qúy cha trong Ban Thánh Nhạc Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh chưa ? Tôi đã phỏng vấn nhạc sĩ Phanxicô, thì được anh cho biết lý do tại sao đã phải viết bài đệ trình đó.

Trước khi có ‎ý định xuất bản một tuyển tập gồm tất cả những bài Thánh Ca anh đã viết, thì anh đã nộp một bản thảo lên Ủy Ban Thánh Nhạc Thành Phố Hồ Chí Minh để xin chuẩn ấn (Imprimatur) theo Giáo Luật. Các cha khi kiểm duyệt cũng đã đặt vấn đề về bài hát CCLTV và muốn anh cắt nghĩa và chủ đích dùng chữ tạo vật trong bài thánh ca đó. Vâng lời bề trên, anh đã bỏ hơn ba tháng trời nghiên cứu, tham khảo sách vở để tìm những dẫn chứng trong tự điển, theo lịch sử hình thành của chữ, của phong tục văn hóa Việt Nam, của việc dùng chữ đó trong các tôn giáo bạn, và nhất là anh Phanxicô cũng tham khảo văn kiện của Giáo Hội, của những kinh sách ta thường đọc hàng ngày... rồi mới nói lên thỉnh cầu của anh và đã đệ trình bài viết lên Ủy Ban Thánh Nhạc của Giáo Phận thành phố vào Mùa Chay năm 2004.

Các cha đã đồng ‎ý với sự tìm hiểu và suy nghĩ của anh và đã chấp thuận sơ khởi, sau đó xin ý kiến của Đức Giám Mục phụ tá Giuse Vũ Duy Thống để ngài tái xác nhận là không đi sai Tín Lý và Thần Học của Giáo Hội Công Giáo. Sau đó ĐGM đã thực sự chấp thuận và ký Imprimatur cho in ngày 22 tháng 4 năm 2005, và Linh Mục Nhạc sư Kim Long cũng đã viết lời giới thiệu vào Mùa Phục sinh năm đó. Sau đó, anh mới dám phát hành tuyển tập "Cát Biển Sao Trời" của anh. (44) Việc làm rất thận trọng của các cha và của Đức Giám Mục, chứng tỏ các ngài cũng đặt nặng trách nhiệm phải kiểm soát thật kỹ những bài Thánh Ca liên quan đến Tín Lý và Thần Học, trước khi cho phép được dùng trong phụng vụ Công Giáo.

Kết Luận

Bài viết của Lm Huỳnh Trụ có ưu điểm là đã cho chúng ta thấy sự hình thành của hai chữ “tạo vật” từ căn ngữ, nhưng những lý luận trong bài báo của ngài đã không cắt nghĩa tại sao có những bằng chứng rất hùng hồn là chữ “tạo vật” , đang được dùng rất rõ ràng và thật phổ biến trong văn chương và ngôn ngữ của đạo Công Giáo Việt Nam. Và vì thế bài báo vừa không đủ bằng chứng thuyết phục, vừa không công bằng vì chỉ muốn nhạc sĩ Phanxicô phải thay đối bài hát CCLTV, mà không nói gì đến những trường hợp khác cũng xử dụng chữ “tạo vật” mà chúng ta thấy ở trên.

1) Qua những dẫn chứng trong phần II, chúng ta đã thấy chữ "tạo vật" cũng đồng nghĩa với những chữ thụ tạo, thụ sinh, thọ sinh, tạo thành, ... Tất cả đều có nghĩa là vạn vật, vật thụ tạo hay những vật do Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa dựng nên. Những chữ này ngày nay đã được Giáo Hội Việt Nam chấp thuận cho xử dụng rất rộng rãi trong các bản dịch sách Thánh Kinh, các Văn Kiện Tín Lý và Thần Học của Giáo Hội, các bản dịch Lễ Nghi Phụng Vụ. Chữ tạo vật cũng được phép dùng trong những bài Thánh Ca, trong kinh sách của đạo Công Giáo, trong những bài giảng của các Đức Giám Mục, các vị Chủ Chăn hay trong những câu nói hàng ngày của mọi tín hữu, để chỉ những vật được Đấng Tạo Hóa dựng nên.

Ngày nay, chữ "tạo vật" đã trở thành tiếng Việt Nam thuần tuý, đến nỗi mọi người không những ở trong đạo Công Giáo mà ở ngoài xã hội địa phương và các tôn giáo bạn, đã quá quen thuộc, không còn ai muốn đặt thành vấn đề nữa. Vì ngoài những qui luật hình thành một ngôn ngữ như cú pháp (syntax) và dụng ngôn (pragmatic), từ ngữ nghĩa (semantic) của một chữ cũng đóng vai trò rất quan trọng. Vì khi một tập thể, một dân tộc đã cùng chấp nhận một chữ với ‎ý nghĩa (semantic structures) mà mọi người cùng hiểu, thì chữ đó đã trở thành ngôn ngữ của tập thể và dân tộc đó rồi. Nhất là những chữ đó đã được lưu dụng trong dân tộc đó qua nhiều thế hệ.

Hẳn nhiên chữ "tạo vật" cũng đã nằm trong loại hình thành của quy luật ngôn ngữ này.

2) Ngày 2 tháng 11 năm 2005, Ủy Ban Giáo Lý và Đức Tin thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã tái xác nhận, không những cho lưu hành "Hiến Chế Tín Lý Về Mạc Khải Của Thiên Chúa" (Dei Verbum) của Công Đồng Vatican II đã dịch, và vẫn còn cho dùng những chữ "tạo vật" trong đó, chứng tỏ là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vẫn chấp thuận, vẫn còn được dùng chữ này không có gì là sai lầm cả.

3) "Của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa ." Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, thật hoàn hảo, con người có dùng bất cứ ngôn từ và hình ảnh nào để mà ca tụng Ngài, cũng không phải để làm cho Ngài thêm hoàn hảo mà trái lại chỉ vì phần rỗi của chúng ta. Ý nghĩa trong ngôn ngữ mà mọi người Công Giáo Việt Nam vẫn dùng hai chữ "tạo vật" để nói về thân phận thấp hèn, hư vô, của mình trong mối tương quan với Thiên Chúa, thì nó đã trở thành một biểu tượng của ngôn ngữ để mọi người cùng hiểu và cùng dùng theo ‎ý nghĩa đó. Và khi chúng ta cùng cất lên câu kinh: "Lạy Chúa con chỉ là tạo vật" thì mọi người Việt Nam thuần túy đều hiểu là chúng ta đang đặt thân phận ‎yếu hèn của con người trước Đấng Tạo Hóa đầy quyền năng, và tuân phục Ngài là Thiên Chúa. Đây cũng chỉ là biểu tượng ngôn ngữ trong tiếng Việt Nam mà đại đa số người Việt đã chấp nhận, chứ không phải là vấn đề của Luân L‎‎ý, Tín L‎ý hay Thần Học mà phải nói đúng hay sai.

Thiết tưởng việc chúng ta vẫn dùng chữ “tạo vật” để chỉ mọi vật được Thiên Chúa dựng nên, không làm cho tín hữu Công Giáo Việt Nam thành "rối đạo". Trái lại, chính việc cắt nghĩa ngược lại, hay thay đổi không được xử dụng chữ “tạo vật” nữa càng làm cho mọi người thêm bối rối và có thể gây hậu quả tai hại không ít. Cứ tưởng tượng ngày nay, có một ông trùm trong Ban Đại Diện đứng trong nhà thờ đọc lại lời này: "tạo vật là đấng nhân ái, công bằng, coi mọi người như con ... loài người là con của tạo vật ." Nếu không nói đó là câu văn viết bằng chữ Hán cổ văn của ông Nguyễn Trường Tộ năm 1864, thì chắc chắn mọi người sẽ cho ông trùm này là ... phạm thượng, nếu không muốn nói là ... bất bình thường rồi.

4) Lm Joseph Cao Phương Kỷ, một học giả uyên thâm về chữ Hán, chữ Nôm và Việt Ngữ. Ngài thuộc tu hội Xuân Bích và đã là giáo sư ở rất nhiều Chủng Viện tại Việt Nam ngày xưa. Năm nay ngài đã hơn 90 tuổi nhưng vẫn luôn hăng say tìm tòi nghiên cứu, học hỏi và viết những bài rất chân tình để xây dựng Giáo Hội Việt Nam thân yêu của chúng ta về mọi lãnh vực, nhất là vấn đề liên quan đến đạo Công Giáo và ngôn ngữ Việt Nam. Mùa Vọng năm 2006 ngài có viết một loạt bài về: “TÔN THỜ CHÚA GIÊSU, CON THIÊN CHÚA NGÔI LỜI NHẬP THỂ”. Bài số 02 viết về chủ đề “LỜI TRUYỀN PHÉP THÁNH THỂ: “ĐÂY LÀ MÌNH TA”… “ ĐÂY LÀ MÁU TA”. Trong đó ngài đã có đặt một vấn đề rất thực tế về trình độ hiểu biết của giáo sĩ và giáo dân tín hữu ngày nay:

“Độc giả thắc mắc, và đặt những câu hỏi như: tại sao các giáo sĩ khoa bảng thời nay, không nghiên cứu, học hỏi một cách tường tận tinh túy của Ngôn ngữ Việt, Văn Hóa Việt để làm lợi khí Truyền Đạo, như các bậc đàn anh là các Nho sĩ đã cộng tác với các giáo sĩ ngoại quốc, để sáng tác ra chữ ”Quốc Ngữ”? ... (45)

Có nhiều điều ngài muốn nhấn mạnh:

a) Khi muốn làm cho tiếng Việt Nam thêm phong phú, các nho sĩ ngày xưa đã cởi mở, cộng tác với các giáo sĩ ngoại quốc để sáng tác ra những từ ngữ mới, có nghĩa là làm cho tiếng Việt được dồi dào, có nhiều tiếng khác nhau để có thể diễn tả những hình ảnh cao siêu, thiêng liêng, trừu tượng.

b) Ngày xưa khi đa số dân Việt Nam chỉ là những người dân chất phát bận rộn với công ăn việc làm không có thời giờ và cơ hội để được đi học, mà “các bậc đàn anh” vẫn còn phải “nghiên cứu, học hỏi một cách tường tận tinh tuý của Ngôn ngữ Việt, Văn Hoá Việt để làm lợi khí Truyền Đạo”, thì huống chi là ngày nay, trình độ hiểu biết của mọi người đã được phát triển vì học vấn, nhờ những phương tiện truyền thông và giáo dục đã tiến bộ không ngừng. Ngày xưa, một lời cha giảng, cha phán, có thể được kết luận ngay là “mầu nhiệm” phải tin, nhưng ngày nay những lời cắt nghĩa đó không còn là nhiệm mầu nữa vì nếu nói không đúng, sẽ bị đặt thành nghi vấn rất nhanh chóng qua phương tiện tìm kiến rất hiện đại của hệ thống máy móc điện toán bây giờ. Vì bổn phận truyền giáo và chăn dắt đàn chiên, các mục tử cũng phải luôn thăng tiến, học hỏi để có thể đáp ứng với mọi nhu cầu của hoàn cảnh mới.

c) Bổn phận của người tín hữu Công Giáo cũng vậy, đức tin , lòng mộ mến đạo và sự thông cảm bác ái với anh em sẽ càng phát triển khi chúng ta cởi mở tâm hồn và quảng đại với những chân trời hiểu biết khác. Kiến thức là những gì rất mênh mông, bao la như biển cả không phải chỉ có gói trọn trong một hai cuốn tự điển, một vài câu truyền tai, hay chỉ một bài báo, một quyển sách.

Điển hình như trong lãnh vực Thánh Ca, có những người tưởng mình có thể sửa đổi cái này, đề nghị cái kia, mà không hề nghĩ đến hậu quả của chính việc làm đó còn tai hại hơn là không cần phải thay đổi. Có những câu kinh, có những bài hát đã được Giáo Quyền tốn công, tốn sức kiểm duyệt và cho phép chuẩn ấn Imprimatur để hát trong phụng vụ, đã đi sâu vào lòng người Công Giáo Việt Nam, tự nhiên có người nào đó cho là sai Thần học, sai Tín l‎ý và đề nghị sửa đổi hay cấm đoán nó. Phải chăng "Thần học" đã được định nghĩa là những suy nghĩ về Chúa để đưa mọi người đến với Chúa, chứ đâu có phải "Thần học" là tìm ra những l‎ý lẽ để ngăn cản không cho tín hữu được đến gần Chúa hơn.

Ví dụ, rất nhiều giáo dân ngày nay đã than tiếc vì họ không còn được dùng bài hát "Trên con đường về quê" của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên để hát cầu nguyện xin Đức Mẹ hộ phù nữa. Có phải vì lời ca "con biết cậy vào ai, biết nương nhờ ai" là sai Thần học không ? Chưa chắc ! vì nếu sai Thần học thì tại sao Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã chọn câu “Tất cả trong tay Mẹ” từ chữ tiếng La tinh “Totus Tuus” có nghĩa là “Hoàn toàn thuộc về Mẹ” làm câu châm ngôn cho cả triều đại Giáo Hoàng của Ngài, mà không ai phản đối gì. Trái lại, chúng ta còn ca tụng ngài là đã luôn kiên trì, cậy trông vào Đức Mẹ. Hoặc cũng có người còn đề nghị bỏ bài thánh ca của Lm Kim Long có câu "Con hân hoan bước lên bàn thờ Chúa... " với sự l‎ý luận thần học là loài thụ tạo mà sao dán hỗn láo bước lên trên bàn thờ là nơi để thờ phượng Chúa !!!

d) Trong đời sống đạo hàng ngày, kinh nghiêm thực tế đã cho ta thấy, có nhiều sự khác biệt rất sâu xa giữa ý nghĩa của “nhân đức vâng lời” và chuyện “khinh thường giáo dân tín hữu”, của việc sợ sệt “giữ đạo 'phòng thủ' cho khỏi ... mất” và cách “phải sống đạo và phát triển hạt giống đức tin”, của việc “thể hiện tình yêu thương anh em cùng trong một nhà, cùng con một Chúa” “thái độ đối sử với nhau như ông chủ và tôi tớ”. ĐGH Benedictô, trong cuốn The Spirit of Liturgy đã cắt nghĩa sở dĩ có những qui tắc và luật lệ trong Giáo Hội là để bảo vệ quyền lợi và sự tự do sống đạo và tôn thờ Thiên Chúa của mọi tín hữu mà không sợ bị những người khác ngăn cấm hoặc thay đổi.(46) Đó mới chính là tinh thần của Phúc Âm vì Chúa Giêsu đến để đưa mọi người về với Thiên Chúa, chứ không phải để đe dọa ngăn cấm, làm họ xa Chúa, như những thầy thông luật trong Thánh Kinh.

Vui Mừng và Hy Vọng

1) Ngày mồng 8 tháng giêng 2008 vừa qua, Đức Giám mục giáo phận Mỹ Tho Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ tịch Uỷ ban Giám mục về Giáo lý và Đức tin, đã giới thiệu ban biên soạn thuật ngữ Công giáo bằng tiếng Việt. (47)

Bản tin của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã nói là Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục giáo phận thành phố Hồ Chí Minh, cùng 80 linh mục, tu sĩ và giáo dân chuyên về lịch sử Giáo hội, Kinh thánh, ngôn ngữ học, thần học, triết học và văn hóa đã tham dự lễ ra mắt tại Trung tâm Công giáo ở thành phố Hồ Chí Minh. Cha Phêrô Nguyễn Chí Thiết, tiến sĩ về thần học tín lý tại Rôma năm 1970 được mời làm trưởng nhóm gồm có 30 giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân. Dự định của nhóm là biên soạn 15 ngàn thuật ngữ Công giáo về Giáo hội, Kitô giáo, đạo đức, giáo luật, mục vụ, triết học, tu đức và thần học trong ba năm. (Nghe nói anh Phanxicô cũng là một thành viên giáo dân trong nhóm nghiên cứu này). Việc làm rất là công phu. Ví dụ bản tin cho thấy là: "cuốn từ điển này trình bày mỗi thuật ngữ tiếng Việt được đi kèm với những thuật ngữ tương đương gần nghĩa nhất bằng chữ Hán, Nôm, tiếng Anh, Pháp và La-tinh. Một mục từ có thể được giải thích trong vòng 300 từ tiếng Việt, và được quy chiếu về thần học cũng như truyền thống, văn hoá Việt Nam.”

Đức Hồng y Mẫn đã bày tỏ niềm phấn khởi khi ngài nói rằng “ngài hy vọng cuốn từ điển này sẽ giúp thúc đẩy các giá trị Kitô giáo trong nước và làm phong phú nền văn hoá địa phương.”

2) Đầu tháng 3 năm 2008, Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài và Lm Trần Công Nghị trong Hệ Thống truyền thông Việt Catholic Network đã bắt đầu chương trình "Thuật Ngữ Báo Chí Công Giáo Anh Ngữ". Đây là một chương trình rất qui mô vì đã được sự hợp tác của rất nhiều người từ trong nước cũng như trên toàn thế giới. Đến nay đã có hơn 40 thành viên tình nguyện tham gia. Họ là những nhà chuyên môn về mọi phương diện : Thánh Kinh, Thần học, Tín Lý, Triết Học, Văn Chương, Ngôn Ngữ, bác sĩ, kỹ sư, khoa học gia, ... Họ là những bậc cao niên, trưởng thượng hằng luôn thiết tha với sự sống còn của dân Việt và ngôn ngữ tiếng Việt. Họ cũng là những người trẻ đã được may mắn đào tạo ở Tây Phương đang khao khát chia sẻ những kiến thức hấp thụ cho những đồng bào nói tiếng Việt. Họ đang hợp lại, tình nguyện giúp chuyển dịch cuốn sách Từ Điển bằng Anh Ngữ Modern Catholic Dictionary của Lm John A. Hardon sang tiếng Việt Nam. Việc làm rất hữu ích này không những giúp cho những thế hệ cha mẹ chúng ta đi trước học hỏi được nhiều hơn qua những phương tiện truyền thông tối tân và nhanh chóng của Tây Phương bây giờ, mà còn giúp những thế hệ của chúng ta và của con cháu sau này có nhiều vốn liếng Việt Ngữ để có thể giúp đỡ cho anh em đồng bào chúng ta hơn nữa. Đây chính là niềm tự hào chung của mọi người Công Giáo Việt Nam, không phân biệt trình độ, vì chúng đang cùng nhau làm phong phú kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt mà cha ông chúng ta từ ngàn năm xưa đã khổ công gầy dựng.

3) Qua những nỗ lực cao đẹp và rất thiết thực trên, hy vọng một ngày không xa, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chúng ta sẽ có một quyển tự điển theo kiểu "Hàn Lâm Viện", để mọi người có thể dùng đó như là một tiêu chuẩn chung, để mọi người Công Giáo Việt Nam trên toàn thế giới cùng hiểu một ý nghĩa của mỗi chữ tiếng Việt. Đó cũng chính là việc chúng ta thể hiện những điều chúng ta vẫn hằng tuyên xưng là “Tôi tin Giáo Hội duy nhất, thánh thiện công giáo và tông truyền.”

Nhìn xa hơn trong chiều hướng tông đồ mục vụ, cùng làm việc trên cánh đồng truyền giáo, ngày xưa nhiều người chỉ hiểu công việc truyền giáo là Kitô hóa những người chung quanh, tức là làm sao rửa tội cho người ngoại đạo để họ được tin vào Chúa Kitô. Ngày nay, Giáo Hội nhấn mạnh đến Phúc âm hoá, tức là không những chỉ nhắm đến việc rửa tội, mà quan trọng hơn là làm cho tinh thần yêu thương và phúc âm của Chúa thấm nhuần vào tâm hồn mọi người tín hữu trong đời sống hàng ngày bao gồm xã hội, kinh tế, chính trị và những tập tục văn hóa. Mà ngôn ngữ là cách thế duy nhất để chúng ta truyền đạt.

Chiều hướng đó, ngày nay ta vẫn gọi là Hội Nhập Văn Hóa, vì không những chúng ta thích ứng Sứ Điệp của Chúa và Giáo Hội vào văn hóa Việt Nam mà còn biến đổi nền văn hóa đó cho nó thật kiện toàn hơn nữa.

Trần Trùng Trục

trantrungtruc3t@gmail.com


----------------------------------------------------------------------------
Chú Thích

(1) Xin xem bài hát Con chỉ là tạo vật ở đây:
http://www.dinh.dk/pdf/conchilataovat.pdf
(2) Xin xem Lm Stephanô Huỳnh Trụ, “Tạo Vật: "Tạo Hoá" hay "vật thụ tạo" ?” đăng trên báo Thánh Nhạc Ngày Nay , số 29 tháng 1 năm 2008,
http://www.calendi.com/thanhnhac/uploaded/trantrungtruc/TaoVat_LM_HuynhTru_s.pdf
(3) Từ Điển Tiếng Việt, Viện Ngôn Ngữ Học, nxb Đà Nẵng, Trung Tâm Từ Điển Học, Hà Nội-Đà Nẵng 2004.
(4) Lm Stephanô Huỳnh Trụ, bài đã trích, trg 41.
(5) Xin xem trang web "Khang xin chia xẻ với các Bác Phỏng vấn Phanxicô"
http://dovyha.catruong.com/phpbb/viewtopic.php?p=1061&sid=c767956b080f5c000ad344783f5bc708
(6) Tôi xin dựa vào một phần phương pháp nghiên cứu Mục Vụ (Method in Ministry) của hai ông bà Whiteheads. Phương pháp này khuyên rằng khi ta đưa ra bất cứ những phán quyết gì liên quan đến những vấn đề Mục Vụ ngày nay, người ta phải dựa vào ba nguồn tài liệu chính. Xin đưa luôn ví du cụ thể ở đây là, nếu muốn tìm hiểu xem việc dùng chữ "tạo vật" trong tiếng Việt Nam từ trước đến giờ, có đi sai đường hướng của Giáo Hội Công Giáo La Mã hay không, thì ta phải cần có những dẫn chứng nòng cốt sau đây :
1) Phải dựa vào các văn kiện nói về Truyền thống Kitô giáo (Christian Tradition) chẳng hạn như các bản dịch Thánh Kinh, bản dịch các Văn Kiện của Giáo Hội.
2) Phải dựa vào những kinh nghiệm cá nhân (personal experience) bao gồm những suy tư, những chia sẻ của các nhà thần học và học giả đã có sử dụng danh từ đó để nói về những vấn đề của đạo và giáo hội hay không.
3) Phải dựa vào những tài liệu văn hóa ( cultural resources) , những áp dụng thực tế tại giáo hội địa phương, hoặc nền văn hóa và xã hội địa phương.
(7) Để cho các bạn ngày nay dễ hiểu, tôi xin đưa ra một ví dụ tương tự rất gần gũi với chúng ta. Khi mấy người Việt Nam cao niên đặt chân lên nước Hoa Kỳ năm 1975 tại vùng Versailles ở New Orleans, các cụ muốn học mấy câu tiếng Anh để giao thiệp với người Mỹ, thì các cụ hỏi mấy người trẻ cách viết chữ đó theo kiểu đọc bằng tiếng Việt. Ví dụ muốn nói "You are very kind ". thì đã có người dạy các cụ viết là "giu a vé ri khai ". Người Hoa Kỳ nghe lại thì hiểu ngay, nhưng nếu đọc chữ thì họ chắc chắn không biết các cụ viết chữ gì. Cũng vậy, chữ Nôm thời đó, cũng chỉ là cách dùng chữ Hán để viết phiên âm tiếng Việt, nên không phải là chữ Hán hiểu theo nghĩa là phân tích và chiết tự từng bộ, từng gốc chữ như khi đọc một văn bản của người Tàu.
(8) Xin đọc thêm về Thuật ngữ chữ Nôm và Hán Việt trong trang web của Viện Việt Học.
http://www.viethoc.org/index.php?&MMN_position=1:1
(9) Giống như thời Trung cổ ở bên Âu Châu, các nước trong Âu Châu phải dùng tiếng La Tinh để mà viết. Nhưng khi mỗi nước đã có độc lập rồi, thì họ có chữ viết riêng của họ, không còn dùng tiếng La Tinh nữa. Ví dụ nước Đức có chữ viết riêng, nước Pháp có chữ viết riêng. Chả nói chi xa, cũng thời đó, người Triều Tiên và Nhật Bản, mặc dầu cũng bị ảnh hưởng Trung quốc, họ cũng tìm cách đơn giản xuống còn 48 chữ cái để viết thành ngôn ngữ riêng của họ.
(10) Phạm Duy, "Tình Ca", "Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời,..."
(11) Christophe Borri, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Campagnie de Jésus au Royaume de Cochinchine, traduite de l’Italien, Lille, 1631, tr.69-74
(12) Gs Trần Văn Toàn, CHỮ QUỐC-NGỮ VÀ CHỮ NÔM TỰ-VỊ TABERD VÀ DI-SẢN VĂN-HÓA VIỆT-NAM, trang web Dũng Lạc Cao Tường :
http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=57&ia=361
(13) Chỉ trừ có một người Công Giáo nổi tiếng thời đó, đã đi du học Tây Phương về và khi đệ trình cải tổ từ trên xuống dưới trong nước về mọi lãnh vực, thì ông lại đề nghị dùng chữ ... Hán là hệ thống chính để viết tiếng Việt. Đó là lý do tại sao ta thấy rõ ràng ông theo gốc chữ Hán để viết những chữ “Tạo Vật” để chỉ Đấng Tạo Hoá trong bài điều trần mà Lm Huỳnh Trụ đẫ dẫn chứng trong bài viết, trg 41.
(14) Lm Thanh Lãng, "Biểu nhất lãm văn học cận đại”, Sài Gòn, 1958, tr.18-48.
(15) GS-TS Phạm Văn Hường, "Đi tìm nguồn gốc chữ quốc ngữ " trong website Người Lao Động:
http://www.nld.com.vn/tintuc/the-gioi/ho-so-tu-lieu/176647.asp
(16) Nguyễn Khắc Xuyên, "TÌM HIỂU ĐỊA VỊ CHỮ NÔM TRONG BUỔI TIẾP XÚC ĐẦU TIÊN GIỮA ÂU VÀ Á THẾ KỶ 17" trích trong trang web Dũng Lạc Cao Tường.
http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=85&ia=503
(17) Hoàng Xuân Hãn, Girolamo Majorica, ses oeuvres en langue vietnamienne conservées à la bibliothèque nationale de Paris, đăng trong “Archivum Historicum Societatis Iesu”, vol XXII, 1953, tr.203-214.
(18) Theo Lm. Felipe Gomez, sj "LỊCH SỬ TÓM TẮT GIÁO HOÀNG HỌC VIỆN PIO X ĐÀ LẠT"
 http://www.dunglac.net/bai2/Felipe_gomez-piox.htm
(19) Xin xem thêm văn kiện đã trích, chương II parapraph 2,16 ; chương III parapraph 24; chương IV parapraph 36; chương V parapraph 41; chương VIII parapraph 53,56.
(20) Xin xem văn kiện đã trích, paraghaphs: 9,10,12,24,34,36,37,39, note 42.3, 42.4, pargraph 41.
(21) Xin xem trang Giáo Lý của Lm Việt Hưng.
http://www.giaoly.org/vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=168
(22) Xin xem trang Giáo Lý của Lm Việt Hưng.
http://www.conggiaovietnam.net/tulieugiaohoi/SOLLICITUDO.htm
(23) Xin xem trang Giáo Lý của Lm Việt Hưng.
http://www.giaoly.org/vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=552
(24) Xem thêm Văn kiện đã trích, paraghaph 23,35.
(25) Xin xem trang Hợp Tuyển Thần Học.
http://www.htth.org/nhom_chu_truong.html
(26) Bài viết được đăng trong tam cá nguyệt san Recherches de Science Religieuse, 1993, tập 81, số 4 (Oct.-Déc.), tt. 613-641.
http://www.htth.org/so36_37/lnd_3637.htm
(27) Theo sử liệu của Đài Phát Thanh Vatican.
http://www.radiovaticana.org/vie/prnostri.asp
(28) Lm Felipe Gómez Ngô Minh, SJ "Đức Maria, Mẹ Chúa Kitô,Trong Giáo Hội", Hợp Tuyển Thần Học số 10, năm thứ tư 1994,
http://www.htth.org/so10/maria.html
(29) Xin xem trang Giáo Lý của Lm Việt Hưng http://www.giaoly.org/vn/index.php
(30) Xin xem trang Giáo Sĩ Việt Nam
http://www.conggiaovietnam.net/LoiChuChan/baihoclichsuvephattriendatnuoc.htm
(31) Xin xem trang Giáo Lý của Lm Việt Hưng
www.buddhismtoday.com/viet/phatphap/dp-pp23.htm
(35) Xin xem Phanxicô, "Về hai chữ tạo vật" bài viết đệ trình Ủy Ban Thánh Nhạc Thành Phố Hồ Chí Minh
http://www.nxbkimdong.com.vn/TacGia/XuanDieu.htm
(37) Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ - Con người và di-thảo , Nhà XB TP Hồ Chí Minh, 1988, tr 256.
(38) Dương Quảng Hàm,"CHỮ NÔM và CÔNG VIỆC KHẢO CỨU CỔ VĂN VIỆT NAM" Giáo sư trường Trung học Bảo hộ Hà nội, (Extrait du Bulletin général de l’Instruction publique, No 7, Mars 1942 – pp. 227-286: Le Chữ Nôm ou écriture démotique, son importance dans l’étude de l’ancienne litérature annamite.) Lê Văn Ðặng chuyển dịch.
http://www.viethoc.org/eholdings/ChuNom_DQHam_Rev-02.pdf
(39) Trương Chính, Việc biên soạn cuốn tự điển mới, trong "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt", tập II, Viện Ngôn Ngữ Học, nXB Khoa Học Xã Hội 1981, tr 280.
(40) Phanxicô, bài đã trích.
(41) Phanxicô, bài đã trích.
(42) Trong trang web của "Tâm Tư Sao Biển" đã trích.
(43) Lm Stephanô Huỳnh Trụ, bài đã trích, trg 41.
(44) Phanxicô, "Cát Biển Sao Trời", Phát hành: Mùa Vọng, tháng 12-2005.
http://www.dinh.dk/diendan/viewtopic.php?t=736
(45) Xin xem trang Giáo Sĩ Việt Nam
http://www.conggiaovietnam.net/tacgia/LmCaoPhuongKy/daylaminhta....htm
(46) Cardinal Joseph Ratzinger, The Spirit of the Liturgy, translated by John Saward. (San Francissco: Ignatius Press, 2000). tr 207-216.
(47) Xin xem trang của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam




4 Comments

hongdwc wrote on Aug 29, '09
Bác Phanxicô Diễn đúng rồi, bàn gì nữa. Thanh niên ngày nay thậm chí còn không biết "tạo vật" đồng nghĩa với "tạo hóa" hay "hóa công", mà chỉ hiểu là một vật được tạo ra. Thanh niên chỉ biết rằng "tạo vật" là "vật thụ tạo", là cái được tạo ra chứ không phải là cái tạo ra cái khác.
Lục lại ký ức, thì tôi nhớ hồi đi học có được dạy rằng "tạo vật" là "con tạo" (vật là một cái, một đấng nào đó, tạo vật là cái làm ra việc sáng tạo.) Nhưng lâu lắm rồi tôi không đọc được ai dùng chữ đó với nghĩa cũ như thế nữa.
Tiếng Việt là một sinh ngữ. Nó biến hóa thay đổi theo thời gian, (sinh ngữ nào cũng thế). Nghĩa mới của "tạo vật" là như thế thì cứ thế mà dùng. Ngôn ngữ là cái Thượng Đế ban cho con người và Ngài cho con người tự do, thế thì tại sao lại cứ tự bó buộc mình vào một thuộc tính vốn không có của ngôn ngữ. Đấy mới là báng bổ Thiên Chúa.

hoangnguyen82 wrote on Aug 29, '09
Hoàn toàn đồng ý với bạn. Hai bài viết của cha Huỳnh Trụ và nhạc sĩ Phanxicô là hai tài liệu mà tôi xem là rất có giá và đáng quý, vì nó giúp tôi hiểu rất nhiều điều lý thú trong tiếng Việt. Với tôi, cha Huỳnh Trụ đã cho tôi hiểu nguồn gốc và cách dùng của chữ “tạo vật” trong tiếng Hán, còn nhạc sĩ Phanxicô lại cho tôi hiểu rằng: một số từ Hán-Việt đã không còn mang ý nghĩa nguyên thủy khi được người Việt dùng nữa. Tôi chấp nhận cả chữ tạo vật, thụ tạo, thọ tạo, thụ sinh, thọ sinh, vật tạo, hay tạo thành trong tiếng Việt đều mang nghĩa là vật được tạo thành.

royalaxn wrote on Apr 19, '10
cảm ơn bài tổng hợp của cậu. Mình vô tình đọc đc bài của Lm Huỳnh Trụ cách đây vài ngày, nhưng đọc chưa hết. Hôm nay, đọc lại đc, và còn đọc đc bài của ns Phanxico với nhiều công sức nghiên cứu, quả là may mắn.

p/s: Mình có quen 1 linh mục bên dòng Tên ở đường Lý Chính Thắng, linh mục này cũng nằm trong nhóm viết cuốn thuật ngữ Công giáo bằng tiếng Việt. Ngài đang làm công việc giảng dạy về "cấu trúc ngôn ngữ học". Một môn dạy rất hay, nghe nói đâu do chính ngài nghiên cứu và phát triển bộ môn này. Mình đang dự định đi học môn này. Hôm nào rảnh, mình sẽ diễn đạt lại môn học này với cậu.

hoangnguyen82 wrote on Apr 19, '10
Thích thật! Giá như tôi ở Việt Nam lúc này, chắc chắn tôi sẽ không bỏ qua khóa học đó. Dịch thuật đòi hỏi kiến thức sâu và rộng về ngôn ngữ học và các ngôn ngữ. Tôi quan tâm nhiều đến ngôn ngữ vì tôi là một dịch giả.

No comments:

Post a Comment

Followers

Blog Archive