Sunday, October 21, 2012

Lạc Việt - Luo-Yue Lạc Việt (Luo-Yue = Vietnamese) Luo Yue/Lạc Việt

Tổ tiên ta đã sống bên sông Hoàng Hà, cạnh núi Thái Sơn.

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.


để ghi dấu cái nôi văn hóa đầu tiên của dân Việt.

Thái Sơn là cái nôi văn hóa đầu tiên từ thời cổ đại của dân tộc Việt nhưng đã bị mất trong cuộc giao tranh,

đây là cuộc di tản đầu tiên của dân Việt.

Sau khi Thái Sơn bị Hoàng Đế xâm chiếm, con cháu Thần Nông đã rút về Động Đình Hồ vùng Lĩnh Nam để xây dựng lại căn cứ địa văn hóa,

Gánh vàng đi đổ sông Tương*,
Đêm nằm mơ tưởng đi mò sông Ngô.


Câu ca dao này nói đến cuộc chạy loạn của tộc Việt bị giống Hoa Hạ xâm chiếm.

Đây là cuộc di tản lần thứ hai của dân Việt.

Khi Lữ Gia thất trận, các sắc tộc Bách Việt thuộc nước Nam Việt đã chạy về Phong Châu** ở phương nam hội nhập vào Âu Lạc để xây dựng lại căn cứ địa văn hóa. Đây là cuộc di tản lần thứ ba

Bất động sản ì ạch nên nhiều công ty dùng chính nhà chung cư của mình làm quà biếu sếp nhân dịp Tết (ảnh minh họa)
Địa điểm của núi Thái Sơn (dấu chấm)


Mất bản địa Thái Sơn (tỉnh Sơn Đông, bắc Trung Hoa), Con cháu Thần Nông đã rút quân về Động Đình Hồ để xây dựng căn cứ địa văn hóa mới cho dân Việt. Tướng của Đế Minh là Xi Vưu ở lại giữ Thái Sơn và sau ba năm chiến đấu chống tù trưởng của nòi Hán là Hiên Viên, quân của Xi Vưu tan rã và từ đó, dân Việt mất căn cứ địa văn hóa Thái Sơn. Hiên Viên chiếm được thái Sơn lên ngôi là Hoàng Đế. Ngày nay, dân tộc Việt chỉ còn câu ca dao:

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.


cái nôi văn hóa đầu tiên của dân Việt.

Khi con cháu Thần Nông đã rút về Động Đình Hồ vùng Lĩnh Nam để xây dựng lại căn cứ địa văn hóa lần thứ hai, thì miền Lĩnh Nam được sử tây phương viết như sau:

“Lĩnh Nam là vùng đất phía nam của rặng Ngũ Lĩnh gồm các rặng Đại Dũ /Dữu Lĩnh, Kỵ Điền Lĩnh, Đô Bàng Lĩnh, Manh Chữ Lĩnh và Việt Thành Lĩnh. Vùng nầy gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam và Giang Tây của Trung Hoa hiện đại. Vùng nầy do dân Bách Việt sinh sống và là tổ quốc của dân Nam Việt cổ đại”

http://en.wikipedia.org/wiki/Jiangxi

Truyền thuyết cho rằng rằng dân tộc Việt phát xuất từ Động Đình Hồ miền Lĩnh Nam. Sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp ở thế kỷ thứ 15 (XV) kể Truyện họ Hồng Bàng như sau:

“Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục dung mạo đoan chính, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình."

Địa lý nhà Chu bấy giờ chỉ kéo dài tới sông Hoàng Hà. Đến thời Chiến Quốc, khoảng 500 Trước Công Nguyên, một số dân tộc ở Nam Trung Hoa mới xuất hiện trong sử Trung Quốc. Nổi bật nhất là các nước Sở, nước Ngô và nước Việt.

Photobucket
Cổ sử Trung Hoa dùng chữ “người Kinh” để nói đến dân tộc Sở và một số dân tộc phía nam sông Hoàng Hà.

Đến đời Tần Hán (256-195 TCN), khi các nước Sở, Ngô, Việt bị Tần Thủy Hoàng sát nhập vào Trung Hoa, phía nam nước Sở vẫn còn là chủ quyền của các dân tộc Bách Việt hoàn toàn độc lập và tự chủ. (Xem bản đồ Trung Hoa thời Tần Thủy Hoàng. Như thế cho đến khoảng 195 năm Trước Thiên Chúa, một vùng địa lý to lớn miền Hoa Nam ngày nay là lãnh thổ của các giống dân Việt.
Khi Lưu Bang cướp ngôi nhà Tần ở phương bắc, thì ở phương nam, Triệu Đà thống lĩnh các nước Bách Việt trong đó có cả nước Âu Lạc của tổ tiên chúng ta để lập ra nước Nam Việt.
Đó là cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ nhất.

Nhà Triệu truyền ngôi được bốn đời thì bị nhà Hán xâm chiếm và miền Lĩnh Nam bị bắc thuộc từ đó.

Đến thời kỳ Hai Bà Trưng, 40 năm Sau Công Nguyên, Hai Bà đã chiếm lại toàn vùng Hoa nam. Sử viết:
“Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương.”

Đây là cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ hai.

Truy tầm nguồn gốc Bách Việt của dân tộc Việt cần để ý các vấn đề sau đây:

• Từ thời cổ đại cho đến khi nhà Triệu mất ngôi (111 TCN), dân tộc Việt đã chiếm lĩnh miền Hoa Nam. Một số nước Việt giáp biên giới với nhà Chu thường được đề cập đến trong sử sách Trung Hoa, đó là Sở (Kinh Việt), nước Việt (với Việt Vương Câu Tiễn), Ngô Việt (với Ngô Phù Sai). Khi nhà Tần thống nhất thiên hạ, các nước Việt trên bị sáp nhập vào nhà Tần. Còn các nước Việt khác như Âu Việt, Mân Việt, Thái Việt, Điền Việt, Lạc Việt, Việt Thường và một số nước Việt khác phía nam vẫn còn giữ được nền độc lập.

• Cần nghiên cứu thêm nguồn gốc của chữ "người Kinh". Cổ sử Trung Hoa dùng chữ “người Kinh” để nói đến dân tộc Sở và một số dân tộc phía nam sông Hoàng Hà. Tại sao ngày nay người Việt tự gọi là người Kinh để phân biệt người Việt với người thuộc chủng tộc khác.

• Cần xem khám phá của Stephen Oppenheimer tác giả Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia (Địa Đàng ở Phương Đông: Lục Địa Đông Nam Á Bị Chìm Dưới Đáy Biển) để thấy nền văn minh Hoa Nam trải dài xuống Đông Nam Á và các hải đảo ở Thái Bình Dương. Các dân tộc như Mân Việt, Ngô Việt, Âu Việt gồm các bộ tộc, Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Hẹ, Hải Nam, Đài Loan, Thái, Nam Dương và các thổ dân ở vùng đảo Thái Bình Dương đều có nguồn gốc Bách Việt.

• Do các dân tộc Bách Việt đã sinh sống ở miền Hoa Nam trước khi vùng nầy bị Tần Hán xâm lược, dân Việt phải là chủ nhân ông nền văn hóa thời bấy giờ. Các khám phá khảo cổ về văn minh Hoa Nam trước thời Tần và Hán thuộc phải được coi là chỉ dấu của văn minh Việt, chứ không thể là của Hán tộc. Người Việt cần phải coi đó là di sản của Việt tộc và phải mạnh dạn giành lại chủ quyền văn hóa của mình.


Quốc hồn và quốc túy của một dân tộc là gốc của lịch sử. Một dân tộc mất quốc hồn và quốc túy là một dân tộc sẽ bị lịch sử đào thải. Tìm về cội nguồn chính là quá trình tìm lại hồn sử.

°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°

**Trong 10 thế kỷ thời Bắc Thuộc:
• Đất Lĩnh Nam – miền Nam núi Ngũ Lĩnh – hay “Quảng Châu” và các thị tộc “Bách Việt” sống trên đó đều dần dần bị Hán hóa, bị đồng hóa.

• Nhưng đất “Giao Châu” của ta (như tên gọi sau này) lại làm ngược: Việt hóa những người Hán trôi dạt xuống miền Nam, hoặc được phái xuống cai trị dân Nam.

Từ những mảnh vụn của thời Bắc Thuộc mà gom lại thành một thực thể thống nhất và vững mạnh hơn, đó là công lao của nhà Lý. Đại Việt khi ấy thực sự là cường quốc Đông Nam Á.


**Sông Tương hay là Tương Giang hoặc Tương Thủy là chi nhánh của con sông chính Trường Giang chảy qua tỉnh Hồ Nam.
Sông Tương phân thành hai dòng và cùng đổ vào hồ Động Đình.


**Sông Trường Giang, hay sông Dương Tử Giang (Yangtze Kiang), (Yangtze Kiang), còn có tên gọi là Sông Dương Tử, Yangtse).


Sông Dương Tử (Yangtse River)

----------------------------------------------
Bách Việt (Yue Peoples) & Lạc Việt (Luo-Yue = Vietnamese) Luo Yue/Lạc Việt

Bach Viet (Yue Peoples) Truth-Yue/Bách Việt


Photobucket


 


Bai Yue and their descendents have always lived on rivers and have become masters of irrigation systems for wet paddy rice cultivation. Even today they construct weirs, bamboo aqueducts, Persian waterwheels, which extracts power from the flow to raise water, foot-powered pumps that move a train of bamboo buckets from the flooded side to the non-flooded side.

They were also expert in fighting from shallow draft boats, which would sweep down a river with warriors in feathered headdresses at the gunwales shooting poison arrows at a larger foot or mounted force caught on the bank.

Family life and names were strikingly different from those of the Han. Barlow suggests that the common family name Huang, Chinese 黄, was homophonous in Zhuang with Wang 王 ‘king’ and was less a surname and more a title, cf. as an example the Vietnamese figure Hùng Vương (King of Hùng), the ruler of Vӑn Lang.

Source: The Power of Language Over the Past
Jerold A. Edmondson
Department of Linguistics and TESOL
The University of Texas at Arlington
Arlington, TX 76019-0559 USA
J.Edmondson@sbcglobal.net


Yue Peoples (Luo-Yue = Vietnamese) Luo Yue/Lạc Việt


…. “About 2,000 or more years ago, South of Dương Tử river existed a distinct culture called Bách Việt or 100 Việts (the Chinese even grudgingly admit this fact) of which the modern Vietnamese and the Thais are decendents. (In fact, Thai and Viet languages shared common grammar and basic words, giving the geographical separation, it is even more amazing. Lạc Long Quân and Âu Cơ may have some relation here).

In this Bách Việt culture, the people already invented the rice culture and the bronze civilization. "Mười Hai Con Giáp" (12 animals horoscope) is not a Chinese invention, it's Bách Việt, therefore; it is very Vietnamese in nature. Ask yourseves why the Chinese call one of their five gods Thần Nông (Shennong:‎ god of agriculture) but not Nông Thần (as it is the correct grammatical way to say in Chinese). Yet, Thần Nông sounds perfectly Vietnamese. What's more? Kinh Dịch (I-Ching, Book of Change) is an invention of the Bách Việt too. Again, why don’t they (Chinese) say it Dịch Kinh as it's supposed to in Chinese grammar? Yet, Kinh Dịch sounds perfect in Vietnamese. If you carefully look at the face of any bronze drums you'll see the Quẻ (trigrams and hexagrams) symbols. A student of Kinh Dịch will easily detect that. Phong Thủy (Fong Shui) is a branch of Kinh Dịch.

The Tần dynasty and subsequent dynasties expanded southward and applied a policy of culture genocide. They systematically destroyed all cultures in the countries that they invaded (they are doing it right now at this moment in Tibet), rewrote the history and claimed for themselves any advancements as to be theirs, invented by the Hán race. The Cantonese, Hẹ, Tiều etc... Once, were part of Bách Việts; however, they were assimilated by the Han. Even so, they were able to maintain some form of their original languages; therefore, their Chinese sound funny. 900 years of Chinese domination in Vietnam, the Han failed to do the same thing to the Vietnamese. The Vietnamese were able to resist and prosper as a result. The entire Southeast Asian countries should be grateful for Vietnam, otherwise there wouldn't be Campuchia, Thailand, or Malaysia etc…
Other
1. Vua nào mặt sắt đen sì?

2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa?

3. Tướng nào bẻ gậy phò vua?

4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông?

5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng?

6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang?

7. Kiếm ai trả lại rùa vàng?

8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào?

9. Còn ai đổi mặc hoàng bào?

10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai?

11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài?

12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương?

13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương?

14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha?

15. Anh hùng đại thắng Đống Đa?

16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày?

17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây?

18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình?

19. Vua Bà lừng lẫy uy danh?

20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm cờ?

21. Vua nào nguyên-súy hội thơ?

22. Hùng-Vương quốc-tổ đền thờ ở đâu?

23. Đại vương bẻ gẫy sừng trâu?

24. Rừng Lam khởi nghĩa áo nâu anh hùng?

25. Hại dân bán nước tên Cung?

26. Đục chìm thuyền địch dưới sông Bạch-Đằng?

27. Lý triều nổi tiếng cao tăng?

28. Bình-Ngô ai soạn bản văn lưu truyền?

29. Mười ba liệt sĩ thành Yên?

30. Bỏ quan treo ấn tu tiên thủa nào?

31. Ai sinh trăm trứng đồng bào?

32. Bình-Khôi chức hiệu được trao cho người?

33. Tây-Sơn có nữ tướng tài?

34. Cần-vương chống Pháp bị đầy xứ xa?

35. Tổ ngành hát bội nước ta?

36.. Khúc ngâm Chinh-Phụ ai là tác nhân?

37. Vua nào sát hại công thần?

38. Nhà văn viết truyện Tố-Tâm trữ tình?

39. Thái-Nguyên chống Pháp dấy binh?

40. Hà-Ninh tổng đốc vị thành vong thân?

41. Vua nào mở nghiệp nhà Trần?

42. Nêu gương hiếu tử diễn âm lưu truyền?

43. Công lao văn học Nguyễn-Thuyên?

44. Lừng danh duyên hải Dinh-Điền là ai?

45. Nhà thơ sông Vị, biệt tài?

46. Vua nào chống Pháp bị đầy đảo xa?

47. Ngày nào kỷ niệm Đống Đa?

48. Biên thùy tiễn biệt lời cha dặn dò?

49. Mê-Linh xây dựng cơ đồ?

50. Bến Hàm-Tử bắt quân thù xâm lăng?

51. Húy danh Hoàng-Đế Gia-Long?

52. Tướng nào hương khói Lăng-Ông thủa giờ?

53. Rồng thiêng kết nghĩa Âu-Cơ?

54.. Thánh Trần nay có bàn thờ ở đâu?

55. Đời nào có chức Lạc-Hầu?

56. Tướng Châu-Văn-Tiếp, ở đâu bỏ mình?

57. Danh nho thường gọi Trạng Trình?

58. Cha con cùng quyết hy sinh với thành?

59. Đầm Dạ-Trạch nức uy danh?

60. Sớ dâng chém nịnh không thành, từ quan?

61. Công thần vì rắn thác oan?

62. Ai mời bô lão dự bàn chiến chinh?

63. Vua nào dòng dõi Đế-Minh?

64.. Vĩnh-Long thất thủ, liều mình tiết trung?

65. Ngày nào trẩy hội Đền Hùng?

66. Ngày nào sông Hát, nhị Trưng trẫm mình?

67. Núi nào ngự trị Sơn-Tinh?

68. Sông nào ghép lại bút danh thi hào?

69. Gốc nguồn hai chữ đồng bào?

70. Bôn ba tổ chức phong trào Đông du?

71. Hùm Thiêng trấn đóng chiến khu?

72. Vua nào thành lập Hội Thơ Tao-Đàn?

73. Dẹp Thanh giữ vững giang san?

74. Thiết triều nằm lả khiến tàn nghiệp Lê?

75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề?

76. Mười năm kháng chiến chẳng nề gian lao?

77. Móng rùa thần tặng vua nào?

78. Bình Chiêm, Dẹp Tống, Lý trào nổi danh?

79. Dâng vua sách lược “Trị-Bình”?

80. Trạng nguyên tướng xấu ví mình hoa sen?

81. Người Tàu dựng đất Hà-Tiên?

82. Họ Lương chống Pháp, Thái-Nguyên bỏ mình?

83. Quy-Nhơn thất thủ, quyên sinh?

84. Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô?

85. Công thần mà bị quật mồ?

86. “Vân-Tiên” tác giả lòa mù là ai?

87. Đại-Từ nổi tiếng tú tài?

88. Đem nghề in sách miệt mài dạy dân?

89. Dâng vua cải cách điều trần?

90. Sánh duyên công chúa Ngọc-Hân, vua nào?

91. Thi nhân nổi loạn họ Cao?

92. Xây thành đắp lũy, họ Đào là ai?

93. Họ Phan lãnh ấn khâm sai?

94. Phòng khuya vọng tiếng thuyền chài tương tư?

95. Đông y lừng tiếng danh sư?

96. Lời thề diệt địch trên bờ Hóa-Giang?

97. Vân-Đồn ai thắng danh vang?

98. Am mây ẩn dật chẳng màng lợi danh?

99. Mùa xuân nào phá quân Thanh?

100. Bao giờ trở lại thanh bình Việt Nam? 
+++++++++++++++

5* Đố ai đổi mặc hoàng bào ?
Ai đem Nhật Tảo ghi vào sử xanh ?

6* Ai làm Vua ở đồng lầy ?
Ai thường tập trận với bầy trẻ trâu ?

7* Hỏi ai thà bị chặt đầu
Còn hơn gióc tóc theo Tàu cải trang ?

8* Ai không bỏ nghĩa tham vàng ?
Và ai nhóm lửa đốt than đợi thời ?

9* Đông Du ai đã đưa người ?
Còn ai đập đá giữa trời trơ trơ ?

10* Vũ Quang ai đã phất cờ ?
Bình Tây sát tả , bây giờ nhớ ai ?

11* Phồn Xương tính kế lâu dài
Hỏi ai quyết chiến cùng loài xâm lăng ?

12* Đố ai nêu lá Quốc kỳ
Mê Linh đất cũ còn ghi muôn đời
Yếm , khăn , đội đá vá trời
Giặc Tô mất vía, rụng rời thoát thân ?

13* Đố ai cũng khách thoa quần
Đạp luồng sóng dữ , đạp quân giặc thù
Cửu chân nức tiếng ngàn thu
Vì dân quyết phá ngục tù lầm than ?

14* Đố ai trên Bạch Đằng giang
Làm cho cọc nhọn dọc, ngang sáng ngời
Phá quân Nam Hán tơi bời
Gươm thần độc lập , giữa trời vung lên ?

15* Đố ai đánh Tống, bình Chiêm
Ba ngày phá vỡ Khâm, Liêm hai thành
Ung Châu đổ nát tan tành
Mở đầu bắc phạt, uy danh vang lừng ?

16* Đố ai nổi sóng sông Rừng
Đã vui Hàm Tử, lại mừng Chương Dương
Vân Đồn cướp sạch binh lương
Nội Bàng mai phục, chặn đường giặc lui ?

17* Đố ai gian khổ chẳng lùi
Chí Linh mấy lượt nếm mùi đắng cay
Mười năm bình định ra tay
Thành Đông Quan mất vía bầy Vương Thông ?

18* Đố ai giải phóng Thăng Long
Nữa đêm trừ tịch quyết lòng tiến binh
Đống Đa , sông Nhĩ vươn mình
Giặc Thanh vỡ mộng cường chinh, tơi bời ?

19* Đố ai trung liệt sáng ngời
Đã không khuất phục bọn người ngoại dương
Xé đồ băng bó vết thương
Nhịn ăn mà chết, chọn đường tự do ?

20* Đố ai đánh trống phất cờ
Giữ thành Hà Nội trong giờ nguy nan
Rồi khi trúc chẻ, ngói tan
Mượn dây oan nghiệt giãi gan anh hùng ?

21* Đố ai ngang dọc vẫy vùng
Vũ Quang khởi nghĩa, hợp cùng Văn Thân
Cần Vương nổi tiếng xa gần
Tinh thần kháng địch bội phần lên cao ?

22* Đố ai đắp lũy khơi hào
Ba Đình chẳng quản, gian lao tung hoành
Nhử cho giặc đến gần thành
Xung phong một loạt, thề phanh thây thù ?

23* Đố ai thành lập chiến khu
Giữa vùng bãi sậy, hoang vu đóng đồn
Đồng lầy là chốn mồ chôn
Những quân cướp nước, cáo chồn không tên ?

24* Đố ai Yên Thế hùm thiêng
Phất cờ khởi nghĩa ở miền Lạng Giang
Khi mai phục, lúc trá hàng
Làm quân cướp nước hoang mang điên đẩu ?

25* Đố ai qua Nhật , sang Tàu
Soạn thành huyết lệ lưu cầu tân thư
Hô hào vận động Đông Du
Kết đoàn cùng với sĩ phu khắp miền ?

26* Đố ai khởi nghĩa Thái Nguyên
Giữa nơi doanh trại, cướp quyền chỉ huy
Pháo sơn gặp bước gian nguy
Ngang nhiên tuẩn tiết chỉ vì non sông ?

27* Đố ai thư xã Nam Đồng
Xương phơi Yên Bái, máu hồng Lâm Thao
Ngọn cờ cách mạng nêu cao
Thản nhiên tiếp nhận lưỡi dao vô tình ?

28* Đố ai muốn cứu dân mình
Đem quân phục quốc, chiếm thành Lạng Sơn
Đời sau mãi mãi ghi ơn
Trần , Đoàn hai họ, rửa hờn nô vong ?

29* Ai mài gươm dưới trăng tà
Quốc thù chưa trả, đầu đà điểm sương
Một lần giết hụt giặc Trương
Về sau bị bắt nữa đường quyên sinh ?

30* Lên yên khoác chiếc hoàng bào
Phất cờ ra lệnh tến vào vòng vây
Bỏ mình ở lại chốn đây
Cứu vua cứu nước tràn đầy hy sinh ?

31* Nam Quan từ biệt cha già
Trở về nợ nước, thù nhà lo toan
Lam Sơn góp lưỡi gươm vàng
Bình Ngô Đại Cáo, giang san thu về ?

32* Dâng Vua những bản điều trần
Mong cho nước mạnh, toàn dân được giàu
Triều đình thủ cựu hay đâu
Đã làm điêu đứng thầmsau Việt Nam ?

33* Cuộc đời như đám phù vân
Biết bao vinh nhục cũng ngần ấy thôi
Thăng thăng , giáng giáng mặc đời
Mấy vùng Sơn Hải, đôi lời thi ca

34* Tước Vương đất Bắc nào thèm
Mà quân xâm lược hòng đem dụ người
Dù quỷ Nam vẫn vui tươi
Đền ơn tổ quốc, thỏa đời làm trai

35* Trạng nguyên lanh trí ai bì
Đã từng ứng đối khi đi xứ Tàu
Một đời trong sạch trước sau
Tiền vô chủ, quyết vào chầu nộp kho

36* Muốn cho nước mạnh dân giàu
Tâu Vua xin chém bảy đầu mọt dân
Mũ cao áo rộng không cần
Lui về ẩn chốn sơn lâm một mình

37* Làm trai việc lớn phải lo
Ngàn thu danh tiếng thơm tho dự phần
Quyết lòng vì nước vì dân
Lẽ đâu chịu nhục làm thân tôi đòi

38* Làm quan tổng đốc Hà Thành
Giữa khi vận nước tơ mành treo chuông
Mất thành tự vẫn theo luôn
Tấm gương trung liệt còn muôn năm truyền

39* Hoà bình ai vẫn chủ trương
Rồi sau khởi nghĩa máu xương góp phần
Không thành công cũng thành nhân
Cùng mười hai bạn xã thân rơi đầu ?

40* Bị giam cầm ở Thái Nguyên
Bèn cùng Đội Cẩn nổi lên diệt thù
Bảy ngày mọt cõi biên khu
Nghĩa quân tan rã mặc dù trung kiên

41* Cờ lau tập trận thiếu thời
Lớn lên Vạn Thắng khắp trời danh uy
Hoa Lư nên bóng quốc kỳ
Trường An nay hãy còn ghi ơn người

42* Từ bảy tuổi đã lên ngôi
Việc dân , việc nước trọn đời lo toan
Mở trường thi chọn văn quan
Lập Quốc Tử giám luyện hàng danh nhân

43* Tuổi già nhưng sức chẳng già
Vung gươm Bắc tiến, quân nhà Tống tan
Xuôi Nam, Chiêm quốc kinh hoàng
Thơ thần một áng , lời vàng còn ghi

44* Một lòng giữ đúng chiếu Vua
Tiền muôn , bạc triệu cũng thua gan vàng
Giữ tròn liêm chính trung can
Phò Vua giúp nước , chiêu an trong ngoài

45* Vì nhà vì nước giao tranh
Thanh gươm yên ngựa , phá thành đốc quân
Sa cơ nào quản tấm thân
Mặc quân dày xéo chết gần chồng con

46* Từng phen khóc lóc theo cha
Rồi đem nợ nước tình nhà ra cân
Núi Lam tìm giúp minh quân
Bình Ngô Đại Cáo , bút thần ra tay ?

47* Một phen quét sạch quân Đường
Nổi danh Bố Cái Đại Vương thuở nào
Tiếc thay mệnh bạc tài cao
Giang sơn đành phải rơi vào ngoại bang

48* Vua nào tám tuổi lên ngôi
Dẫu rằng nhỏ bé mà người thông minh
Ngai vàng hư vị nào vinh
Vì dân trn61 khỏi hoàng thành giữa đêm ?

49* Ai là lãnh tụ Văn Thân
Vũ Quang tụ tập nghĩa quân thuở nào
Khiến cho giặc Pháp mòn hao
Mà không phá được chiến hào thô sơ ?

50* Núi rừng Yên Thế âm u
Mười năm kháng Pháp mặc dù gió mưa
Khi quyết đánh lúc vờ thua
Hùm thiêng nổi tiếng bấy giờ là ai ?

51* Tháng Giêng Kỷ Dậu , mùng năm
Trận nào khiến giặc xâm lăng rã rời
Một vùng khói lửa ngút trời
Quân ta đại thắng , muôn người mừng vui

52* Đố ai vì nghĩa quên mình
Hoàng bào đổi mặc , quân Minh bị lừa
Ngày nay nhắc chuyện ngày xưa
Hăm hai, hăm mốt , nắng mưa không nhoà ?

53* Đố ai khởi nghĩa không thành
Lâm Thao tử tiết cho đành chí trai ?
Và ai lên đoạn đầu đài
Cho trời yên Bái u hoài đau thương ?

54* Đố ai đã bị đi đày
Chỉ vì câu nói , đêm ngày đảo xa
Rồi sau đó được vua tha
Đem về dưa hấu đậm đà thơm ngon

55* Can trường kháng chiến mười năm
Anh hùng áo vải nhiều lần khốn nguy
Gian lao nào có quản gì
Gươm thần trả lại chính vì quốc dân

56* Đố ai học vấn uyên thâm
Nho , y, lý , số , mười phân vẹn mười
Sùng Chính viện mới ra đời
Công trình dịch thuật nữa vời tiêu tan ?

57* Đố ai dâng bản điều trần
Mong sao giúp phần ích nước lợi dân
Tiếc thay lại bị đình thần
Cổ hủ nhìn gần , đem bác bỏ luôn ?

58* Ai người mặc áo đổi Vua
Cầm quân ra trận đánh lừa giặc Minh
Vì đại nghĩa phải hy sinh
Tấm gương trung nghĩa hiển vinh đời đời ?

59* Vua nào thuở bé chăn trâu
Trường Yên một ngọn cờ lau tập tành
Sứ quân dẹp loạn phân tranh
Dựng nền thống nhất , sử xanh còn truyền ?

60* Hỏi ai thề trước mặt Vua
Đầu thần chưa rụng thì chưa nên hàng
Một lời quyết chiến hô vang
Phá quân Mông cổ , chận đàng xâm lăng ?

61* Khắp nơi bô lão về đây
Lòng già, chí trẻ giơ tay thề nguyền
Muôn lời quyết chiến vang lên
Hội gì đoàn kết, giặc nguyên tan tành ?

62* Hỏi ai là tiểu anh hùng
Vua ban ngựa sắt , roi đồng tiến quân
Sau khi toàn thắng giặc Ân
Sóc Sơn rời bỏ cỏi trần lên tiên ?

63* Thù chồng , nợ nước , hỏi ai
Đuổi quân tham bạo , diệt loài xâm lăng
Mê Linh nổi sóng đất bằng
Hát giang ghi dấu hờn căm đến giờ

64* Đầu voi ai phất cờ vàng
Làm cho nữ giới vẻ vang oai hùng
Quần thoa mà giỏi kiếm cung
Đạp luồng sóng dữ , theo cùng bào huynh

65* Phò Vua trãi đã ba triều
Vào Nam , ra Bắc một điều tận trung
Bị thương , thuốc giặc chẳng dùng
Nhịn ăn , tìm cái chết hùng mà vinh ?

66* Đố ai khoẻ mạnh phi thường
Nhổ cây to đánh dẹp phường hại dân
Làm quan trừ kẻ loạn thần
Về sau lại phá tan quân Chiêm thành ?

67* Cầm binh lắm trí nhiều mưu
Nổi danh là một nữ lưu anh hùng
Hỏi ai vợ bé giúp chồng
Nhiều phen chống Pháp ở vúng Nhã Nam ?

68* Ngàn năm trang sử còn ghi
Mê Linh, sông Hát chỉ vì non sông
Chị em một dạ một lòng
Đuổi quân Tô Định khỏi vùng biên cương

69* Thư ký tại Việt Nam khách sạn
Cương quyết làm cách mạng chống Tây
Chỉ huy đánh phá đó đây
Thực dân khiếp sợ , người này là ai ?

70* Đang đêm lẻn vào thuyền kẻ địch
Quyết tìm tên thù nghịch họ Trương
Dưới trăng mài lưỡi kiếm trường
Về sau bị bắt , giưa 4ddường quyên sinh ?

71* Thanh liêm vốn sẵn tính trời
Tiền muôn , bạc vạn chẳng dời lòng ngay
Tài đối đáp thật là hay
Trạng nguyên hai nước , ông này là ai ?

72* Một võ tướng , một văn quan
Bị vây , thà chết không hàng mới trung
Bình thuốc độc , ngọn lửa hồng
Thành xưa ghi dấu , anh hùng còn đây

73* Lập căn cứ giữa đồng lầy
Hai năm kháng chiến , giặc Tây nể vì
Sử vàng Bãi Sậy còn ghi
Hỏi ông Vua ấy tên gì , ai ơi ,

74* Đố ai giúp Bắc Bình Vương
Kéo quân ra chiếm miếu đường Thăng Long
Làm cho Trịnh Khải đào vong
Vua Lê đẹp ý nhưng không đoái hoài ?

75* Bậc anh hùng tài không đợi tuổi
Sáu chữ cờ giong ruổi khắp nơi
Đánh cho quân giặc tơi bời
Chương Dương , Hàm Tử rạng ngời chiến công

76* Khiêm , Ung , Liêm , Tống quân vỡ mật
Phá Chiêm thành mới thật là gan
Tướng nào tài đức vẹn toàn
Bảy mươi tạ thế , Vua ban Phúc Thần ?

77* Lấy Dạ Trạch làm nơi kháng chiến
Mơ ngày về đánh chiếm Long Biên
Nhiều năm kham khổ liên miên
Hỏi ai ngang dọc khắp miền sậy lau ?

78* Ai là kẻ hôn quân bạo ngược
Cố giết anh để được làm Vua
Ngày đêm yến tiệc say sưa
Đứng ngồi chẳng được , nằm bừa trên ngai ?

79* Người Hà Tĩnh mặt đen như mực
Từng chiêu binh ra sức chống Tàu
Nghệ An chiếm được buổi đầu
Tấm gương trung dũng, đời sau còn truyền

80* Ông trạng nào mới mười hai tuổi
Bị cho về học hỏi ít năm
Sứ Tàu sau đó sang thăm
Lại ra đối đáp , khó khăn chẳng từ ?

81* Ào ào Pháp chiếm miền Đông
Lãnh binh bảo vệ non sông xóm làng
Đánh Chợ Lớn, phá Tân An
Rồi về Kiển Phước bảo toàn chiến khu
Sau vì tùy tường hèn ngu
Nghĩa quân đã bị giặc thù đánh tan

82* Làng Nguyệt Ức có một người
Khai Xuyên tên chữ , hiệu thì Hạnh Am
Đang làm tri huyện bỏ quan
Lục niên ẩn tích , dạy đàn học sinh
Giúp mưu nguyễn Huệ Bắc Bình
Đố ai biết được tiên sinh tên gì ?

83* Quê người ở Hà Tĩnh
Đi thi đỗ Đình Nguyên
Từng làm quan Ngự Sử
Khẳng khái, Thuyết ,Tường kiêng
Vì dân ra chống Pháp
Gian khổ suốt mười niên
Văn Thân dù tan rã
danh thơm vẫn lưu truyền

84* Giúp quan Tán Lý họ Phan
Lập đồn kháng chiến , Vũ Quang diệt thù
Đêm ngày gian khổ công phu
Đúc nên súng đạn, tiểu trừ thực dân
Chiến trường oanh liệt xả thân
Còn treo gương sáng cho dân đời đời

85* Ai từng đánh đuổi giặc Ân ?
Ai xin chém bảy nịnh thần không tha ?

86* Ai vì nước, bỏ thù nhà ?
Ai từng đánh trận Đống Đa vang lừng ?

87* Phú Xuân ai nữa anh hùng ?
Ai từng tuốt kiếm ở vùng núi Lam ?

88* Ai cầm đầu đảng Văn Thân
Thần đồng ai đã dự phần nhớ dai ?

89* Đố ai trẻ tuổi cao tài
Cờ để sáu chữ chưa phai nét vàng ?

90* Đố ai đan sọt giữa đàng
Giáo đâm lũng vế rõ ràng không hay ?

91* Khởi nghĩa tại Bắc Ninh
Hai mươi năm du kích
Làm hao mòn quân địch
Hùm Yên thế vang danh
Pháp phải thuê lưu manh
Lương Tam Kỳ ám sát
Xác thân dù tan nát
Nghĩa khí vẫn lưu truyền

92* Ba Đình chiến lũy vừa xây
Giao thông hai ngã , giặc Tây nghẽn đường
Bao lần tổn lính, hao lương
Phải đem quân lực hùng cường tấn công
Chiến trường cả tháng mới xong
Anh hùng tuẫn tiết một lòng vì dân

93* Ngai vàng ấy nhục hay vinh
Hồ sen gửi tấm thân tình ông câu
Bỏ thành ra bến Văn Lâu
Hiệp cùng Trần, Thái cầm đầu nghĩa quân
Không ngờ bị kẻ phản dân
Đành ôm quốc hận gửi thân lưu đày

94* Được tin cấp báo hỏi ai
Xua quân ra Bắc diệt loài xâm lăng
Ngọc Hà khí thế thêm hăng
Muà xuân chiến thắng dựng bằng uy danh
Bạt hồn tướng tá Mãn Thanh
Nghìn năm vinh hiển , sử xanh còn truyền

95* Hỏi ai đan sọt giữa đường ?
Còn ai đánh chiếm thuyền lương của Tàu ?

96* Tướng nào đã thả bổ câu ?
Tướng nào thà chết , chẳng đầu giặc Nguyên ?

97* Tướng nào chuyên lặn đục thuyền ?
Và ai nổi tiếng thiếu niên anh hào ?

98* Còn ai đổi mặc hoàng bào ?
Bình Ngô Đại Cáo người nào soạn ra ?

99* Còn ai nghĩ giặc là ta
Cho vào nóc nhà khai thác quặng nhôm?
100* Còn ai đại diện nhân dân
Cám ơn bành trướng nhiều lần qua đây?
Ai vì bảo vệ nước tàu Thẳng tay đàn áp dân đi biểu tình?



Trích từ tác giả: QT LAH Dec 22, '10
Chân dung người nữ Biệt Đội Trưởng

Tình Báo Thiên Nga

NỮ THIẾU TÁ CSQG NGUYỄN-THANH-THỦY


Lẫn trong đám đông ồn ào của ngày Hội Ngộ Tân Niên Mừng Xuân Giáp Thân 2004 của Hội Ái Hữu Cảnh Sát Quốc Gia Pomona, Nam California, người phụ nữấy trông vẻ ngoài cũng bình thường như bao người phụ nữ khác, nhưng đến khi chị được Ban Tổ Chức giới thiệu và mời lên phát biểu thì người ta mới được biết người phụ nữấy đã một thời từng chỉ huy một biệt đội tình báo làm cho kẻ thù phải kiêng nể và căm phẫn vì những chiến công lớn lao mà chị đã đóng góp cho cuộc chiến vì Tự Do trước đây.

Người phụ nữấy là cựu nữ Thiếu Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Thanh Thủy, người từng chỉ huy một biệt đội tình báo toàn là nữ của ngành CSQG/VNCH có tên là Thiên Nga. Không rõ có phải là định mệnh đã đưa đẩy cô nữ sinh trường trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho rồi sinh viên Dược Khoa Sàigòn và Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt trở thành một nữ sĩ quan cảnh sát. Năm 1966, cô đã rời bỏ mái trường Đại Học Đà Lạt để trở thành một sinh viên sĩ quan của Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, một ngôi trường đào tạo sĩ quan cho lực lượng CSQG/VNCH vừa mới được thành lập. Vốn là một con người năng động, ham muốn phục vụ tha nhân và xã hội, cô không muốn phải miệt mài nhiều năm trên ghế nhà trường trước khi được phục vụ tha nhân.

Ngành C
ảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa trước khi thành lập Học Viện CSQG hầu như không có nữ sĩ quan ngoại trừ những nữ nhân viên hành chánh biệt phái. Khóa I Học Viện CSQG là khóa đầu tiên và duy nhất đào tạo nữ sĩ quan cho ngành cảnh sát. Mặc dù sau này do nhu cầu phát triển, ngành cảnh sát có tuyển dụng thêm một số nữ sĩ quan đồng hóa nhưng họ chỉ phải trải qua một thời gian huấn luyện ngắn hạn chứ không phải chịu một thời gian huấn luyện (và huấn nhục) dài 9 tháng (cho cả nam lẫn nữ) như Khóa I Sĩ Quan Cảnh Sát. Cô nữ sinh viên Nguyễn Thanh Thủy, người con gái Mỹ Tho, đã cùng gần 50 bạn nữ khác tình nguyện xếp bút nghiên vào học nội trú trong Học Viện CSQG mà không hề có một khái niệm gì về những hoạt động của ngành này.

Sau khi t
ốt nghiệp, hầu hết số nữ sĩ quan này được phân phối về phục vụ tại Khối Đặc Biệt, một bộ phận chuyên trách về tình báo và phản tình báo của lực lượng CSQG. Từ trước đến nay, công tác tình báo trong ngành cảnh sát vẫn thường do các bạn nam phụ trách, phái nữ chỉ trợ giúp khi có sự yêu cầu và thường do các bạn nam điều động.

Nh
ưng kể từ sau cuộc tổng tấn công của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân năm 1968, vai trò an ninh và tình báo đã được chú trọng hơn và nhu cầu cần có một mạng lưới an ninh tình báo toàn phái nữ đã được đặt ra. Trước nhu cầu đó, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia đã quyết định thành lập một đơn vị tình báo toàn là nữ nhân viên có tên gọi là “Biệt Đội Thiên Nga”, tên của một loài chim “quý phái”, trực thuộc Khối Đặc Biệt, hoạt động độc lập, song song với các cơ cấu đã có từ trước. Biệt Đội này đã được giao cho chị Nguyễn Thanh Thủy đảm trách, năm đó chị mới ngoài hai mươi tuổi.

Nhi
ệm vụ của Biệt Đội Thiên Nga là sưu tầm và phân tích các tin tức tình báo, tổ chức xâm nhập và phá vỡ các tổ chức và các hạ tầng cơ sở của Việt Cộng tại thủ đô Sài Gòn cũng như tại các tỉnh địa phương trên toàn quốc. Vạn sự khởi đầu nan. Công việc khởi đầu bao giờ cũng khó khăn. Từ việc tổ chức cho đến nhân sự, tất cả đều mới mẻ, nhưng nhờ những năm phục vụ tại Khối Đặc Biệt trước đó đã cho chị Nguyễn Thanh Thủy nhiều kinh nghiệm trong việc hình thành một mạng lưới tình báo nữ xuất sắc cho ngành CSQG. Các nữ nhân viên được tuyển mộ cho Biệt Đội Thiên Nga đều là những người có trình độ văn hóa tối thiểu là văn bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp (tốt nghiệp Trung Học) hoặc cao hơn, ngoại trừ các quả phụ cảnh sát chỉ cần có văn bằng tiểu học. Họ được tuyển lựa từ đủ mọi thành phần trong xã hội; từ những cô bán hàng ở chợ, những người bán hàng rong, cho đến các sinh viên, học sinh, cô giáo, thư ký văn phòng, nhân viên nhà hàng, bưu điện, vũ nữ, v.v... Họ sẽ lần lượt được học qua các lớp Tình Báo căn bản, Theo Dõi, Cán Bộ Điều Khiển, Tác Xạ... trước khi được giao công tác.

D
ưới sự chỉ huy của chị Nguyễn Thanh Thủy, Biệt Đội Thiên Nga đã tổ chức xâm nhập, len lỏi vào các tổ chức của cộng sản, những tổ chức thiên tả thân Cộng như các Hội Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Hội Các Bạn Hàng tại các chợ, các lực lượng đấu tranh thuộc thành phần thứ ba, các tổ chức tôn giáo khuynh tả, các tổ chức thanh niên sinh viên học sinh để kịp thời ngăn chặn và triệt phá những âm mưu có nguy hại cho an ninh quốc gia. Ngoài ra, Biệt Đội còn bí mật tổ chức xâm nhập vào tận mật khu của Việt Cộng để thu thập những tin tức tình báo góp phần tiêu diệt các cơ sở đầu não của Cộng Sản. Mỗi kế hoạch công tác của biệt đội Thiên Nga vì toàn là nữ nên cũng lãng mạn mang một ám danh bằng tên của một loài chim như Sơn Ca, Họa Mi, Hải Âu, Hoàng Oanh, Hoàng Yến... Nhưng nếu công tác có tính phối hợp với các cơ quan bạn thì lại mang ám danh của sông núi như Trùng Dương, Trường Sơn v. v...

M
ặc dù chỉ mới được thành lập không bao lâu trước ngày 30-4-1975, nhưng Biệt Đội Thiên Nga đã tạo được nhiều chiến công đáng kể mà ngay chính kẻ thù cũng phải kiêng nể. Vì là một đơn vị hoạt động tình báo nên việc ngụy thức và bảo mật luôn được đặt lên hàng đầu. Công tác này các nữ Thiên Nga đã rất thành công, không để lộ tung tích khiến cho kẻ địch phải ngờ vực. Thậm chí đã có trường hợp chúng còn tin tưởng đề cử người của Biệt Đội Thiên Nga vào những chức vụ chủ chốt của chúng hoặc gởi đi học những khóa chuyên môn hoặc tình báo của chúng; chẳng hạn như một cán bộ của biệt đội đã từng được tổ chức Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành (vừa qua đời tại Việt Nam), một tổ chức ngoại vi nằm vùng của Cộng Sản, đề cử vào chức vụ phụ tá Phong Trào – tuy nhiên sau khi cân nhắc lợi hại Biệt Đội đã chỉ thị người nữ nhân viên ấy phải từ chối khéo để tránh bị lộ.

M
ột trong những chiến công mà chị Nguyễn Thanh Thủy cho là lý thú nhất là chị đã tổ chức được một đội tình báo nằm ngay trong lòng bộ chỉ huy của phái đoàn quân sự bốn bên. Theo Hiệp Định Paris về Việt Nam được ký kết vào ngày 27 tháng 01 năm 1973, phái đoàn quân sự bốn bên này gồm có: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt), Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ. Đội tình báo này chính là nhà thầu cung cấp thực phẩm cho hai phái đoàn Bắc Việt và MTDTGPMN. Đầu tiên, những nhà thầu cung cấp thực phẩm chỉ là những cảm tình viên do chúng ta giới thiệu nhưng đã bị chúng nghi ngờ không chấp nhận. Chúng yêu sách đòi hỏi phải đăng báo để chúng tìm nhà thầu khác ngoài công chúng do chúng tự chọn. Nhưng thật là khôi hài, chị Thủy cho biết, chúng chọn ai không chọn, lại chọn đúng ngay đội tình báo của biệt đội Thiên Nga trá hình làm nhà thầu cung cấp thực phẩm cho chúng. Công tác này được mang ám danh là Trùng Dương, hoạt động mãi cho đến ngày cuối cùng là 28-4-1975.

Đ
ối với người phụ nữ Việt Nam, công việc hoạt động tình báo quả là một thử thách khó khăn vì người phụ nữ dù làm việc trong lãnh vực nào cũng vẫn không thề quên cái thiên chức làm vợ, làm mẹ đè nặng trên vai. Hơn nữa người tình báo lại là người muôn mặt. Khi thì là một nữ sinh viên ngây thơ nhí nhảnh, lúc lại là một chị bán hàng rong tất bật lam lũ. Hôm nay là một mệnh phụ đài các, ngày mai lại là một chị nông dân chất phác,... Cái khó khăn là phải biết nhập vai sao cho chính xác mà vẫn không bị lộ. Cho nên để bảo toàn bí mật và để hoàn thành những nhiệm vụ được trao, người nữ cán bộ tình báo nhiều khi đã bị mang tiếng là bỏ bê gia đình bởi do nhu cầu công tác có những lúc họ phải đi sớm về khuya, bỏ mặc con ngóng, chồng trông mà không sao giải thích được. Đó cũng là nỗi khổ tâm của người nữ chiến sĩ tình báo Thiên Nga. Vượt qua được những trở ngại đó, các nữ chiến sĩ Thiên Nga đã nhiều phen tạo được những chiến công to lớn (trong thầm lặng). Họ đã đem hết những hăng say, nhiệt tình, tinh thần chống Cộng mãnh liệt của tuổi trẻ, hiến dâng để bảo vệ đất nước miền Nam Việt Nam.



C
ộng Sản cũng rất lưu ý đến những hoạt động của Biệt Đội Thiên Nga. Hầu hết những cán bộ điều khiển của biệt đội đều phải trải qua nhiều năm trong những trại tù khắc nghiệt của cộng sản sau ngày 30-4-1975. Mặc dù vậy họ vẫn giữ vững nhân cách, lập trường, vượt qua những gian lao của bao năm tháng tù đày. Trong những ngày cuối cùng khi biết Miền Nam sẽ rơi vào tay Cộng Sản, với tinh thần trách nhiệm cao độ, chị Nguyễn Thanh Thủy đã kịp thời tiêu hủy tất cả các hồ sơ nhân viên, kể cả danh sách các cảm tình viên và những người phía bên kia hoạt động nhị trùng cho biệt đội. Chị cũng thiêu hủy tất cả các kế hoạch công tác đã hoặc chưa thi hành để kẻ thù không thể khai thác khi chúng tiếp quản Miền Nam. Chị Nguyễn Thanh Thủy đã bị chúng giam cầm đến gần 13 năm mới được tha, khi sức khỏe của chị đã quá suy sụp tưởng chừng không gượng dậy nổi, nhưng như một phép lạ chị đã lần lần phục hồi sau một thời gian được trả tự do. Trong thời gian bị giam, chị đã bị kẻ thù hành xác và khủng bố tinh thần qua các thủ đoạn biệt giam, hăm dọa, bỏ đói, ... để moi cung nhưng chúng vẫn không khai thác được gì nơi chị ngoài những điều chúng đã biết.

Đ
ịnh cư tại quận Cam, Hoa Kỳ, theo diện H.O. từ năm 1992 đến nay, tuy đã lớn tuổi và sức khỏe có phần nào hạn chế bởi những năm tháng trong ngục tù Cộng Sản, chị Nguyễn Thanh Thủy vẫn tỏ ra năng động và luôn tích cực trong nhiều sinh hoạt cộng đồng. Mới đây chị vừa được cựu Tướng Lê Minh Đảo, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Điều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại đề cử vào chức vụ Trưởng Khối Xã Hội của tổ chức này. Chị nói, đã là người Việt thì ai là người không nặng tình với đất Việt, dân Việt. Được dịp phục vụ Tổ Quốc là một hãnh diện và danh dự thì làm sao chị có thể chối từ, hơn nữa khi “giặc đến nhà, thì đàn bà cũng phải đánh”, đó là lời tâm sự của chị.

Là c
ựu Biệt Đội Trưởng Thiên Nga, một cựu cấp chỉ huy về tình báo, chị cảm nhận được rằng đang có những sự xâm nhập của tình báo Cộng Sản tại hải ngoại. Chúng đã và đang len lỏi trong cộng đồng bằng những thủ đoạn gây chia rẽ và phá rối dưới nhiều hình thức. Kẻ thù đang giấu mặt. Chị Thủy nói, chúng ta cần cảnh giác với chúng, bởi vì Cộng Sản rất tinh vi và quỷ quyệt, chúng lại sẵn có phương tiện (tài chánh) dồi dào trong tay, nên nếu chúng ta không tỉnh táo sẽ rơi vào bẫy sập của chúng.

Toàn Như




Chân dung một H.O.

Thiên Nga NGUYỄN THANH THỦY Thiên Nga NGUYỄN THANH THỦY Người Nữ Sĩ Quan Cảnh Sát, Biệt Ðội Trưởng Thiên Nga với 9 năm quân vụ nhưng có tới 13 năm tù Nhân kỷ niệm đánh dấu thời gian ba mươi năm (1975-2005) của người Việt tỵ nạn bỏ nước ra đi và hình thành cộng đồng Việt Nam trên đất Mỹ, cũng như kỷ niệm 15 năm những người cựu tù nhân chính trị đến Hoa Kỳ theo diện H.O., Nhật Báo Người Việt sẽ có một loạt bài về đời sống hiện nay của những anh em H.O. ở quê người. Anh chị em cựu tù nhân chính trị sang định cưtại Hoa Kỳ theo các danh sách H.O. từ năm 1990 đến nay, người đầu tiên lâu nhất là gần mười lăm năm, người trễ nhất cũng đã đến đây được sáu bảy năm. Gia đình, công việc coi như đều đã ổn định, nhưng số phận đã đem mỗi con người đi theo những con đường khác nhau.

Sang đây, tùy cu
ộc đời đưa đẩy, có người đi học lại có cấp bằng để gia nhập vào đời sống Hoa Kỳ một cách dễ dàng, có người chịu làm nghề tay chân để sống qua ngày, không ít bạn xoay sang các ngành nghề thương mãi, cũng có người trở thành những nhà tu hành với những tôn giáo khác nhau. Sau bao nhiêu năm lao tù, đói khát, nhọc nhằn, sang đến đây, sức tàn lực kiệt, đã có rất nhiều người hiện đang đang nằm trong nursing home hay đã qua đời. Chúng tôi hy vọng, trong khả năng hạn hẹp, sẽ tìm hiểu và vẽ lại chân dung đa dạng của những người anh em mà chúng ta tạm gọi là những người H.O. Chúng tôi rất mong đón nhận sự đóng góp bài vở, ý kiến của anh em H.O. cho mục này. Xin liên lạc qua trang Cựu Chiến Binh Việt Nam Cộng Hòa, ấn hành vào mỗi thứ tư trong tuần.

Cô sinh viên tr
ường Ðại Học Kinh Doanh, Trường Sư Phạm Công Giáo Ðà Lạt và cả Ðại Học Y Khoa Sài Gòn đã bỏ dở những con đường bằng phẳng này để tình nguyện vào ngành cảnh sát làm một sĩ quan tình báo, con đường mà có thể cô không ngờ trước đã đem lại cho cô mười ba năm tù “cải tạo”. Tháng Sáu năm 1975, chồng cô cũng là một sĩ quan phục vụ tại trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt đã cùng cô gánh vác nỗi gian truân của người lính thất trận, ra đi để lại cho các em gái cô, cũng trong hoàn cảnh khó khăn, nuôi ba đứa con mới lên bẩy, năm và bốn tuổi của vợ chồng cô.

Nguy
ễn Thanh Thủy sinh trưởng tại thị xã Mỹ Tho trong một gia đình nhà giáo, nhưng lại không thích nghề dạy học. Năm 1965, cô nghe lời bạn bè thi tuyển vào ngạch Biên Tập Viên Cảnh Sát Khóa I tại Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, lúc mới thành lập, ở trên đường Lê Văn Duyệt. Ra trường và sau một kỳ thi trắc nghiệm cô được chọn vào Khối Cảnh Sát Ðặc Biệt, phụ trách nghiên cứu kế hoạch và tốt nghiệp khóa Trưởng Phòng Tình Báo tại Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo, và được cử đi quan sát các tổ chức tình báo tại Mã Lai. Sau trận Mậu Thân, vì nhu cầu quân sự cần đánh phá và thâm nhập vào hạ tầng cơ sở của Cộng Sản tại miền Nam, biệt đội Thiên Nga được thành lập, và năm 1969, cô được chính thức cử làm Biệt Ðội Trưởng từ ngày đó cho đến khi miền Nam sụp đổ. Biệt Ðội Thiên Nga gồm những cán bộ nữ, được tuyển làm cảm tình viên, mật báo viên, hoạt động khắp lãnh thổ miền Nam, từ thành thị đến những thôn xóm xa xôi. Họ từ lứa tuổi từ 20 đến 40, hoạt động tình báo bí mật, có thể thâm nhập vào các tổ chức của hạ tầng cơ sở Cộng Sản để hoạt động. Biệt Ðội Thiên Nga trong thời gian này đã cấy nhân được vào trong thành phần thứ ba, hoạt động trong tổ chức Phụ Nữ Ðòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành. Không ít người đã được Cộng Sản móc nối đưa vào mật khu học tập, và có người đã bị hy sinh trong những trận đột kích hay đánh bom của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Theo những tài liệu bắt được, Thiên Nga đã được Cộng Sản đánh giá cao và coi là nguy hiểm cho các tổ chức hạ tầng của chúng sau những tổn thất do thành tích, công tác của những con Thiên Nga nhỏ bé, đẹp đẽ và tinh khôn. Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy còn đủ thời gian để thiêu hủy toàn bị hồ sơ của biệt đội và trốn về nhà.

Qua s
ự truy lùng của chính quyền Cộng Sản, nhiều cán bộ trong biệt đoàn tại địa phương đã cảnh giác, trốn qua tỉnh khác, thay đổi lý lịch. Ðể tìm những “Thiên Nga” chưa lộ hình tích, năm 1980, Biệt Ðoàn Trưởng Thiên Nga Nguyễn Thu Thủy được đưa trở lại Trung Tâm Thẩm Vấn X4 tại Tổng Nha Cảnh Sát để khai thác mạng lưới tình báo hạ tầng. Do không có kết quả, cô đã bị biệt giam trong thời gian bốn tháng tại đây. Trong thời gian mười ba năm từ 1975 đến 1988, Nguyễn Thanh Thủy đã bị chuyển qua lại các trại Long Thành, Thủ Ðức và Z30D và đã viết hằng trăm bản tự khai. Trong thời gian này, chồng cô, Ðại Úy Lê Thành Long, trưởng ban nghi lễ trường võ bị đã ra tù vào Tháng Mười năm 1981. Vì ngôi nhà nhỏở Quận 5 đã bị chính quyền địa phương chiếm đoạt, ông phải về quê ở Bình Chánh để làm ruộng, trong khi các con vẫn theo bên ngoại ở Mỹ Tho, trong hoàn cảnh khá trớ trêu này, chính ông làm người chồng đi thăm nuôi vợ tù trong bảy năm tù còn lại. Nguyễn Thanh Thủy ra trại trong một hoàn cảnh khá khó khăn, khi chồng, vợ, con ở ba nơi; địa chỉ ra trại, địa chỉ tạm trú và địa chỉ ghi tên theo chương trình H.O. ở ba chỗ. Cô đã xin trả lại nhà mà không được, xin giấy tờ tạm trú cũng không xong. Ðể sống còn, Nguyễn Thanh Thủy đã trở thành bà chủ nhỏ một hàng bán cơm tấm, nước ngọt bên vệ đường cho dân lao động ở góc đường Hai Bà Trưng và Phan Thanh Giản.

Tuy v
ậy cựu nhân viên tình báo này đã được công an thành phố lưu ý theo dõi vì sợ hàng cơm này trở thành một nơi gặp gỡ trao đổi của các nhân viên tình báo chế độ cũ để tìm cách chống phá “cách mạng”. Năm 1988, sau khi ra tù, cô nhận được giấy giới thiệu nhập cảnh (LOI) và năm 1989, sau khi có sự thỏa thuận giữa chính phủ Hoa Kỳ và Cộng Sản Việt Nam cho những người tù cải tạo đi định cư tại Hoa Kỳ, Nguyễn Thanh Thủy mới nộp đơn đi theo chương trình này. Tuy vậy, trường hợp đặc biệt của Nguyễn Thanh Thủy, công an Nguyễn Du phải giữ hồ sơ cô lại khoảng một năm để chờ ý kiến của Cục Tình Báo Hải Ngoại, do đó mãi đến danh sách H.O.12, cô và gia đình mới có tên và đến Hoa Kỳ vào Tháng Hai năm 1992. Trong thời gian trên hè phố, cô Nguyễn Thanh Thủy đã gặp gỡ và giúp cho nhiều cựu nhân viên hoạt động trong biệt đội Thiên Nga ngày trước, hiện nay không còn một mảnh giấy nào để chứng minh, bằng cách viết giấy tay chứng nhận cho họ và gởi qua Bangkok. Công việc này rất có kết quả và hiện nay nhiều “Thiên Nga” đã định cư tại Hoa Kỳ. Sau mười ba năm tù, sang Hoa Kỳ, gia đình cô đã gặp nhiều chuyện không vui khi con gái đầu lòng của cô qua đời đột ngột vào năm 2002 và cô còn phải nặng gánh vì một cháu út có bệnh bẩm sinh. Hai vợ chồng cô cũng đang vất vả để lo cho cuộc sống và còn có bổn phận phải giúp đỡ cho những người thân đã cưu mang các con cô ròng rã mười ba năm trời. Nhiều thuộc cấp của cô ngày trước hiện còn ở trong nước, không ở trong trường hợp là thương phế binh, quả phụ... nhưng đang có những ngày khó khăn vì hoàn cảnh, cần sự vận động giúp đỡ của cô. Gặp Nguyễn Thanh Thủy bây giờ, một người nội trợ đảm đang, có cuộc sống gia đình đơn giản, ít ai nghĩ đó là một người đàn bà một thời, nắm một biệt đội tình báo với những viên chức gan dạ, dưới một danh hiệu mỹ miều là ”Thiên Nga”, đã làm cho hạ tầng cơ sở của Cộng Sản ở miền Nam phải lo sợ và làm cho bạn bè, chiến hữu phải nể phục.

HUY PH
ƯƠNG

No comments:

Post a Comment

Followers

Blog Archive