http://newvietart.com/index698.html
| <!-- TABLE PRINCIPALE |
HỌC GIẢ, HỌC THIỆT
"Học giả" hiện đang là hai chữ hấp dẫn dữ dội một số người. Nhiều kẻ đèn sách cả bao nhiêu năm trời mới đậu được bằng tiến sĩ, thạc sĩ, nhưng mấy chữ tiến sĩ, thạc sĩ lại có vẻ không ghê gớm bằng hai chữ học giả, vì hai chữ này có vẻ như đưa người được phong tặng lên tới tột đỉnh, đến tận bến bờ sự học.
Các sách vở, tự điển, kể cả các tự điển bách khoa thường định nghĩa vắn tắt “học giả” là một người uyên bác, một tay cự phách trong một lãnh vực nào của kiến thức con người. Định nghĩa tuy sơ sài như vậy nhưng ở các nước người, nhất là ở Tây phương, kẻ viết thấy rằng người ta còn kèm theo định nghĩa sơ sài đó một số những điều kiện khá hóc búa để được xứng đáng với hai chữ học giả đúng với nghĩa của chúng. Đó là muốn được đời phong là học giả, phải là một người hiểu biết một cách thật bao quát, sâu rộng một lãnh vực nào đó trong số những hiểu biết của con người, nhưng rồi những HIỂU BIẾT SÂU RỘNG ĐÓ LẠI CÒN PHẢI ĐƯỢC THỬ THÁCH CỦA THỜI GIAN ĐỂ CHÂN GIÁ TRỊ CỦA CHÚNG ĐƯỢC CÔNG NHẬN và sau chót điều kiện thực khó nữa là NHỮNG HIỂU BIẾT SÂU RỘNG ĐÓ, SAU KHI ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ CÓ CHÂN GIÁ TRỊ, LẠI CÒN PHẢI CÓ ÍCH LỢI CHO CỘNG ĐỒNG NHÂN LOẠI NỮA THÌ MỚI LÀ TOÀN THIỆN, TOÀN MỸ. Với những điều kiện như vậy, làm học giả đâu có dễ phải không, thưa quý vị! Và cũng vì những điều kiện nói trên, số người được tự điển bách khoa gọi là học giả không thấy có nhiều; trong cả một bộ Britannica loại 30 cuốn tất cả trên dưới 2000 người cho toàn thế giới.
Trong khi đó, ở nước ta, hai chữ học giả hiện đang có khuynh hướng bị lạm phát, bởi vì ta không áp dụng đúng các tiêu chuẩn như đã kể trên. Ở nước này, ngay trong thành phố chúng ta, viết vài cuốn sách nói lung tung về đủ mọi chuyện trên trời dưới đất, viết ít bài khảo cứu đào bới, chiên lại của các nhà nghiên cứu thời thực dân Pháp còn ở đây, cũng đã được phong, hoặc tự phong là học giả; xuất bản được trần xì có một cuốn sách nghiên cứu, tự mình bỏ tiền ra in lấy, chưa mấy ai biết mặt mũi sách ra mô, sách có thật giá trị hay không, cũng đã có thể tự nhủ: “hừ, hừ, mình sắp vinh thăng học giả”.
Chính vì dễ làm học giả như vậy, nên quý vị học giả và chuẩn học giả ở nước ta mới tự cho mình cái quyền muốn viết ra sao thì viết, ai mà biết là viết sai mà nói, thì các ngài giận không thèm nhìn mặt, ít ra cũng là một năm.
Đây chính là cái chỗ không thể không nói được, vì đã mang danh vị học giả, viết ra cái gì là để lại cho đời, cho con cháu, cho đất nước, thì phải viết thật đúng, phải tra cứu thật chính xác chứ đâu có lý nào lại muốn viết cẩu thả ra sao thì viết, sau đó cũng chẳng bao giờ thèm đính chính.
Kẻ viết bao giờ cũng quý mến, kính phục những ai lúc này vẫn cặm cụi viết lách, nhưng cũng xin kể ra ba chuyện, hai chuyện cách đây ít chục năm, và một chuyện mới đây: hồi trước ngày giải phóng, một vị học giả có cho xuất bản vài cuốn đặc san trong đó có một bài ngài nhắc tới Goebbels, Tổng Trưởng Tuyên Truyền của Đức Quốc Xã, mà ngài phong cho là THỐNG CHẾ, trong lúc thực tế Goebbels chưa hề đi lính ngày nào vì có tật ở chân; hơn nữa Goebbels là người ghét nhà binh nhất vì ông ta luôn cành cựa với Goering, Thống Chế Không Quân Đức Quốc Xã, vì cả hai ông này đều tranh nhau đi vơ vét các tranh tượng nghệ thuật trong lúc có quyền bính trong tay. Kẻ viết đọc thấy vậy, vội lễ phép thưa với ngài nội vụ, liền bị ngài tức khắc phản ứng bằng cách hơn một năm không thèm nhìn mặt. Ít lâu sau lại có một vị chuẩn học giả khác cho ra đời một cuốn sách khảo cứu trong đó ngài BIẾN TÊN MỘT TỜ BÁO THÀNH MỘT NHÀ TRUNG HOA HỌC; tờ báo mà biến thành người, liệu có ghê không? Đó là chuyện đã cũ, gần đây một vị khác có viết một bài khảo cứu trong đó vị này viết chữ Việt Nam xong rồi liền mở ngoặc đơn viết câu chữ tiếng Anh vào đó khốn nỗi câu tiếng Anh đó hoàn toàn sai, chưa hề có mặt trong một từ điển Anh ngữ nào.
Nếu có ai kêu ca, quý vị đó sẽ cho là kẻ đó lắm chuyện, đó chỉ là những lỗi “typo” do những ấn công kém học làm ra. Nói như thế là quá dễ, khi viết một bài nghiên cứu để cho người khác dùng làm tài liệu học hỏi, có khi để đi thi nữa, thì phải viết cho thật nghiêm chỉnh chứ, không thể viết sai, không thể để lỗi. Đâu có phải chỉ cho người trong nước đọc, nước ta đang mở cửa, đang giao thiệp với nhiều nước tân tiến khác trên thế giới, những nhà nghiên cứu của các nước đó sẽ nghĩ sao khi thấy học giả của ta viết lách cẩu thả như vậy?
Tóm lại, viết bài này, kẻ viết không nêu ra tên tuổi hoặc trường hợp cụ thể nào vì vẫn kính phục quý vị, mà chỉ mong là từ nay quý vị nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, quay bút độ bốn, năm, sáu, bẩy lần trước khi... nhả ngọc.
Để kết thúc xin đơn cử một trường hợp một người thực xứng danh học giả thứ thiệt: đó là cụ Ứng-Hòe Nguyễn-Văn-Tố người đã viết nhiều bài nghiên cứu trong Tập Kỷ Yếu của trường Viễn-Đông Bác-Cổ. Cụ Tố mà đã viết chữ nào là chắc chữ ấy, cụ còn ghi cả trang bao nhiêu, tờ bao nhiêu, dòng bao nhiêu nữa. Rồi những bài cụ viết đều đã đắc dụng, còn đắc dụng, và còn dùng được mãi mãi, vì cụ chọn toàn các đề tài có lợi ích cho nền học vấn của tất cả mọi người. Đây là nhà học giả thứ thiệt mà kẻ viết thực lòng kính phục. Ước mong rằng đất nước ta sẽ càng ngày càng có thêm MỘT SỐ HỌC GIẢ NHƯ CỤ TỐ.
© Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn ngày 25.08.2011.
. Đăng Tải Lại Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com
--> BÀI HỌC LA NGỮ SỐ 7 Nov 8, '08
TÓM TẮT ĐỘNG TỪ TRONG LA NGỮ (LA ĐIỂN NGỮ ĐỘNG TỪ TOÁT YẾU)
Các động từ có quy tắc(verba regularia-hữu quy tắc động từ) trong tiếng La Tinh(Langua Latina-La điển ngữ) có bốn cách chia(coniugatio-động từ biến hóa).
- Đệ nhất biến hóa động từ(coniugatio prima) Amo, amare(v): yêu, thương, thích
- Đệ nhị biến hóa động từ(coniugatio secunda) Moneo, monere(v): khuyên bảo, cảnh cáo
- Đệ tam biến hóa động từ(coniugatio tertia) Lego, legere(v): đọc
- Đệ tứ biến hóa động từ(coniugatio quarta) Venio, venire(v): đến
Có ba ngôi thứ(persona-nhân xưng) ở số ít(singularis-đơn số) và số nhiều(pluralis-phức số).
- Đệ nhất nhân xưng(persona prima) - Đệ nhị nhân xưng(persona secunda) - Đệ tam nhân xưng(persona tertia)
Có ba thức(modus-pháp).
- Thức chỉ định(indicativus-trực tiếp pháp) - Thức mệnh lệnh(imperativus-mệnh lệnh pháp) - Thức giả định(coniunctivus-hư nghĩ pháp)
Động từ chia ở hiện tại(praesens), quá khứ(praeteritum) hoặc vị lai(futurum).
Có sáu thì(tempus) chính trong tiếng La Tinh.
- Hiện tại(tempus praesens) - Quá khứ chưa hoàn thành(praeteritum imperfectum) hay còn gọi là đệ nhất quá khứ, vị hoàn thành quá khứ - Quá khứ hoàn thành(praeteritum perfectum) hay còn gọi là đệ nhị quá khứ, hoàn thành quá khứ. - Quá khứ đã hoàn thành(praeteritum plusquamperfectum) hay còn gọi là đệ tam quá khứ, tiền quá khứ - Tương lai(tempus futurum) hay còn gọi là vị lai - Tương lai hoàn thành(futurum exactum) hay còn gọi là hoàn thành vị lai
Có hai thể(genus).
- Chủ động(activus-năng động) - Bị động(passivus-thụ động)
Hậu tố nhân xưng(cá nhân tự vĩ)
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
-O
|
-MUS
|
Persona secunda
|
-S
|
-TIS
|
Persona tertia
|
-T
|
-NT
|
Hậu tố nhân xưng thụ động(thụ động cá nhân tự vĩ)
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
-OR
|
-MUR
|
Persona secunda
|
-RIS
|
-MINI
|
Persona tertia
|
-TUR
|
-NTUR
|
Nguyên tắc chung khi chia động từ(biến hóa động từ):
- Bỏ hậu tố nguyên mẫu -re khỏi động từ, còn lại căn từ, nghĩa là gốc từ. - Thêm các hậu tố nhân xưng vào căn từ để chia động từ.
CÁCH CHIA THỨ NHẤT-CONIUGATIO PRIMA (ĐỆ NHẤT BIẾN HÓA ĐỘNG TỪ)
Amo, amare
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
Amo
|
Amamus
|
Persona secunda
|
Amas
|
Amatis
|
Persona tertia
|
Amat
|
Amant
|
Thể thụ động:
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
Amor
|
Amamur
|
Persona secunda
|
Amaris
|
Amamini
|
Persona tertia
|
Amatur
|
Amantur
|
Hiện tại thụ động nguyên mẫu: Amari
CÁCH CHIA THỨ HAI-CONIUGATIO SECUNDA (ĐỆ NHỊ BIẾN HÓA ĐỘNG TỪ)
Moneo, monere
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
Moneo
|
Monemus
|
Persona secunda
|
Mones
|
Monetis
|
Persona tertia
|
Monet
|
Monent
|
Thể thụ động:
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
Moneor
|
Monemur
|
Persona secunda
|
Moneris
|
Monemini
|
Persona tertia
|
Monetur
|
Monentur
|
Hiện tại thụ động nguyên mẫu: Moneri
CÁCH CHIA THỨ BA-CONIUGATIO TERTIA (ĐỆ TAM BIẾN HÓA ĐỘNG TỪ)
Lego, legere
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
Lego
|
Legimus
|
Persona secunda
|
Legis
|
Legitis
|
Persona tertia
|
Legit
|
Legunt
|
Lưu ý: chữ “e” trong căn từ lege- sau khi bỏ hậu tố -re là nguyên âm(mẫu âm) ngắn, nên sẽ chuyển thành “i” hoặc “u”.
Thể thụ động:
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
Legor
|
Legimur
|
Persona secunda
|
Legeris
|
Legimini
|
Persona tertia
|
Legitur
|
Leguntur
|
Hiện tại thụ động nguyên mẫu: Legi
Động từ thuộc cách chia thứ ba có “i” ở căn từ.
Capio, capere(v): bắt, giữ
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
Capio
|
Capimus
|
Persona secunda
|
Capis
|
Capitis
|
Persona tertia
|
Capit
|
Capiunt
|
Lưu ý: do nguyên âm “e” ở căn từ sau khi bỏ hậu tố nguyên mẫu -re là nguyên âm ngắn nên sẽ biến thành “i” khi chia.
Thể thụ động:
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
Capior
|
Capimur
|
Persona secunda
|
Caperis
|
Capimini
|
Persona tertia
|
Capitur
|
Capiuntur
|
Hiện tại thụ động nguyên mẫu: Capi
Lưu ý: ở ngôi thứ hai số ít thể thụ động của động từ thuộc cách chia thứ ba là bất quy tắc. “Legeris” thay vì “legiris” “Caperis” thay vì “capiris”.
CÁCH CHIA THỨ TƯ-CONIUGATIO QUARTA (ĐỆ TỨ BIẾN HÓA ĐỘNG TỪ)
Venio, venire
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
Venio
|
Venimus
|
Persona secunda
|
Venis
|
Venitis
|
Persona tertia
|
Venit
|
Veniunt
|
Chú ý ta thấy các động từ thuộc cách chia thứ tư giống hệt các động từ thuộc cách chia thứ ba có “i” ở căn từ. Nhưng sự khác biệt là các động từ thuộc cách chia thứ tư có nguyên âm “i” dài ở căn từ, trong khi chữ “i” của các động từ thuộc cách chia thứ ba lại do nguyên âm “e” ngắn biến đổi thành.
Thể thụ động:
Persona
|
Singularis
|
Pluralis
|
Persona prima
|
Venior
|
Venimur
|
Persona secunda
|
Veniris
|
Venimini
|
Persona tertia
|
Venitur
|
Veniuntur
|
Hiện tại thụ động nguyên mẫu: Veniri
Phần tóm tắt này nhằm bổ xung thêm cho các bài học về động từ trong tiếng La Tinh trước đây.
Vậy là chúng ta đã xong phần căn bản của động từ trong tiếng La Tinh.
Nhắc thêm: đây mới chỉ là động từ chia ở hiện tại, thức chỉ định mà thôi.
Chúc các bạn học vui.
Worcester, ngày 7 tháng 11 năm 2008
Nguyễn Hoàng Super alas aquilarum BÀI HỌC LA NGỮ SỐ 6 Nov 8, '08
Động từ thuộc nhóm chia thứ tư trong La Ngữ còn được gọi là động từ thuộc cách chia “i”, vì chữ “i” xuất hiện trong mọi ngôi thứ khi chia các động từ thuộc loại này.
Ta hãy quan sát động từ sau:
Audio, audire, audivi, auditus(v): nghe
- Audio: ngôi thứ nhất số ít ở hiện tại. - Audire: nguyên mẫu hiện tại
Bỏ hậu tố -re khỏi nguyên mẫu, ta có audi- rồi thêm các hậu tố nhân xưng để chia động từ này.
Hãy chia các động từ sau:
Relinquo, -quere(v): rời bỏ, thả, bỏ lại
Discedo, -dere(v): rút lui
Trado, -dere(v): đầu hàng, từ bỏ
Rego, -gere(v): cai trị, trị vì
Eduo, -ucere(v): dẫn ra
Reduo, -ucere(v): dẫn lại
Venio, -nire(v): đến
Pervenio, -nire(v): đến, tới
Accido, -dere(v): xảy ra
Reperio, -rire(v): khám phá ra, tìm thấy
Conspicio, -cere(v): quan sát
Prohibeo, -bere(v): ngăn cản, cấm đoán
Cupio, -pere(v): khao khát, ước muốn
Impedio, -dire(v): ngăn chặn, cản trở
Clamo, -mare(v): la hét
Cognosco, -cere(v): học, lĩnh hội, nhận ra, biết
Iacio, -cere(v): ném
Simulo, -lare(v): giả vờ
Mệnh lệnh thức(imperativus) của động từ thuộc cách chia thứ tư cũng theo quy tắc như các động từ thuộc ba cách chia còn lại.
Ở số ít ta bỏ hậu tố -re khỏi nguyên mẫu:
Audire à Audi! Bạn hãy nghe!
Ở số nhiều ta thêm -te: Audite! Các bạn hãy nghe!
Bốn động từ sau có mệnh lệnh thức bất quy tắc trong La Ngữ.
- Duco, ducere(v): dẫn, dắt
Đơn số: Duc! Phức số: Ducite!
- Dico, dicere(v): nói
Đơn số: Dic! Phức số: Dicite!
- Facio, facere(v): làm
Đơn số: Fac! Phức số: Facite!
- Fero, ferre(v): mang(đây là động từ bất quy tắc đã học ở bài trước)
Đơn số: Fer! Phức số: Ferte!
Nếu ta để ý sẽ thấy ba động từ duco, dico và facio chỉ bất quy tắc ở đơn số mệnh lệnh thức, nghĩa là thức mệnh lệnh số ít, trong khi ở phức số, tức là số nhiều thì giống với mệnh lệnh thức của các động từ thuộc cách chia thứ ba. Đó là vì cả ba động từ này đều thuộc cách chia thứ ba.
Nếu các bạn học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha hay bất cứ một ngôn ngữ nào thuộc hệ Rô-manh, các bạn sẽ không gặp dạng động từ này nữa; vì chúng đã chuyển sang các dạng động từ bình thường trong các ngôn ngữ đó.
Chỉ còn tiếng La Tinh vẫn giữ các động từ thụ động.
Động từ thụ động hay còn gọi là thụ động từ là những động từ không có hình thức chủ động, nghĩa là luôn luôn được chia ở dạng bị động nhưng lại mang nghĩa chủ động.
Hãy quan sát một động từ sau:
Hortor, hortari, hortatus sum(v): thúc giục, khuyến khích
Hortor: ngôi thứ nhất số ít ở dạng bị động của thì hiện tại. Hortari: nguyên mẫu thụ động hiện tại. Hortatus sum: ngôi thứ nhất số ít dạng bị động của thì hoàn thành.
Động từ thụ động chỉ có ba phần chính vì động từ loại này không có hình thức chủ động.
Bỏ hậu tố -ri khỏi nguyên mẫu thụ động, ta có căn từ horta-, thêm các hậu tố nhân xưng thụ động vào căn từ này để chia động từ dạng này.
Động từ hortor thuộc cách chia thứ nhất.
Như vậy ta đã biết thêm các hậu tố nhân xưng thụ động hiện tại là -or, -ris, -tur, -mur, -mini, và -ntur. Thể thụ động(passivus) trong tiếng La Tinh cũng được thành lập dựa trên các hậu tố này.
Từ đó ta có thể chia các động từ thuộc cách chia thứ nhất ở thể thụ động thì hiện tại.
Lấy động từ Amo, amare làm mẫu và chia động từ này ở thể thụ động hiện tại.
Amor: tôi được yêu. Puer amatur: cậu bé được yêu. Amari: nguyên mẫu thụ động hiện tại của động từ Amo.
Bốn cách chia động từ mà ta đã học đều hình thành thể thụ động hiện tại tương tự như vậy.
Quy tắc chung: căn động từ + hậu tố nhân xưng thụ động hiện tại
Các hậu tố nhân xưng thụ động này áp dụng cho các thì hiện tại, tương lai và chưa hoàn thành ở thể thụ động.
Mệnh lệnh thức của thụ động từ.
Ở số ít ta lấy nguyên mẫu chủ động, hortor có nguyên mẫu chủ động là hortare.
Hortare! Bạn hãy khuyến khích!
Ở số nhiều ta lấy hình thức ngôi thứ hai số nhiều, tức là phức số đệ nhị nhân xưng.
Hortamini! Các bạn hãy khuyến khích!
Lưu ý: thụ động từ cũng giống như các động từ có quy tắc khác khi chia ở thể thụ động. Tuy nhiên, thụ động từ không bao giờ có thể chủ động nhưng lại mang nghĩa chủ động.
Không nên lầm lẫn ở chỗ này: HORTOR LÀ ĐỘNG TỪ THỤ ĐỘNG HAY CÒN GỌI LÀ THỤ ĐỘNG TỪ. AMOR LÀ ĐỘNG TỪ AMO ĐƯỢC CHIA Ở THỂ THỤ ĐỘNG. CẦN PHÂN BIỆT KẺO LẪN LỘN.
Hortor, hortari là động từ thụ động thuộc cách chia thứ nhất.
Hãy xem thêm một số động từ thụ động khác.
Vereor, vereri, veritus sum(v): sợ hãi(động từ thụ động thuộc cách chia thứ hai).
Sequor, sequi, secutus sum(v): đi theo(động từ thụ động thuộc cách chia thứ ba).
Morior, mori, mortuus sum(v): chết(động từ thụ động thuộc cách chia thứ ba có “i” ở căn từ).
Experior, experiri, expertus sum(v): thử, kiểm tra(động từ thụ động thuộc cách chia thứ tư).
Hãy thử chia bốn động từ thụ động trên để luyện tập. Cách chia cũng giống như động từ hortor, và nguyên tắc lấy gốc từ như đã học trong các bài trước về các cách chia động từ. Chỉ có sự khác biệt là sử dụng các hậu tố nhân xưng thụ động thay vì chủ động.
Sau khi chia xong. Hãy đối chiếu lại kết quả của các động từ chia ở thể thụ động trong bài sau. Sẽ gặp một vài dị biệt nho nhỏ. Tôi không nói ra ở đây vì các bạn sẽ cảm thấy rắc rối thêm và để các bạn tự phát hiện ra sẽ nhớ lâu hơn và hiểu hơn.
Tóm lại: các động từ thụ động luôn chia ở thể thụ động nhưng lại mang nghĩa chủ động. Qua việc học các động từ thụ động, ta biết luôn thể thụ động của các động từ có quy tắc trong bốn cách chia động từ của La Ngữ.
Hẳn các bạn biết câu này:
“Lạy Chúa, xin thương xót chúng con!”
Tiếng La Tinh là:
“Domine, miserere nobis!” (Lord, have mercy on us! Seigneur, prends pitié de nous!)
Bây giờ thì các bạn đã biết động từ “thương xót” trong La Ngữ chính là động từ thụ động, hay còn gọi là thụ động từ.
Misereor, misereri, miseritus sum(v): thương xót.
Và dĩ nhiên ta có thể nói ngay đây là động từ thuộc cách chia thứ hai.
Chúc các bạn học vui.
Nguyễn Hoàng Super alas aquilarum
Nguyễn Hoàng Super alas aquilarum BÀI HỌC LA NGỮ SỐ 6 Nov 8, '08
ĐỘNG TỪ THUỘC CÁCH CHIA THỨ TƯ-CONIUGATIO QUARTA (ĐỆ TỨ BIẾN HÓA ĐỘNG TỪ)
Động từ thuộc nhóm chia thứ tư trong La Ngữ còn được gọi là động từ thuộc cách chia “i”, vì chữ “i” xuất hiện trong mọi ngôi thứ khi chia các động từ thuộc loại này.
Ta hãy quan sát động từ sau:
Audio, audire, audivi, auditus(v): nghe
- Audio: ngôi thứ nhất số ít ở hiện tại. - Audire: nguyên mẫu hiện tại
Bỏ hậu tố -re khỏi nguyên mẫu, ta có audi- rồi thêm các hậu tố nhân xưng để chia động từ này.
Audio, audire(v): nghe
NHÂN XƯNG
|
ĐƠN SỐ
|
PHỨC SỐ
| ||
Đệ nhất nhân xưng
|
Audio
|
-o
|
Audimus
|
-mus
|
Đệ nhị nhân xưng
|
Audis
|
-s
|
Auditis
|
-tis
|
Đệ tam nhân xưng
|
Audit
|
-t
|
Audiunt
|
-nt
|
Hãy chia các động từ sau:
Relinquo, -quere(v): rời bỏ, thả, bỏ lại
Discedo, -dere(v): rút lui
Trado, -dere(v): đầu hàng, từ bỏ
Rego, -gere(v): cai trị, trị vì
Eduo, -ucere(v): dẫn ra
Reduo, -ucere(v): dẫn lại
Venio, -nire(v): đến
Pervenio, -nire(v): đến, tới
Accido, -dere(v): xảy ra
Reperio, -rire(v): khám phá ra, tìm thấy
Conspicio, -cere(v): quan sát
Prohibeo, -bere(v): ngăn cản, cấm đoán
Cupio, -pere(v): khao khát, ước muốn
Impedio, -dire(v): ngăn chặn, cản trở
Clamo, -mare(v): la hét
Cognosco, -cere(v): học, lĩnh hội, nhận ra, biết
Iacio, -cere(v): ném
Simulo, -lare(v): giả vờ
Mệnh lệnh thức(imperativus) của động từ thuộc cách chia thứ tư cũng theo quy tắc như các động từ thuộc ba cách chia còn lại.
Ở số ít ta bỏ hậu tố -re khỏi nguyên mẫu:
Audire à Audi! Bạn hãy nghe!
Ở số nhiều ta thêm -te: Audite! Các bạn hãy nghe!
Bốn động từ sau có mệnh lệnh thức bất quy tắc trong La Ngữ.
- Duco, ducere(v): dẫn, dắt
Đơn số: Duc! Phức số: Ducite!
- Dico, dicere(v): nói
Đơn số: Dic! Phức số: Dicite!
- Facio, facere(v): làm
Đơn số: Fac! Phức số: Facite!
- Fero, ferre(v): mang(đây là động từ bất quy tắc đã học ở bài trước)
Đơn số: Fer! Phức số: Ferte!
Nếu ta để ý sẽ thấy ba động từ duco, dico và facio chỉ bất quy tắc ở đơn số mệnh lệnh thức, nghĩa là thức mệnh lệnh số ít, trong khi ở phức số, tức là số nhiều thì giống với mệnh lệnh thức của các động từ thuộc cách chia thứ ba. Đó là vì cả ba động từ này đều thuộc cách chia thứ ba.
ĐỘNG TỪ THỤ ĐỘNG TRONG LA NGỮ (VERBUM DEPONENS IN LINGUA LATINA- THỤ ĐỘNG TỪ)
Nếu các bạn học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha hay bất cứ một ngôn ngữ nào thuộc hệ Rô-manh, các bạn sẽ không gặp dạng động từ này nữa; vì chúng đã chuyển sang các dạng động từ bình thường trong các ngôn ngữ đó.
Chỉ còn tiếng La Tinh vẫn giữ các động từ thụ động.
Động từ thụ động hay còn gọi là thụ động từ là những động từ không có hình thức chủ động, nghĩa là luôn luôn được chia ở dạng bị động nhưng lại mang nghĩa chủ động.
Hãy quan sát một động từ sau:
Hortor, hortari, hortatus sum(v): thúc giục, khuyến khích
Hortor: ngôi thứ nhất số ít ở dạng bị động của thì hiện tại. Hortari: nguyên mẫu thụ động hiện tại. Hortatus sum: ngôi thứ nhất số ít dạng bị động của thì hoàn thành.
Động từ thụ động chỉ có ba phần chính vì động từ loại này không có hình thức chủ động.
Bỏ hậu tố -ri khỏi nguyên mẫu thụ động, ta có căn từ horta-, thêm các hậu tố nhân xưng thụ động vào căn từ này để chia động từ dạng này.
Động từ hortor thuộc cách chia thứ nhất.
Hortor, hortari(v): thúc giục, khuyến khích
NHÂN XƯNG
|
ĐƠN SỐ
|
PHỨC SỐ
| ||
Đệ nhất nhân xưng
|
Hortor
|
-or
|
Hortamur
|
-mur
|
Đệ nhị nhân xưng
|
Hortaris
|
-ris
|
Hortamini
|
-mini
|
Đệ tam nhân xưng
|
Hortatur
|
-tur
|
Hortantur
|
-ntur
|
Như vậy ta đã biết thêm các hậu tố nhân xưng thụ động hiện tại là -or, -ris, -tur, -mur, -mini, và -ntur. Thể thụ động(passivus) trong tiếng La Tinh cũng được thành lập dựa trên các hậu tố này.
Từ đó ta có thể chia các động từ thuộc cách chia thứ nhất ở thể thụ động thì hiện tại.
Lấy động từ Amo, amare làm mẫu và chia động từ này ở thể thụ động hiện tại.
Amo, amare(v): yêu, thương, thích
NHÂN XƯNG
|
ĐƠN SỐ
|
PHỨC SỐ
| ||
Đệ nhất nhân xưng
|
Amor
|
-or
|
Amamur
|
-mur
|
Đệ nhị nhân xưng
|
Amaris
|
-ris
|
Amamini
|
-mini
|
Đệ tam nhân xưng
|
Amatur
|
-tur
|
Amantur
|
-ntur
|
Amor: tôi được yêu. Puer amatur: cậu bé được yêu. Amari: nguyên mẫu thụ động hiện tại của động từ Amo.
Bốn cách chia động từ mà ta đã học đều hình thành thể thụ động hiện tại tương tự như vậy.
Quy tắc chung: căn động từ + hậu tố nhân xưng thụ động hiện tại
Các hậu tố nhân xưng thụ động này áp dụng cho các thì hiện tại, tương lai và chưa hoàn thành ở thể thụ động.
Mệnh lệnh thức của thụ động từ.
Ở số ít ta lấy nguyên mẫu chủ động, hortor có nguyên mẫu chủ động là hortare.
Hortare! Bạn hãy khuyến khích!
Ở số nhiều ta lấy hình thức ngôi thứ hai số nhiều, tức là phức số đệ nhị nhân xưng.
Hortamini! Các bạn hãy khuyến khích!
Lưu ý: thụ động từ cũng giống như các động từ có quy tắc khác khi chia ở thể thụ động. Tuy nhiên, thụ động từ không bao giờ có thể chủ động nhưng lại mang nghĩa chủ động.
Không nên lầm lẫn ở chỗ này: HORTOR LÀ ĐỘNG TỪ THỤ ĐỘNG HAY CÒN GỌI LÀ THỤ ĐỘNG TỪ. AMOR LÀ ĐỘNG TỪ AMO ĐƯỢC CHIA Ở THỂ THỤ ĐỘNG. CẦN PHÂN BIỆT KẺO LẪN LỘN.
Hortor, hortari là động từ thụ động thuộc cách chia thứ nhất.
Hãy xem thêm một số động từ thụ động khác.
Vereor, vereri, veritus sum(v): sợ hãi(động từ thụ động thuộc cách chia thứ hai).
Sequor, sequi, secutus sum(v): đi theo(động từ thụ động thuộc cách chia thứ ba).
Morior, mori, mortuus sum(v): chết(động từ thụ động thuộc cách chia thứ ba có “i” ở căn từ).
Experior, experiri, expertus sum(v): thử, kiểm tra(động từ thụ động thuộc cách chia thứ tư).
Hãy thử chia bốn động từ thụ động trên để luyện tập. Cách chia cũng giống như động từ hortor, và nguyên tắc lấy gốc từ như đã học trong các bài trước về các cách chia động từ. Chỉ có sự khác biệt là sử dụng các hậu tố nhân xưng thụ động thay vì chủ động.
Sau khi chia xong. Hãy đối chiếu lại kết quả của các động từ chia ở thể thụ động trong bài sau. Sẽ gặp một vài dị biệt nho nhỏ. Tôi không nói ra ở đây vì các bạn sẽ cảm thấy rắc rối thêm và để các bạn tự phát hiện ra sẽ nhớ lâu hơn và hiểu hơn.
Tóm lại: các động từ thụ động luôn chia ở thể thụ động nhưng lại mang nghĩa chủ động. Qua việc học các động từ thụ động, ta biết luôn thể thụ động của các động từ có quy tắc trong bốn cách chia động từ của La Ngữ.
Hẳn các bạn biết câu này:
“Lạy Chúa, xin thương xót chúng con!”
Tiếng La Tinh là:
“Domine, miserere nobis!” (Lord, have mercy on us! Seigneur, prends pitié de nous!)
Bây giờ thì các bạn đã biết động từ “thương xót” trong La Ngữ chính là động từ thụ động, hay còn gọi là thụ động từ.
Misereor, misereri, miseritus sum(v): thương xót.
Và dĩ nhiên ta có thể nói ngay đây là động từ thuộc cách chia thứ hai.
Chúc các bạn học vui.
Worcester, ngày 7 tháng 11 năm 2008
Nguyễn Hoàng Super alas aquilarum
No comments:
Post a Comment