Monday, November 19, 2012



kaleidoscope


Khoa học kỹ thuật phục vụ cuộc sống-
Tôn giáo giáo dục cứu rỗi linh hồn

http://www.pagewash.com//nph-index.cgi/010110A/uggc:/=2fjjj.ghnacunz.bet/pigf.zc3

Chợt có,
chợt không
Phù du một kiếp
Trở về tay không."
"À ơi, Tình hãy ngủ yên,
Ngủ say đi nhé cho quên sầu đời,
Đừng thao thức nữa, Tình ơi,
Đừng mơ ánh mắt nụ cười đắm say..."
Kiếp này đã chẳng cùng nhau,
Kiếp sau nguyện sẽ xẻ sầu chia vui..."
"Bán Sầu", tảc giả chế nhạo người tình và chính mình như sau:

"Ai mua, tôi bán sầu cho
Sầu này ấp ủ đúng vừa độ men
...
Thế rồi sầu chàng ai mua
Món hàng rao bán chẳng vừa lòng ai."
"Đêm khua nghe sóng vỗ bờ,
Tưởng như tiếng của người xưa gọi về,
Một mình lặng lẽ sầu khuya,
Một mình trong những chiều lê thê buồn,"

Dòng đời xuôi ngược bao lần,
Mà hình bóng cũ vẫn hằn vết sâu"
Thực tế phân tích và suy xét, sẽ thấy rằng Shan vẫn tồn tại, và bị gọi là Sở! Còn một Shan khác đã bị Chu lấy đất chỉ là một phần của Shan, và sợ rằng Shan còn tồn tại sẽ đòi đất, và cũng sợ dân chúng của Shan đã mất sẽ phục quốc cho nên phải thêu dệt tội ác cho vua tên "Trụ 受" còn gọi là Đế Tân - 帝辛.. trở thành một ông vua dâm ô ác độc, và kết quả là... cứ lâu lâu thêm một thời gian thì "Trụ" vương lại có thêm một hình thức dâm ô ác độc để dân gian kể cho nhau nghe chơi... và lâu dần thì đủ để thành một truyện "Phong Thần" rất hấp dẫn trong dân gian...

cách diễn giải lịch sử độc quyền của Chu để gạt hẳn văn hóa có sẵn của Văn-lang hay Shan 商 qua một bên,

Đài Loan và cội nguồn Bách Việt
http://nguyen86.multiply.com/journal/item/72

tiếng HOA là tiếng VIỆT...
http://nguyen86.multiply.com/journal/item/70

Nước VIỆT 越 của VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN - 越王勾践
http://nguyen86.multiply.com/journal/item/68

reply
nguyen86 wrote on Oct 6, '09, edited on Oct 28, '09
Xem cách người Hán đồng hóa và xóa sạch tiếng nói (ngôn ngữ) của Bách Việt nói chung và của Nam Hoa nói riêng.

Cũng như cộng sản bắc Việt đã mạnh tay xóa sạch vết tích của VNCH và tiếng miền Nam để thay vào tiếng Vẹm. Có âm mưa phá hoại và bứng gốc văn hóa Việt Nam? Cũng dễ hiểu thôi vì Tàu cộng đang điều khiển Việt cộng.
Ta phải ngăn chận âm mưu này, và hãy:

Bảo vệ, duy trì, và phát huy Văn Hóa, Ngôn Ngữ Miền Nam đang có nguy cơ tiêu diệt, và diệt chủng.

Nếu chúng ta không làm, chúng ta sẽ đắc tội với thế hệ con cháu mai sau.
reply
nguyen86 wrote on Oct 6, '09, edited on Oct 28, '09
Ngay sau ngày 30 tháng 4 1975, Cộng Sản Việt Nam đã nghĩ ngay đến kế hoạch triệt hạ tận gốc nền văn học miền Nam.

“Vụ Án Hồ Con Rùa”

Bài viết: BỈ ỒI

Tác giả: Lỗ Rốn
7/25/2008
http://molangs.multiply.com/journal/item/39/39

Cộng sản tiêu diệt văn hóa phẩm thời Tiền Chiến,
“Nhân Văn Giai Phẩm” của các nhà văn, nhà thơ miền Bắc năm 1956
reply
yeuquocgiavn wrote on Oct 9, '09
Đồng ý với bạn . Nhiều người cứ nói mà không suy nghĩ . Trước 75 cách nói của người dân miền Nam Việt Nam hoàn toàn khác miền Bắc . Ngày xưa học Ngử Vựng , nay là Từ Vựng . Ngày xưa nói cách dùng chữ , ngày nay nói là cách dùng từ . Chữ vô tư trước được dùng với nghiã không thiên vị , nay được dùng với nghĩa không giống ai : ăn uống vô tư . Về nguồn gốc Bách Việt cũng đã được một nhà văn miền Nam viết trong quyển : Nguồn gốc Mả Lai của dân tộc Việt

ANCIENT VIETNAMESE LANGUAGE & WRITING (KHOA ĐẨU) SYSTEM



Cảm ơn bác PD giúp cháu diệt tên việt cộng Khù .
Và xin ghi nhận những lời các bác comment ủng hộ cóc Hải .
Chúc chủ nhật vui


PDdigitalpassion # Sunday, November 18, 2012 4:10:06 PM
To anonymous: Nó có theo dõi thì cũng chẳng ích gì, vì cả nước nó xì xầm bất mãn. Nếu muốn theo dõi hết mọi người thì chỉ có cách mướn một nửa nước làm công an thì mới xong. Còn nếu ít hơn thì... hai đánh một không chột cũng què.

Nhắc lại chuyện "vẽ lịch sử"... Ngày xưa, 1979, Trung Quốc mang quân sang đánh VN xong rồi rút về. VN huêng hoang tuyên bố là "mình giỏi quá" nên TQ thua phải bỏ chạy. Thế là đám con nít ùa nhau bố láo bố lếu (điển hình là mấy thằng dốt VC trong O).

Sự thật thì nếu không nhờ thằng Mỹ "chơi đểu" thì TQ đã đánh phù mỏ VN rồi. Lúc TQ mang quân sang, "Liên Bang Sô Viết" lúc đó là đàn anh VN, thấy thế bèn mang các chiến hạm sang màu mè hoa lá cành. Mỹ hứa hẹn lăng nhăng với TQ xong, rồi hạm đội hải quân Mỹ lại ngồi chơi sơi nước, chẳng làm gì cả, chỉ... đậu ngoài biển ngó. Vì kỹ thuật quân sự của TQ chỉ là đồ copy, ăn cắp và sẽ không đương đầu với Sô Viết được, nên TQ thấy tình hình bất lợi và rút quân.

Tuy nhiên Nga lúc đó cũng đã bắt đầu kiệt quệ về kinh tế. Có chạy vòng vòng cũng chỉ là con cọp giấy, dọa dẫm vớ vẩn cho vui. Cũng vì biết thế nên Mỹ thụ động ngồi xem lũ cộng sản dốt đánh nhau.

... kẻ chiến thắng là người "vẽ" lịch sử.

Vài lời với mấy anh VC: Các anh có quyền cãi cọ, nhưng các anh nên tự đặt câu hỏi và tìm câu trả lời cho mình: Ngày xưa "chống Mỹ cứu nước", thế thì tại sao bây giờ "Đảng" lại trải thảm đỏ mời cái thằng "thua cuộc" lúc trước đến nhà và cầu cứu vì TQ đang ăn lần cái xác VN từ trong ra ngoài?

Yêu nước thì hãy tự tìm giải pháp và giải cứu dân tộc. Nên nhớ một điều: chính trị đồng nghĩa với phe đảng. Thời điểm này mà còn cãi cọ lăng nhăng chỉ là phản quốc.

Mà nếu các anh đã là phản quốc thì các anh cần nhớ rằng quan điểm của tôi là quan điểm của người Mỹ. Không phải người Việt. Nếu các anh xem tôi là kẻ thù, thì tôi cũng đồng ý. Vì sự thật thì sự sống còn của Đảng CSVN không phải là điều quan trọng đối với tôi.

cố thiêu cao chúc
CHIẾU HỒNG TRANG
東風嬝嬝泛崇光,香霧空濛月轉廊。
只恐夜深花睡去,故燒高燭照紅妝。
Hải Đường
海棠 - Tô Thức 甦軾
đông phong niệu niệu phiếm sùng quang,
hương vụ không mông nguyệt chuyển lang.
chỉ khủng dạ thâm hoa thụy khứ,
cố thiêu cao chúc chiếu hồng trang.

Đêm xuân dìu dịu gió đưa hương
Mưa móc bên hiên, ánh nguyệt vương
Đêm thâu chỉ ngại hoa yên giấc
Nâng đuốc soi hoa tỏ mặt hường

(Hoa Hải Đường - vp dịch)

Tên Việt: hải đường
Tên Hoa: 海棠 (hải đường), 解語花 (giới ngữ hoa)
Tên Anh: Chinese flowering crabapple
Tên Pháp: pommier sauvage
Tên khoa học: Malus spectabilis (Ait.) Borkh.
Họ: Hoa Hường (Rosaceae)
© image Huajie LIU, Peking University 棠 [tang2] (đường) 26848 68E0 (12n)
1: Cây đường, có hai thứ trắng và đỏ, thứ đỏ dắn mà dẻo, đời xưa dùng đóng can cung, thứ trắng có quả ăn được. Kinh Thi có câu: tế phế cam đường 蔽芾甘棠 rườm rà cây cam đường, nói chỗ ông Triệu Bá 召伯 xử kiện cho dân, người sau lưu làm chỗ ghi nhớ. Nay gọi cái ân trạch của quan địa phương lưu lại là cam đường 甘棠, là triệu đường 召棠 là bởi cớ đó.
2: Cây sa đường 沙棠 gỗ dùng để đóng thuyền. 棠 [tang2] /cherry-apple/ [Tự Điển Thiều Chửu Online & CEDICT] -- * táo tây 蘋果(bình/tần quả) M. pumila Mill. * common crabapple (M. sylvestris) * flowering crabapple (M. sargentii) * Japanese flowering crabapple (M. floribunda) * hải đường (xuân) 海棠, 海棠椿 Camellia amplexicaulis (Pit.) Cohen “ Hải đường lả ngọn đông lân ”, Vĩnh Sính Diễn Đàn
Xin phép bạn Phạm Văn Bân thuộc khoá 7 Chính Trị Kinh Doanh thuộc trường Đại học Đalạt cho post bài viết của bạn đã đóng góp 5 năm trước trong "THỤ NHÂN" để có thêm phương tiện dạy con cháu viết tiếng Việt.


“Vát Than Nặng Thở Thang”


Khi đọc tựa của bài này, nếu bạn không thấy viết sai chánh tả thì xin bạn...duyệt xét lại khả năng viết tiếng Việt của bạn. Tôi xin đưa thêm vài thí dụ để bạn tự phán xét :
“Té chưới vô bượi chúi”"Paulus Huình Tịnh Của”, "Nguiễn Khuiến”. Có gì sai hoặc...kỳ kỳ không?

Các thí dụ trên rất phổ biến khi dạy về chánh tả tiếng Việt. Viết
“c” hay “t”, “g” hay không “g”, dấu “hỏi” hay “ngã”, vần “úi” và “ưới”, ụi” và ượi”, “i” “y”, v.v...là một vài vấn đề mà chúng ta nên chú ý khi viết tiếng Việt.


Có phải vì là tiếng mẹ đẻ nên chúng ta chủ quan, không lưu ý viết cho đúng chánh tả? Hay vì...lười? Hay vì phát âm sai cho nên viết sai? Hay vì vấn đề chánh tả không quan trọng gì hết, miễn sao người khác hiểu chữ và ý mà bạn muốn thông đạt là được rồi? Để trả lời cho những câu hỏi này, xin hỏi bạn rằng nếu trong trường hợp nào đó, bạn viết tiếng Anh, bạn có viết như sau không: He do thiz becose himseo love I so much. Hỏi tức trả lời.


Không viết thì thôi, còn nếu đã viết thì cố gắng viết cho đúng chánh tả càng nhiều càng tốt. Điều may mắn cho chúng ta là tiếng nói và chữ viết Việt Nam không đến nỗi rắc rối quá như các thứ tiếng khác. Tuy vậy, bạn, người Việt Nam, vẫn phải bỏ thì giờ và công sức học hỏi nếu bạn muốn nói, viết và sử dụng tiếng Việt tương đối đúng nghĩa và thông thạo. Tôi dùng chữ “tương đối” bởi vì trên nguyên tắc, tất cả chúng ta đều phát âm sai, viết sai và trong chừng mực nào đó, không hiểu được tường tận ý nghĩa của tiếng mà chúng ta sử dụng!


Để hiểu tiếng Việt đến mức
“thấu tình đạt lý”, bạn không có cách nào khác là phải am tường cái gốc 70% tiếng Hán của nó! Nếu không học tiếng Hán thì phải có tự điển tiếng Việt để tra chánh tả và nghĩa chữ. Còn nếu sử dụng máy điện toán cá nhân thì nên mua software VNI Tân Việt 2000, trong đó bộ “Việt Nam Tự Điển” của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ đã được bỏ vào, cùng với bộ phận sửa lỗi chánh tả “Thầy Cò 2001”.


Tiếng Việt rất phong phú về âm, vận và thanh. Vì vậy, khi mượn bộ chữ Latin để ký âm tiếng Việt, các nhà truyền giáo đã phải sáng tạo nhiều ký hiệu CHỮ để phản ánh cho đúng giọng nói, cũng như để phân biệt các âm gần giống nhau. Công trình này là một tài sản quý báu vô vàn cho dân tộc Việt Nam mà chúng ta đang thừa kế, mặc dù chưa được hoàn chỉnh ở một vài chi tiết. Hệ thống chữ viết này xây dựng trên một nguyên tắc then chốt : nói sao, viết vậy. Hầu hết các tranh cãi về chánh tả tiếng Việt đều xuất phát từ nguyên tắc này.


Căn cứ vào đâu mà nhận xét đúng hay sai chánh tả? Một khi bạn cho rằng viết “
vát” là sai, phải viết “vác”, “than” phải viết không có “g”, “thở thang” phải viết “thở than”, “Huình” phải viết “Huỳnh”, v.v... tức là bạn đã chấp nhận một nguyên tắc phổ cập trong ngôn ngữ: quy ước chung được đa số mọi người chấp nhận. Cái gì không phù hợp với quy ước chung là sai - mặc dù quy ước chung đôi khi không hợp lý! Cho đến khi nào chúng ta có một hàn lâm viện thống nhất các vấn đề còn đang tranh cãi thì mới chấm dứt được. Trong khi chờ đợi thì vẫn cứ...”mổ bò”.


Tiếng Việt Nam thống nhất cho nên việc ký âm (ký hiệu âm thanh-phonetic symbols) để sáng tạo một hệ thống chữ viết chung cho cả nước sử dụng là điều có thể làm được. Trái lại, tiếng Trung quốc phát âm hoàn toàn khác nhau từ tỉnh này đến tỉnh kia, vì vậy, hầu chắc không thể thống nhất theo kiểu chữ Latin được mà mãi cho đến nay, chỉ có thể thống nhất theo hệ thống chữ tượng hình, biểu ý: viết cùng một loại chữ nhưng đọc khác nhau.


Vì hai kiểu chữ khác nhau, vấn đề phiên âm nảy ra. Khi viết về tên địa phương hoặc nhân vật Tây phương, người Trung quốc không có cách nào khác hơn là phải phiên âm. Nếu đang viết một loạt chữ Hán mà chen vào kiểu chữ Latin thì quả là điều hết sức phiền toái cho người viết cũng như người đọc, bởi cái cốt lõi của chữ Hán là biểu ý, không ráp vần lại mà đọc được, phải học thuộc lòng cách phát âm của từng chữ một và phát âm theo giọng Bắc kinh hay địa phương là tùy theo người học. Người Trung quốc bắt buộc phải phiên âm tòan bộ tên ngoại quốc để thông đạt trong tiếng Hán.


Câu hỏi đặt ra là người Việt Nam có nên bắt chước phiên âm không? Theo thiển ý của tôi, chúng ta không nên phiên âm bởi lẽ rất đơn giản là chúng ta sử dụng hệ thống chữ Latin để ghi lại giọng đọc. Chúng ta có thể viết lại đúng nguyên văn tên gốc của địa phương hay nhân vật và mọi người Việt Nam đều có thể đọc được - đọc trúng giọng hay không là chuyện khác, nhưng ít nhất là đọc được.


Nên viết
New York, Washington, Portugal, Spain, tránh viết Nữu Ước, Hoa Thịnh Đốn, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha (có khi lại phiên âm là Y Pha Nho), v.v... bởi vì cuối cùng, cái gốc của việc phiên âm này chỉ xuất phát từ khổ nạn của bản thân chữ Hán mà thôi. Chữ viết Việt Nam theo mẫu tự Latin không dính dáng đến khổ nạn này. Khi phân tích về âm “gi” và “d”, trong bài “Chánh tả với tự nguyên”, viết ngày 29/05/1953, GS Lê Ngọc Trụ viết:


Chúng ta hay lầm lẫn hai âm “gi” và “d”; nếu không xét nguồn gốc thì khó phân biệt. Như tiếng “Gia Tô”: đúng theo nguồản gốc của nó phải viết “D”: Da Tô. Tiếng Da Tô là tên “Jésus” dịch âm. Có lẽ các cố đạo khi xưa đã tùy cách phát âm mỗi xứ mà âm tên của Chúa Jésus. Ở Việt Nam thì âm Giê Su, phát âm gần giống với tên Jésus; âm “Gi” ghi đúng âm “J”. Ở Trung Hoa thì ghi âm: Dè Xố Kí Lị Xứ Túc (Jésus Christ). Tiếng Trung Hoa không có âm “J”, phải mượn âm “D” thế. Phát âm theo giọng Hán Việt thì là “Da Tô Cơ Lợi Tư Đốc”. Sau ta mượn dùng, gọi tắt là đạo “Da Tô” hoặc đạo “Cơ Đốc”. (Cơ Lợi Tư Đốc thâu bớt).”


Muốn viết đúng chánh tả Việt Nam thì phải phát âm cho đúng. Cái khổ là không người Việt Nam nào phát âm đúng cả! Người miền Bắc nói sai các âm “
Ch Tr “, “X S”, “Gi, D Z” nhưng giọng “hỏi, ngã” và các âm cuối chữ như “c/t”, “ai/ay”, “ao/au”, “ăng/ăn”, “ác/át”, v.v...lại nói đúng. Nếu áp dụng nguyên tắc “nói sao, viết vậy”, người miền Bắc sẽ viết:


Chuyện chò lòng zòng cũng như đọc chuyện: có zì xung xướng đâu?

(Chuyện trò lòng vòng cũng như đọc truyện: có gì sung sướng đâu? )


Chữ “
chuyện” là tiếng Việt thuần túy, còn gọi là tiếng nôm, nghĩa là việc hoặc sự gì đó được bàn bạc với nhau: chuyện trò, chuyện vãn, nói chuyện.
Còn “
truyện” là tiếng Hán Việt, nghĩa là sách chép sự việc truyền lại đời sau: truyện cổ tích, truyện ký, liệt truyện.


Xung xướng có lẽ để nghe cho dịu đi, xin bạn thử nói: “Sờ soạng sung sướng” và lắng nghe giọng đọc của bạn thì sẽ thấy hơi khó phát âm và khó nghe. Người miền Trung lại phát âm rất khác nhau. Người Nghệ Tĩnh nói rất đúng các âm khởi đầu, nhưng lại không nói rõ dấu hỏi, ngã hoặc ngã, nặng. Đi dần vào Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định thì giọng nói khá nặng. Nếu áp dụng nguyên tắc “nói sao, viết vậy”, người Quảng Ngãi sẽ viết:

 
-Eng thì eng, không eng tét đèn đi ngủ. (Ăn thì ăn, không ăn tắt đèn đi ngủ).


Đi về phía Nam nữa, như Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết thì tiếng nói lại pha trộn âm hưởng của dân Chiêm Thành, giọng nói nhẹ hơn. Tiến đến miền Nam thì giọng đọc khác hẳn miền Bắc. Trong cuốn “Chánh tả Việt Ngữ”, trang 22-23, giáo sư Lê Ngọc Trụ viết:


“Có lẽ nhờ khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long và đất đai phì nhiêu dễ sanh sống mà người miền Nam ít hay chịu khó. Cứ nói những vận “dễ”, thêm tật “ít chịu khó” (principe du moindre effort) - tật mà ông Phan Văn Hùm gọi là sự “lười tự nhiên” - đã đổi luôn mấy vận “khó” cho trở thành vận “dễ”, lâu đời thành quen, không sửa chữa được và không biết sai mà sửa chưã.”


Cùng với tật “
ít chịu khó” ấy, người Nam phát âm “v” ra “b”, “gi” ra “d”, “hoa” ra “qua”.

Tóm lại, trong Nam phát âm sai nhiều bởi tại không cố gắng nói đúng những giọng “khó”, và vì vậy, nên thường viết sai. Các vận khó đối với người miền Nam là:


ay đọc thành ai,
iêm, iêp, iêu đọc mất chữ ê thành im, ip, iu;
au đọc thành ao;
ượi, ươi, ươu đọc mất chữ ô, ơ thành ứi, ưi, ưu;
âm, âp đọc thành ăm, ăp;
ong, oc, ươm, ươp, ơm, ơp
đọc thành ông, ôc, uôïm, uôp, ôm, ôp.

Ngoài ra, người miền Nam không phân biệt dấu hỏi, ngã: tất cả đều đọc theo dấu hỏi. Có lẽ do hoàn cảnh lịch sử, gốc tích của người Việt Nam phát xuất từ đồng bằng sông Hồng và sau đó tiến dần vào miền Nam nên giọng Bắc chính là giọng nguyên thủy Việt Nam và người ta đã mặc nhiên chọn giọng miền Bắc làm tiêu chuẩn. Một hiện tượng dễ nhận thấy là trừ khi hát Cải lương, tất cả mọi người không phân biệt miền, vùng đều sửa giọng để hát theo giọng Bắc hết.


Phát âm đúng thì viết đúng chánh tả. Nhưng có lẽ chúng ta nên làm ngược lại: viết cho đúng chánh tả rồi học cách phát âm từ cách viết! Hầu hết các trường hợp sai chánh tả dẫn đến sai ý nghĩa của chữ, đặc biệt là sự lẫn lộn giữa tiếng Việt thuần túy (Nôm) với tiếng Hán Việt, trong đó khổ nạn phát âm sai vì các âm đầu và âm cuối gần giống nhau, hoặc vì dấu hỏi, ngã, hoặc vì tiếng đồng âm quá sức nhiều làm ý nghĩa của đa số tiếng bị lầm lẫn! Dưới đây là vài thí dụ viết đúng chánh tả :

1- D, GI và V:
Da: da cóc, da dẻ, da nhăn, con ma da...
Gia: thêm vào: gia roi, gia ân, gia công, gia giảm, gia hại, gia bão, gia biến, gia cảnh, gia giáo, gia huấn, gia phả, sui gia...
Va: va chạm, vi va vi *t...
Già: già cả, già khằn, rừng già, Già Lam, du già (Yoga), ngồi kiết già...
Và: anh và em, và cơm, cái tù và, chà và...
Dát: dát vàng, dát sắc, dát gan, văn dốt vũ dát...
Giác: giác hơi, cá giác...
Giát: nói giớt giát...
Vác: khiêng vác, xốc vác, vác súng, một vác lưới...
Vát: thuyền chạy vát, ván cắt vát...
Dan: dan díu, nói chuyện dan ca, dan nắng...
Dang: dang cánh chim, đứng dang ra...
Gian: gian dối, ăn gian, kẻ gian, gian ác, gian hiểm, gian dâm, gian nhà, không gian, trần gian, gian khổ, gian nguy, gian truân...
Giang: có giang xe, giang sức, giang tay, lạt giang, giỏi giang, giang sơn, giang khẩu, Tiền giang....
Van: van lơn, kêu van, xin van...
Vang: vang dội, vang lừng, tiếng vang, vẻ vang, rượu vang, vênh vang...

2/ S và X:
Sa: sa chân, sa sút, chim sa, sa mỡ, cây sa kê, Sa Đéc, sa môn, hàng sa (lụa mỏng), sa đọa, sa mạc, sa sả, sa thạch, sa trường.
Xa: xa quê hương, xa lộ, xa hoa, xa cách, xa giá, xa lạ, xa lánh, xa rời, xa tắp, xa vời vợi, xa xa, xa xăm, xa xỉ phẩm, xa xưa...
: bay sà xuống, sà vào...
Xà: xà nhà, xà niểng, khẩu Phật tâm xà (rắn), xà beng, xà ích...
Sả : sả tử (khờ khạo), sươảng sả...
Xả: xả hơi, lăn xả, nhảy xả, xán xả, xả đồ giặt, mưa xối xả, xong xả, xả kỹ (bố thí), xả mạng, hỉ xả, xả đoản thủ trường...
: xã luận, xã thuyết, xã giao, xã tắc, xã trưởng, thôn xã, hợp tác xã...
Sách: đọc sách, sách nhiễu, sách lược...
Xách: xách giỏ, đầy một xách, ăn nói xách mé...

3/ CH và TR:
Cha: tiếng kêu khi bị đau (cha ơi!), người cha...
Tra: (tiếng Nôm): lắp vào (tra cán dao), tên một loài cá....
Tra: (gốc tiếng Hán): khảo xét (tra cứu, tra khảo, tra vấn), chặt, chém, nắm lấy, v.v...
Chát: rượu chát, tiếng kêu chát chúa...
Trát: (tiếng Nôm): phết vào (trát bùn, trát vách)
Trát: (gốc tiếng Hán): tờ công văn (trát tòa)


4/ HOA, OA, QUA:
Hoa: bông hoa, hoa mắt, có hoa tay, tóc hoa râm, quỳnh hoa...
Oa: khóc oa oa, con gái đẹp; tục gọi trẻ con là oa oa...
Qua: (tiếng Nôm): tiếng xưng hô với nhau, qua cầu, qua bữa, qua quýt, tai qua nạn khỏị...
Qua: (gốc tiếng Hán): phiên âm Qua Bích (Gobi), dưa qua, can qua...
Hòa: (tiếng Nôm): hòa vốn, xử hòa, hòa thuôãc...
Hòa: (gốc tiếng Hán): lúa: hòa cốc, hòa bình, hòa lạc, điều hòa các vị thuốãc cho vưà...
Òa: khóc òa..

5/ I và Y:
Ỉ: i ỉ, bụng âm ỉ, trời âm ỉ, năn nỉ ỉ ôi...
Ĩ: ầm ĩ, òn ĩ
Ỷ: (tiếng Nôm): ỷ giàu, ỷ thế, mặt lợn ỷ...
: (gốc tiếng Hán): dựa vào: ỷ lại, ỷ quyền, kéo lại đằng sau (thế ỷ giốc), tấm bình phong, đoản ỷ, ỷ diệm, ỷ mị...
Ích: hữu ích, công ích, cây thươãc ích mẫu...
Ít: ít ỏi, chút ít...
Im: im bặt, lặng im...
Yêm: (gốc tiếng Hán): trùm cả (yêm hữu), ngâm lâu trong nước sâu (yêm bác), yêu thương (yêm ái), che dấu (yêm ẩn), ngâm ướp (yêm ngư), thiến thành hoạn quan (yêm nhân).
Ỉm: im ỉm Yểm: (gốc tiếng Hán): dìm ém đi (yểm binh), lấp đất, ếm (yểm bùa).
***
Viết
i hay “y” đã được bàn luận rất lâu, nổi bật là nhà văn Nguyễn Ngu Í. Tuy không hẳn đồng ý với các đề nghị nêu ra trong bài “Vẫn chuyện i ngắn y dài” của giáo sư Nguyễn Đình Hòa nhưng tôi xin trích dẫn một đoạn nguyên văn như sau:


“Thiên hạ quen viết lý trưởng, lý tưởng, lý trí, kỳ dị, nước Mỹ, mỹ vị, mỹ thuật, v.v... mất rồi. Thậm chí, có nhà văn còn dùng lối viết quá táo bạo: thi sỹ, họa sỹ, v.v... Lý do là người ta đã lẫn lộn con chữ "i”, dùng để ghi nguyên âm, /i/ —là âm hạt nhân hay âm chính của một âm tiết trong tiếng Việt với con chữ "y” dùng để ghi bán nguyên âm, /y/ là âm lướt xuất hiện ở đầu hoặc cuối một âm tiết và được ngành ngữ âm học ghi bằng ký hiệu [ i ]. Có điều lạ là không ai viết kỳ dỵ, lý trý cả! Thực tế, nay chúng ta bão nhau theo cách phân biệt nói trên mà viết cho đúng: ông lí trưởng, lí tưởng, lí trí, kì dị, nước Mĩ, mĩ vị, mĩ thuật, v.v... thì có người sẽ thấy lạ hoắc, không quen, nên không chấp nhận.”


Ông đề nghị 3 biện pháp sau đây:


(A) Khi một âm tiết có nguyên âm /
i/ đứng ở cuối, thì ta dần dần cố nhớ ghi nhất loạt bằng con chữ i: ăn mì Hải kí gần hơn Tùng kí, ông lí trưởng Mĩ cảnh, tiếng nói Hoa kì, thế kỉ 21,..


(B) Một biệt lệ là vần “
uy” như trong “duy, huy, khuy, nguy, quy, tuy, thúy, v.v... thì vẫn viết như cũ, NHƯNG phải đánh dấu thanh điệu vào nguyên âm chính: “huý, luỷ, quý, tuý, tuỳ, tuỹ, thuý, thuỹ, nhuy., nguy., v.v...

Để phân biệt với “
húi, lủi, cúi, túi, đùi, tủi, thui, thúi, khui, v.v...” Ta cần chấp nhận biệt lệ này vì còn có những vần phức tạp hơn như “uyên, uyêt” trong “duyên, huyên náo, khuyên, lưu luyến, quyên, tuyên truyền, thuyền, nhuyễn, nguyên, Nguyễn, xuyễn, duyệt, tuyết, khuyết, nguyệt, quyết, v.v...

(C) Nếu âm chính là nguyên âm /
i/ đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết, thì vẫn viết theo thói quen cũ : ỉ eo, ầm ĩ, im, in, y học, y khoa, ý kiến, ý nghĩa, Nguyễn Ngu Ý, v.v...

Ngoài các vấn đề trên, chúng ta nên lưu ý đến dấu hỏi và ngã. Giáo sư Lê Ngọc Trụ đã đề nghị phương pháp “Tầm nguyên”: tìm về cái gốc chữ mà giải quyết các vấn đề trong tự ngữ Việt Nam. Có thể nói đây là vị giáo sư đã suốt đời trút hết tâm huyết để xây dựng tiếng Việt và đã đưa ra nhiều đề nghị hợp lý, đúng đắn, trong đó có luật hỏi, ngã. Trong phạm vi dấu hỏi ngã, tầm nguyên có nghĩa là xác định chữ đó là tiếng Việt thuần túy (Nôm) hay tiếng Hán Việt, rồi từ đó mà kết luận về chữ được khảo cứu nên viết dấu hỏi hay ngã.

 

Phương pháp “Tầm nguyên” của giáo sư Lê Ngọc Trụ rất có lý, hoàn chỉnh nhưng đi thật sâu vào chi tiết như vậy có thể là điều không thực tế đối với thế hệ hiện nay và về sau bởi vì rất ít người Việt Nam học tiếng Hán vào thời buổi Internet này! Thêm vào đó là có khá nhiều bất đồng giữa các tự vị, nhiều ngoại lệ về dấu hỏi, ngã quá, gây trở ngại cho việc dạy và học tiếng Việt.
Suy nghĩ về cái thực tế này, tôi mạnh dạn đề nghị áp dụng luật “
Bổng, Trầm” một cách tuyệt đối để thống nhất cách viết dấu hỏi, ngã. Cứ căn cứ vào thanh âm mà quyết định:


-thanh bổng như ngang, sắc và hỏi thì đánh
dấu hỏi
-thanh trầm như huyền, nặng, ngã thì đánh
dấu ngã.

Thí dụ:

Thanh ngang: thong thả, vui vẻ, lẻ loi, nghỉ ngơi.
Thanh sắc: kém cỏi, hối hả, ngả ngớn, dở dói.
Thanh hỏi: lỏng lẻo, thỉnh thoảng, thỏ thẻ, lửng thửng.
Thanh huyền: rầu rĩ, mưa tầm tã, sẵn sàng, kỹ càng.
Thanh nặng: cặn kẽ, vội vã, cãi cọ, dữ dội.
Thanh ngã: lỗ lã, lã chã, mãi mãi, đi lẫm đẫm.

Kết luận:
Cấu trúc tiếng Việt là một tổng hợp của nhiều tiếng nói của khá nhiều giống dân. Do hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên việc xây dựng và thống nhất tự ngữ chỉ có tính cách vá víu, lẻ loi của một số cá nhân. Trong bối cảnh đó, học tiếng Việt có nghĩa là học thuộc lòng chánh tả và ý nghĩa của chữ, đi kèm với việc tra tự vị tiếng Việt mỗi khi mơ hồ. .........

 


 

KHẢO CỨU: Viết tiếng Việt

No comments:

Post a Comment

Followers

Blog Archive