Tổ tiên ta đã sống bên sông Hoàng Hà, cạnh núi Thái Sơn.
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
để ghi dấu cái nôi văn hóa đầu tiên của dân Việt.
Thái Sơn là cái nôi văn hóa đầu tiên từ thời cổ đại của dân tộc Việt nhưng đã bị mất trong cuộc giao tranh,
đây là cuộc di tản đầu tiên của dân Việt.
Sau khi Thái Sơn bị Hoàng Đế xâm chiếm, con cháu Thần Nông đã rút về Động Đình Hồ vùng Lĩnh Nam để xây dựng lại căn cứ địa văn hóa,
Gánh vàng đi đổ sông Tương*,
Đêm nằm mơ tưởng đi mò sông Ngô.
Câu ca dao này nói đến cuộc chạy loạn của tộc Việt bị giống Hoa Hạ xâm chiếm.
Đây là cuộc di tản lần thứ hai của dân Việt.
Khi Lữ Gia thất trận, các sắc tộc Bách Việt thuộc nước Nam Việt đã chạy về Phong Châu** ở phương nam hội nhập vào Âu Lạc để xây dựng lại căn cứ địa văn hóa. Đây là cuộc di tản lần thứ ba


Địa điểm của núi Thái Sơn (dấu chấm)
Mất bản địa Thái Sơn (tỉnh Sơn Đông, bắc Trung Hoa), Con cháu Thần Nông đã rút quân về Động Đình Hồ để xây dựng căn cứ địa văn hóa mới cho dân Việt. Tướng của Đế Minh là Xi Vưu ở lại giữ Thái Sơn và sau ba năm chiến đấu chống tù trưởng của nòi Hán là Hiên Viên, quân của Xi Vưu tan rã và từ đó, dân Việt mất căn cứ địa văn hóa Thái Sơn. Hiên Viên chiếm được thái Sơn lên ngôi là Hoàng Đế. Ngày nay, dân tộc Việt chỉ còn câu ca dao:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
cái nôi văn hóa đầu tiên của dân Việt.
Khi con cháu Thần Nông đã rút về Động Đình Hồ vùng Lĩnh Nam để xây dựng lại căn cứ địa văn hóa lần thứ hai, thì miền Lĩnh Nam được sử tây phương viết như sau:
“Lĩnh Nam là vùng đất phía nam của rặng Ngũ Lĩnh gồm các rặng Đại Dũ /Dữu Lĩnh, Kỵ Điền Lĩnh, Đô Bàng Lĩnh, Manh Chữ Lĩnh và Việt Thành Lĩnh. Vùng nầy gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam và Giang Tây của Trung Hoa hiện đại. Vùng nầy do dân Bách Việt sinh sống và là tổ quốc của dân Nam Việt cổ đại”
http://en.wikipedia.org/wiki/Jiangxi
Truyền thuyết cho rằng rằng dân tộc Việt phát xuất từ Động Đình Hồ miền Lĩnh Nam. Sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp ở thế kỷ thứ 15 (XV) kể Truyện họ Hồng Bàng như sau:
“Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục dung mạo đoan chính, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình."
Địa lý nhà Chu bấy giờ chỉ kéo dài tới sông Hoàng Hà. Đến thời Chiến Quốc, khoảng 500 Trước Công Nguyên, một số dân tộc ở Nam Trung Hoa mới xuất hiện trong sử Trung Quốc. Nổi bật nhất là các nước Sở, nước Ngô và nước Việt.
Cổ sử Trung Hoa dùng chữ “người Kinh” để nói đến dân tộc Sở và một số dân tộc phía nam sông Hoàng Hà.
Đến đời Tần Hán (256-195 TCN), khi các nước Sở, Ngô, Việt bị Tần Thủy Hoàng sát nhập vào Trung Hoa, phía nam nước Sở vẫn còn là chủ quyền của các dân tộc Bách Việt hoàn toàn độc lập và tự chủ. (Xem bản đồ Trung Hoa thời Tần Thủy Hoàng. Như thế cho đến khoảng 195 năm Trước Thiên Chúa, một vùng địa lý to lớn miền Hoa Nam ngày nay là lãnh thổ của các giống dân Việt.
Khi Lưu Bang cướp ngôi nhà Tần ở phương bắc, thì ở phương nam, Triệu Đà thống lĩnh các nước Bách Việt trong đó có cả nước Âu Lạc của tổ tiên chúng ta để lập ra nước Nam Việt. Đó là cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ nhất.
Nhà Triệu truyền ngôi được bốn đời thì bị nhà Hán xâm chiếm và miền Lĩnh Nam bị bắc thuộc từ đó.
Đến thời kỳ Hai Bà Trưng, 40 năm Sau Công Nguyên, Hai Bà đã chiếm lại toàn vùng Hoa nam. Sử viết: “Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương.”
Đây là cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ hai.
Truy tầm nguồn gốc Bách Việt của dân tộc Việt cần để ý các vấn đề sau đây:
• Từ thời cổ đại cho đến khi nhà Triệu mất ngôi (111 TCN), dân tộc Việt đã chiếm lĩnh miền Hoa Nam. Một số nước Việt giáp biên giới với nhà Chu thường được đề cập đến trong sử sách Trung Hoa, đó là Sở (Kinh Việt), nước Việt (với Việt Vương Câu Tiễn), Ngô Việt (với Ngô Phù Sai). Khi nhà Tần thống nhất thiên hạ, các nước Việt trên bị sáp nhập vào nhà Tần. Còn các nước Việt khác như Âu Việt, Mân Việt, Thái Việt, Điền Việt, Lạc Việt, Việt Thường và một số nước Việt khác phía nam vẫn còn giữ được nền độc lập.
• Cần nghiên cứu thêm nguồn gốc của chữ "người Kinh". Cổ sử Trung Hoa dùng chữ “người Kinh” để nói đến dân tộc Sở và một số dân tộc phía nam sông Hoàng Hà. Tại sao ngày nay người Việt tự gọi là người Kinh để phân biệt người Việt với người thuộc chủng tộc khác.
• Cần xem khám phá của Stephen Oppenheimer tác giả Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia (Địa Đàng ở Phương Đông: Lục Địa Đông Nam Á Bị Chìm Dưới Đáy Biển) để thấy nền văn minh Hoa Nam trải dài xuống Đông Nam Á và các hải đảo ở Thái Bình Dương. Các dân tộc như Mân Việt, Ngô Việt, Âu Việt gồm các bộ tộc, Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Hẹ, Hải Nam, Đài Loan, Thái, Nam Dương và các thổ dân ở vùng đảo Thái Bình Dương đều có nguồn gốc Bách Việt.
• Do các dân tộc Bách Việt đã sinh sống ở miền Hoa Nam trước khi vùng nầy bị Tần Hán xâm lược, dân Việt phải là chủ nhân ông nền văn hóa thời bấy giờ. Các khám phá khảo cổ về văn minh Hoa Nam trước thời Tần và Hán thuộc phải được coi là chỉ dấu của văn minh Việt, chứ không thể là của Hán tộc. Người Việt cần phải coi đó là di sản của Việt tộc và phải mạnh dạn giành lại chủ quyền văn hóa của mình.
Quốc hồn và quốc túy của một dân tộc là gốc của lịch sử. Một dân tộc mất quốc hồn và quốc túy là một dân tộc sẽ bị lịch sử đào thải. Tìm về cội nguồn chính là quá trình tìm lại hồn sử.
°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°
**Trong 10 thế kỷ thời Bắc Thuộc:
• Đất Lĩnh Nam – miền Nam núi Ngũ Lĩnh – hay “Quảng Châu” và các thị tộc “Bách Việt” sống trên đó đều dần dần bị Hán hóa, bị đồng hóa.
• Nhưng đất “Giao Châu” của ta (như tên gọi sau này) lại làm ngược: Việt hóa những người Hán trôi dạt xuống miền Nam, hoặc được phái xuống cai trị dân Nam.
Từ những mảnh vụn của thời Bắc Thuộc mà gom lại thành một thực thể thống nhất và vững mạnh hơn, đó là công lao của nhà Lý. Đại Việt khi ấy thực sự là cường quốc Đông Nam Á.
**Sông Tương hay là Tương Giang hoặc Tương Thủy là chi nhánh của con sông chính Trường Giang chảy qua tỉnh Hồ Nam.
Sông Tương phân thành hai dòng và cùng đổ vào hồ Động Đình.
**Sông Trường Giang, hay sông Dương Tử Giang (Yangtze Kiang), (Yangtze Kiang), còn có tên gọi là Sông Dương Tử, Yangtse).

Sông Dương Tử (Yangtse River)
----------------------------------------------
Bách Việt (Yue Peoples) & Lạc Việt (Luo-Yue = Vietnamese) Luo Yue/Lạc Việt
Bach Viet (Yue Peoples) Truth-Yue/Bách Việt

Bai Yue and their descendents have always lived on rivers and have become masters of irrigation systems for wet paddy rice cultivation. Even today they construct weirs, bamboo aqueducts, Persian waterwheels, which extracts power from the flow to raise water, foot-powered pumps that move a train of bamboo buckets from the flooded side to the non-flooded side.
They were also expert in fighting from shallow draft boats, which would sweep down a river with warriors in feathered headdresses at the gunwales shooting poison arrows at a larger foot or mounted force caught on the bank.
Family life and names were strikingly different from those of the Han. Barlow suggests that the common family name Huang, Chinese 黄, was homophonous in Zhuang with Wang 王 ‘king’ and was less a surname and more a title, cf. as an example the Vietnamese figure Hùng Vương (King of Hùng), the ruler of Vӑn Lang.
Source: The Power of Language Over the Past
Jerold A. Edmondson
Department of Linguistics and TESOL
The University of Texas at Arlington
Arlington, TX 76019-0559 USA
J.Edmondson@sbcglobal.net
Yue Peoples (Luo-Yue = Vietnamese) Luo Yue/Lạc Việt
…. “About 2,000 or more years ago, South of Dương Tử river existed a distinct culture called Bách Việt or 100 Việts (the Chinese even grudgingly admit this fact) of which the modern Vietnamese and the Thais are decendents. (In fact, Thai and Viet languages shared common grammar and basic words, giving the geographical separation, it is even more amazing. Lạc Long Quân and Âu Cơ may have some relation here).
In this Bách Việt culture, the people already invented the rice culture and the bronze civilization. "Mười Hai Con Giáp" (12 animals horoscope) is not a Chinese invention, it's Bách Việt, therefore; it is very Vietnamese in nature. Ask yourseves why the Chinese call one of their five gods Thần Nông (Shennong: god of agriculture) but not Nông Thần (as it is the correct grammatical way to say in Chinese). Yet, Thần Nông sounds perfectly Vietnamese. What's more? Kinh Dịch (I-Ching, Book of Change) is an invention of the Bách Việt too. Again, why don’t they (Chinese) say it Dịch Kinh as it's supposed to in Chinese grammar? Yet, Kinh Dịch sounds perfect in Vietnamese. If you carefully look at the face of any bronze drums you'll see the Quẻ (trigrams and hexagrams) symbols. A student of Kinh Dịch will easily detect that. Phong Thủy (Fong Shui) is a branch of Kinh Dịch.
The Tần dynasty and subsequent dynasties expanded southward and applied a policy of culture genocide. They systematically destroyed all cultures in the countries that they invaded (they are doing it right now at this moment in Tibet), rewrote the history and claimed for themselves any advancements as to be theirs, invented by the Hán race. The Cantonese, Hẹ, Tiều etc... Once, were part of Bách Việts; however, they were assimilated by the Han. Even so, they were able to maintain some form of their original languages; therefore, their Chinese sound funny. 900 years of Chinese domination in Vietnam, the Han failed to do the same thing to the Vietnamese. The Vietnamese were able to resist and prosper as a result. The entire Southeast Asian countries should be grateful for Vietnam, otherwise there wouldn't be Campuchia, Thailand, or Malaysia etc…
Một thế hệ lưu manh nhồi nhét 


No comments:
Post a Comment