Monday, November 19, 2012

Học tiếng Nhật - vì sao tiếng Nhật lại có nhiều hán tự?

hoc tieng nhat ban, hoc tieng nhat, han tu

Học tiếng Nhật - vì sao tiếng Nhật lại có nhiều hán tự ? Nhật Bản là một nước láng giềng của Trung Quốc, trong thời cổ đại nước này đã có nhiều mối quan hệ trao đổi với Trung Quốc.

Dưới triều nhà Tùy và nhà Đường, nền kinh tế của Trung Quốc phồn vinh, văn hoá phát triển hưng thịnh. Nhật Bản trước sau đã cử đi mười ba nhóm “Khiển Đường Sứ” (sứ giả phái đến nhà Đường) tới triều đình nhà Đường để học tập, nhóm đông nhất lên tới hơn sáu trăm người. Một số kẻ đọc sách và hoà thượng Nhật Bản ùn ùn kéo đến thủ đô nhà Đường và Trường An để học tập các loại kiến thức văn hoá cùng các sách kinh điển của đạo Phật. Sau khi học tập thành công, một số người còn ở lại Triều đình nhà Đường để làm quan, nhưng phần lớn đã về nước rồi tích cực truyền bá văn hoá của triều đại nhà Đường.

Cả đến Thiên hoàng của nước Nhật thời bấy giờ cũng mời những danh sư sang bên ấy để có thể học tập văn hoá của nhà Đường, đồng thời Thiên hoàng cũng bổ nhiệm một số lưu học sinh từ triều nhà Đường trở về trao cho họ trách nhiệm mô phỏng theo các chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá của nhà Đường để tiến hành cải cách trong nước. Chuyện này được lịch sử ghi lại với cái tên là “Đại hoá cách tân”.

Những người có học của Nhật Bản tới lưu học tại triều đình nhà Đường đã tinh thông văn hoá Trung Quốc, họ sử dụng thể chữ thảo và những bộ của chữ Hán nhằm sáng tạo ra một thứ văn tự để viết tiếng Nhật gọi là “binh giả danh” (Katakana) và “phiến giả danh” (Hiragana). Trong số các chữ này có những chữ Hán được hoàn toàn để nguyên, chỉ có cách đọc bị đổi khác mà thôi.

Trong thời kỳ cận đại, Nhật Bản tiếp thu kinh nghiệm tiên tiến của các quốc gia phát triển ở phương Tây để tiến hành cải cách, nhờ đó họ phát triển rất nhanh về văn hoá và đã vượt Trung Quốc.

Từ cuối thế kỷ XIX, một số phần tử trí thức ở Trung Quốc lại kéo nhau sang Nhật để học tập kinh tế, và văn hoá của Nhật Bản. Vì trong ngôn ngữ Nhật Bản có nhiều chữ Hán, cho nên khi xuất dương những người này không phải học ngữ văn tự mà vẫn nhanh chóng thích nghi được. Chẳng hạn như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, hai vị này vừa tới đất Nhật đã có thể đối thoại giao lưu ngay với những người có học ở Nhật Bản, tất cả đều dựa vào ảnh hưởng của truyền thống văn hoá Trung Quốc với Nhật Bản.
flam12
flam12 wrote on Nov 17, edited on Nov 17
flam12 wrote on Nov 17, edited on Nov 18
Bách Việt Sử - Những lớp bụi mờ của lịch sử

Nguồn
flam12 wrote on Nov 17
he entire population of the valley is about 11.800 (2011)
flam12 wrote on Nov 17, edited on Nov 17
Nước VIỆT của VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN –
越王勾踐 - và MÂN NGỮ - 闽语


Đỗ Thành


Nước Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc nhà CHU ở phía nam của nước NGÔ, kinh đô là 会稽 HỘI KẾ - ở vùng THIỆU HƯNG - HÀN CHÂU ngày nay.


VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN: sinh năm 520 năm trước công nguyên, và mất năm 465 năm trước công nguyên.

Có thể nói rằng đa số ai cũng biết câu chuyện nổi tiếng trong lịch sử nầy, sử, truyện và phim của truyện vẫn tiếp tục lôi cuốn khán giả.

Thời ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC có nước Sở ở phía nam ngày càng lớn mạnh rồi xưng bá Trung Nguyên ở Trung Quốc và không ngừng khuyếch trương thế lực cũng như đất đai.

- Sở là một đe dọa lớn thường tấn công nước Ngô, Sở và Việt, ̣Đồng tông Đồng tộc, Việt thường giúp Sở mỗi lần đem quân chinh phạt Ngô; năm Châu Kính vương thứ 23 - trước công nguyên 497 năm - Sở và Việt liên quân đánh Ngô, vua Ngô HẠP LƯ cầm quân ra trận đối địch với VIỆT VƯƠNG CÂU TIẾN bị vua Việt bắn trúng mũi tên nên bị thương rồi chết.

NGÔ PHÙ SAI lên ngôi thay cha và luôn canh cánh mối lo và mối thù với nước Việt, nhờ có tướng tài là NGŨ TỬ TƯ, NGÔ vương đã trả được mối thù thật tàn khốc, nước VIỆT bị mất vào nước NGÔ. Nhưng, NGÔ PHÙ SAI không nghe lời lão thần NGŨ TỬ TƯ, không giết VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN khi vua Việt trá hàng để nuôi chí phục thù. Vua Câu Tiễn nhờ có hai quan đại phu là PHẠM LÃI và VĂN CHỦNG thực hiện 10 kế hay cùng mỹ nhân kế là dùng TÂY THI làm gián điệp mê hoặc NGÔ VƯƠNG.

Nhờ vậy nên sau một thời gian nằm gai nếm mật, VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN đã tiêu diệt nước Ngô, giết NGÔ PHÙ SAI và thống nhất hai nước NGÔ và VIỆT, Từ đó, nước Việt lớn mạnh hơn, lại đem quân vượt sông Hoài lên phía bắc xưng bá chủ Trung Nguyên, được CHÂU NGUYÊN VƯƠNG 周元王 sắc phong là Hầu Bác, tước vị là Tấn Bác vị, sau đó vua Việt Câu Tiễn dời thủ đô đến Lang Nha 琅琊 hoàn thành bá nghiệp.

Ghi chú: thời nhà Chu suy nhược thì vua Chu chỉ là hữu danh mà vô thực, chỉ có vua của nước chư hầu nào mạnh nhất mới thực sự có thực lực và thực quyền và được xưng là BÁ CHỦ.

- Lang nha 琅 琊, Lang Nha quận là đất thuc về phía đông nam của bán đảo SƠN ĐÔNG, bán đảo SƠN ĐÔNG có ngọn núi là Thái Sơn 泰山 nổi tiếng hùng vĩ toàn TRUNG QUỐC, khảo cứu câu chuyện trên thì không ai lấy làm lạ là tại sao trong ca dao VIỆT NAM từ lâu nay có câu:

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.


Thử tìm hìểu chữ Viết và tìếng nói của dân Việt của Việt Quốc thời VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN:


Việt vương Câu Tiễn kiếm

Năm 1965 tại tỉnh HỒ BẮC 湖 北, vùng Kinh Châu (GIANG LĂNG) ở VỌNG SƠN, người ta đào được từ dưới đất của một khu di tích lịch sử, lăng miếu thuộc triều đại nhà Sở một thanh bảo kiếm cổ xưa cuả VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN.


Trên kiếm có khắc tám chữ VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN TỰ TÁC DỤNG KIẾM "越 王 鸠 浅 自 乍 用 剑", chữ CÂU TIỄN thời tiền Hán là 鸠浅 và ngày nay viết là 勾践, chữ Tác khi xưa là 乍 và bây giờ là 作.


Hiện giờ thanh bảo kiếm được trưng bài và bảo quản ở bảo tàng viện Hồ Bắc, đây là một bảo kiếm qúi hiếm tự cổ chí kim, với khoa học tiến bộ của ngày nay mà người ta vẫn chưa biết làm sao để đúc được thanh kiếm bị chôn vùi dưới đất hơn hai ngàn mấy trăm năm mà không bị r sét và hư hoại, kiếm vừa đào lên khỏi mặt đất thì người ta kinh ngạc bởi sự toàn vẹn mà còn lấp lánh hào quang, thử rạch nhẹ một cái là xuyên đứt hơn 20 lớp giấy, để cọng tóc thổi thử là đứt ngay, quả là một bí ẩn của phương pháp đúc kiếm của người VIỆT thời xưa mà hiện giờ không ai làm được. !uý vị có th xem phần thử kiếm của một thanh kiếm tại
trang youtube nầy:


và copy chữ "越王勾踐劍" nầy vào khung Search của youtube để tìm là sẽ xem được đon video của Việt Vương Câu Tiễn kiếm; hay là copy hoặc
vào trang nầy:

Mân ngữ - 闽语: 8 chữ "越 王 鸠 浅 自 乍 用 剑"


Dĩ nhiên đó là chữ VIỆT, bảo kiếm nạm ngọc và chém sắt như chém bùn của Vua một quốc gia thì làm sao mà dùng chữ của dân tc khác được, chữ xưa là tượng hình rồi biến đổi dần, chỉ có chuyên gia nghiên cứu đọc quen mới nhìn ra.


Đó là chữ viết mà ngày nay người ta gọi là TRUNG VĂN hay là chữ HÁN VIỆT, trong khi từ hơn 2.500 năm về trước thì chữ đó đã là chữ VIỆT, của nước Việt, của người VIỆT nói tiếng VIỆT.


Tiếng Việt thời đó của Nước Việt phải là rất giống như tiếng VIỆT NAM bây giờ, bởi vì sau nầy nước Việt của VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN bị nước Sở xâm chiếm và thôn tính, thì con cháu của VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN chạy về hướng nam tiếp tục triều Việt ở tỉnh PHÚC KIẾN là MÂN VIỆT, và tiếng VIỆT ở vùng giang đông nầy gọi là tiếng MÂN VIỆT - vẫn tồn tại cho đến ngày nay và phát triển theo chiều di dân xuống phía nam theo hơn hai ngàn năm lịch sử kể từ khi VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN ra đời....


Tự điển hiện giờ và văn khố ngày xưa đều ghi rõ MÂN là VIỆT, là MÂN VIỆT, tiếng MÂN VIỆT trải dài từ HÀN CHÂU ngày nay xuống phiá nam đến vùng PHƯỚC KIẾN, TRIỀU CHÂU, đến bán đảo LÔI CHÂU, qua biển đến đảo ĐÀI LOAN, đảo HẢI NAM... và nước VIỆT NAM, và đảo quốc Singapore; hiện nay MÂN NGỮ là một ngôn ngữ địa phương mạnh nhất trong tám phương ngữ ở TRUNG QUỐC.


MÂN NGỮ "quá lớn" nên không tránh khỏi nhiều giọng bắc trung nam như tiếng VIỆT NAM, Cho nên lại chia ra MÂN ĐÔNG NGỮ - vùng Hàn Châu, Triết Giang, và MÂN NAM NGỮ là vùng Phước kiến xuống phía nam, MÂN NAM NGỮ lại có nhiều giọng khác nhau chút đỉnh là tiếng PHƯỚC KIẾN, tiếng TRIỀU CHÂU, tiếng LÔI CHÂU, tiếng HẢI NAM. MÂN VIỆT NGỮ sau hơn mấy ngàn năm "chia cách" LỊCH SỬ với dân GIAO CHỈ mà ngày nay vẫn tương đương giống nhau với tiếng VIỆT NAM.


Bây giờ MÂN NAM phát âm giống tiếng Việt Nam hơn MÂN ĐÔNG, và PHƯỚC KIẾN hay TRIÊÙ CHÂU là còn giống như Việt, đặc biệt nhất là tiếng TRIỀU CHÂU.


Xin mời xem qua một số từ ngữ cuả tiếng VIỆT NAM với tiếng TRIỀU CHÂU ngày nay sau đây:


- Tiếng VIỆT nói NAM BẮC thì tiếng TRIỀU CHÂU nói là NAM PẮC.


GHI CHÚ: đọc theo giọng bắc Hà Nội mới giống tiếng TRIỀU CHÂU.


Vietvuong01.JPG

Vietvuong02.JPG

Vietvuong03.JPG

Vietvuong04.JPG

Vietvuong05.JPG


... PHẦ̀N trên là mộtsố ví dụ, nghĩ đến đâu thì tôi viết đến đó - vì tôi là người TRIỀU CHÂU - không thể viết nhiều ở đây... vì bao nhiêu cho đủ? Để chỉ là ví dụ? Nếu viết hết thì sẽ thành một quyển tự điển VIỆT NAM-MÂN VIỆT.


ĐIỀU ĐÓ LÀ PHẢI CÓ ĐỦ KINH PHÍ VÀ THỜI GIAN THÌ MỚI LÀM NỔI.


Đây là bằng chứng những tiếng Hoa là tiếng Việt, nước NGÔ cuả NGÔ PHÙ SAI cũng dùng tiếng VIỆT.


Ngày nay tiếng đó chính thức mang tên là NGÔ VIỆT NGỮ, gọi tắt là NGÔ NGỮ. Hiện giờ NGÔ NGỮ vùng Giang Tô, Thượng hải khi nói HÒA BÌNH thì vẫn đọc là "Hòa pình", Ô Đề trong:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên...- vẫn đọc là "Ô đề " như người Việt nam, Chị là "chì chị" v. v...

Bài viết nầy nêu bằng chứng người Hoa và tiếng Hoa là Việt, đề tài "quá lớn", sẽ còn phải viết thêm rất nhiều bài nữa, quý vị nào có thể đọc chữ Hoa, Hán-Việt và Nôm thì tha hồ đọc nhiều tài liệu bằng Hoa văn và đọc Sử Ký của TƯ MÃ THIÊN bằng nguyên văn...


Dù là Người Việt hay là Hoa thì xin quí vị hãy công tâm mà để ý một điêù là... tất cả sử sách xưa và nay thường chối bỏ nguồn gốc Hoa của người Việt, và Hoa thì chối bỏ nguồn gốc là Việt của BÁCH VIỆT.


VIỆT là cháu chít của THIẾU KHANG nhà Hạ, Ngô là tông thất của Chu mà nói tiếng Việt, vậy nhà CHU cũng là Việt? Và ĐỨC KHỔNG PHU TỬ dùng tiếng VIỆT để giảng bài khi dạy học sinh, đó là những bài viết cần phải thêm sau cho bài nầy, xin quý vị nào có bằng chứng đúng sai từ nguồn tài liệu nào cũng đem ra đóng góp chung và thảo luận rõ ràng mới vui, mới hợp lý... khi đưa ra bằng chứng viết bởi Sử xưa thì quí vị hãy để ý là... khi nào thì có tên dân tộc HOA? và Hán? Và những người đã xưng là Hoa hay Hán viết "sử" thì ôi thôi... ví dụ: họ giải thích SỞ quốc là KINH SỞ, KINH MAN của người MAN (man di mọi rợ)...

NHƯNG cũng là họ... họ giải thích và ghi chú rõ ràng trong sử sách SỞ BÁ VƯƠNG-HẠN VỎ và LƯU BANG-HÁN CAO TỔ... cũng là người của nước Sở... thì họ ghi là HÁN TỘC.

Những điều diễn giải như vậy đầy dẫy trong lịch sử TRUNG HOA, và "HOA" hay là "Hán" cứ cho là Việt tộc trong cổ sử Trung Hoa là BÁCH VIỆT, thì phải là người dân tộc MÈO, BỐ Y, LÊ, ĐỒNG, DAO, CHOANG, LÀO, MIẾN ĐIỆN v. v...


Hỡi những vị được làm quan và viết sử, hỡi những chuyên gia cao thâm xưa và nay... 56 sắc tộc "anh em" còn đó tại TRUNG QUỐC, VIỆT NAM và ĐÔNG NAM Á...


Tôi có vài câu hỏi:


- Có người ĐỒNG, MÈO, DAO, CHOANG, THÁI, LÀO v. v… chịu nhận mình là người Việt Nam hay là Việt không???


- Có lịch sử nào chứng minh họ là người Việt và nói tiếng Việt???


- Và không thể nào đem vài chục, hoặc 100 hay một ngàn từ ngữ khmer trong tiếng Việt để nói và ghi trong tự điển rằng tiếng Việt là ngữ hệ MÔN -KHMER...


Tôi không tin và rất nhiều người không tin...


Tiếng Việt có cả 100 ngàn từ hoặc nhiều hơn gấp mấy lần nữa...

Nêú tính chung VIỆT NAM, VIỆT, MÂN VIỆT, NGÔ VIỆT, DƯƠNG VIỆT, VU VIỆT, ÂU VIỆT v. v…
Những chữ: xà phòng, ô-tô, sếp - (theo PHÁP NGỮ); con trai - (tiếng CỐNG - SỞ VÙNG ĐỘNG ĐÌNH HỒ) Hãy tìm -> CHOANG NGỮ; yêu, chùa, kém, trội -> TRIỀU CHÂU-MÂN NGỮ; long đong- >MÃ LAI NGỮ, bụt - >ẤN-PHẠN, buồn, mun-> QUÀNG ĐÔNG-VIỆT, chị, hòa bình- >(NGÔ VIỆT), tam, tứ- >(HI NAM ), tuần ->(THÁI) tay, chân... rồi đếm một, hai, ba, bốn ->là theo tiếng- khmer...

TẤT CẢ những từ nêu trên là bình thường vì qua tiếp xúc và vai mượn nhau của các dân tộc... Nói xin lỗi với những chuyên gia... kỳ cục rằng... nếu tiếng VIỆT thuộc hệ Khmer thì có lẽ ngày xưa... câu ca dao đã đổi thành "công cha như núi ANGKO... nghĩa mẹ như nước biển Hồ chảy ra!"


Và không bao giờ có chuyện người KHMER ở miền tây nam bộ đã từng.. buồn buồn là hú bạn ơi... đi cắt... giết Việt "-CÁP DUỒN... BÒN ƠI!"


Người Việt cũng... không phải là dân tộc thiểu số ngày nay; ai có thể chứng minh cho thiên hạ xem… người Việt đã dùng trống đồng như người dân tộc thiểu số hiện giờ vẫn còn dùng trong ca hát cúng tế, có triêù đại, vua quan, cộng đồng dân Việt nào đã dùng trống đồng trong lịch sử... và hiện giờ... đâu ???


Người Việt là người Việt, có nhiều Việt tộc nên goị là BÁCH VIỆT, chỉ cần nắm rõ căn bản ngữ vựng của tiếng VIỆT ngày nay là có thể học và hiểu ngay những tiếng VIỆT khác trong BÁCH VIỆṬ một cách không khó... nếu không muốn nói là dễ dàng...


Xin hẹn quí vị và bạn bè bài viết sau nhé...


***************************************


-史記 歷史學家司馬遷 có rất nhiều website đã có post Sử ký của Tư Mã Thiên... có nhiều chọn lựa đề xem, trang nầy không dùng Cổ Văn và dễ đọc.

***Thái Sơn 泰山, ở tỉnh Sơn Đông山东省, Trung Quốc
琅琊 所在地,在山东省诸城东南海滨,今属于胶南琅琊镇:
Lang Nha ở tnh Sơn Đông, ngày nay thuộc NAM GIAO LANG NHA TRẤN。
flam12
flam12 wrote on Nov 17, edited on Nov 17
flam12 wrote on Nov 17, edited on Nov 18
Bách Việt Sử - Những lớp bụi mờ của lịch sử

Nguồn
flam12 wrote on Nov 17
he entire population of the valley is about 11.800 (2011)
flam12 wrote on Nov 17, edited on Nov 17
Nước VIỆT của VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN –
越王勾踐 - và MÂN NGỮ - 闽语


Đỗ Thành


Nước Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc nhà CHU ở phía nam của nước NGÔ, kinh đô là 会稽 HỘI KẾ - ở vùng THIỆU HƯNG - HÀN CHÂU ngày nay.


VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN: sinh năm 520 năm trước công nguyên, và mất năm 465 năm trước công nguyên.

Có thể nói rằng đa số ai cũng biết câu chuyện nổi tiếng trong lịch sử nầy, sử, truyện và phim của truyện vẫn tiếp tục lôi cuốn khán giả.

Thời ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC có nước Sở ở phía nam ngày càng lớn mạnh rồi xưng bá Trung Nguyên ở Trung Quốc và không ngừng khuyếch trương thế lực cũng như đất đai.

- Sở là một đe dọa lớn thường tấn công nước Ngô, Sở và Việt, ̣Đồng tông Đồng tộc, Việt thường giúp Sở mỗi lần đem quân chinh phạt Ngô; năm Châu Kính vương thứ 23 - trước công nguyên 497 năm - Sở và Việt liên quân đánh Ngô, vua Ngô HẠP LƯ cầm quân ra trận đối địch với VIỆT VƯƠNG CÂU TIẾN bị vua Việt bắn trúng mũi tên nên bị thương rồi chết.

NGÔ PHÙ SAI lên ngôi thay cha và luôn canh cánh mối lo và mối thù với nước Việt, nhờ có tướng tài là NGŨ TỬ TƯ, NGÔ vương đã trả được mối thù thật tàn khốc, nước VIỆT bị mất vào nước NGÔ. Nhưng, NGÔ PHÙ SAI không nghe lời lão thần NGŨ TỬ TƯ, không giết VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN khi vua Việt trá hàng để nuôi chí phục thù. Vua Câu Tiễn nhờ có hai quan đại phu là PHẠM LÃI và VĂN CHỦNG thực hiện 10 kế hay cùng mỹ nhân kế là dùng TÂY THI làm gián điệp mê hoặc NGÔ VƯƠNG.

Nhờ vậy nên sau một thời gian nằm gai nếm mật, VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN đã tiêu diệt nước Ngô, giết NGÔ PHÙ SAI và thống nhất hai nước NGÔ và VIỆT, Từ đó, nước Việt lớn mạnh hơn, lại đem quân vượt sông Hoài lên phía bắc xưng bá chủ Trung Nguyên, được CHÂU NGUYÊN VƯƠNG 周元王 sắc phong là Hầu Bác, tước vị là Tấn Bác vị, sau đó vua Việt Câu Tiễn dời thủ đô đến Lang Nha 琅琊 hoàn thành bá nghiệp.

Ghi chú: thời nhà Chu suy nhược thì vua Chu chỉ là hữu danh mà vô thực, chỉ có vua của nước chư hầu nào mạnh nhất mới thực sự có thực lực và thực quyền và được xưng là BÁ CHỦ.

- Lang nha 琅 琊, Lang Nha quận là đất thuc về phía đông nam của bán đảo SƠN ĐÔNG, bán đảo SƠN ĐÔNG có ngọn núi là Thái Sơn 泰山 nổi tiếng hùng vĩ toàn TRUNG QUỐC, khảo cứu câu chuyện trên thì không ai lấy làm lạ là tại sao trong ca dao VIỆT NAM từ lâu nay có câu:

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.


Thử tìm hìểu chữ Viết và tìếng nói của dân Việt của Việt Quốc thời VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN:


Việt vương Câu Tiễn kiếm

Năm 1965 tại tỉnh HỒ BẮC 湖 北, vùng Kinh Châu (GIANG LĂNG) ở VỌNG SƠN, người ta đào được từ dưới đất của một khu di tích lịch sử, lăng miếu thuộc triều đại nhà Sở một thanh bảo kiếm cổ xưa cuả VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN.


Trên kiếm có khắc tám chữ VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN TỰ TÁC DỤNG KIẾM "越 王 鸠 浅 自 乍 用 剑", chữ CÂU TIỄN thời tiền Hán là 鸠浅 và ngày nay viết là 勾践, chữ Tác khi xưa là 乍 và bây giờ là 作.


Hiện giờ thanh bảo kiếm được trưng bài và bảo quản ở bảo tàng viện Hồ Bắc, đây là một bảo kiếm qúi hiếm tự cổ chí kim, với khoa học tiến bộ của ngày nay mà người ta vẫn chưa biết làm sao để đúc được thanh kiếm bị chôn vùi dưới đất hơn hai ngàn mấy trăm năm mà không bị r sét và hư hoại, kiếm vừa đào lên khỏi mặt đất thì người ta kinh ngạc bởi sự toàn vẹn mà còn lấp lánh hào quang, thử rạch nhẹ một cái là xuyên đứt hơn 20 lớp giấy, để cọng tóc thổi thử là đứt ngay, quả là một bí ẩn của phương pháp đúc kiếm của người VIỆT thời xưa mà hiện giờ không ai làm được. !uý vị có th xem phần thử kiếm của một thanh kiếm tại
trang youtube nầy:


và copy chữ "越王勾踐劍" nầy vào khung Search của youtube để tìm là sẽ xem được đon video của Việt Vương Câu Tiễn kiếm; hay là copy hoặc
vào trang nầy:

Mân ngữ - 闽语: 8 chữ "越 王 鸠 浅 自 乍 用 剑"


Dĩ nhiên đó là chữ VIỆT, bảo kiếm nạm ngọc và chém sắt như chém bùn của Vua một quốc gia thì làm sao mà dùng chữ của dân tc khác được, chữ xưa là tượng hình rồi biến đổi dần, chỉ có chuyên gia nghiên cứu đọc quen mới nhìn ra.


Đó là chữ viết mà ngày nay người ta gọi là TRUNG VĂN hay là chữ HÁN VIỆT, trong khi từ hơn 2.500 năm về trước thì chữ đó đã là chữ VIỆT, của nước Việt, của người VIỆT nói tiếng VIỆT.


Tiếng Việt thời đó của Nước Việt phải là rất giống như tiếng VIỆT NAM bây giờ, bởi vì sau nầy nước Việt của VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN bị nước Sở xâm chiếm và thôn tính, thì con cháu của VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN chạy về hướng nam tiếp tục triều Việt ở tỉnh PHÚC KIẾN là MÂN VIỆT, và tiếng VIỆT ở vùng giang đông nầy gọi là tiếng MÂN VIỆT - vẫn tồn tại cho đến ngày nay và phát triển theo chiều di dân xuống phía nam theo hơn hai ngàn năm lịch sử kể từ khi VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN ra đời....


Tự điển hiện giờ và văn khố ngày xưa đều ghi rõ MÂN là VIỆT, là MÂN VIỆT, tiếng MÂN VIỆT trải dài từ HÀN CHÂU ngày nay xuống phiá nam đến vùng PHƯỚC KIẾN, TRIỀU CHÂU, đến bán đảo LÔI CHÂU, qua biển đến đảo ĐÀI LOAN, đảo HẢI NAM... và nước VIỆT NAM, và đảo quốc Singapore; hiện nay MÂN NGỮ là một ngôn ngữ địa phương mạnh nhất trong tám phương ngữ ở TRUNG QUỐC.


MÂN NGỮ "quá lớn" nên không tránh khỏi nhiều giọng bắc trung nam như tiếng VIỆT NAM, Cho nên lại chia ra MÂN ĐÔNG NGỮ - vùng Hàn Châu, Triết Giang, và MÂN NAM NGỮ là vùng Phước kiến xuống phía nam, MÂN NAM NGỮ lại có nhiều giọng khác nhau chút đỉnh là tiếng PHƯỚC KIẾN, tiếng TRIỀU CHÂU, tiếng LÔI CHÂU, tiếng HẢI NAM. MÂN VIỆT NGỮ sau hơn mấy ngàn năm "chia cách" LỊCH SỬ với dân GIAO CHỈ mà ngày nay vẫn tương đương giống nhau với tiếng VIỆT NAM.


Bây giờ MÂN NAM phát âm giống tiếng Việt Nam hơn MÂN ĐÔNG, và PHƯỚC KIẾN hay TRIÊÙ CHÂU là còn giống như Việt, đặc biệt nhất là tiếng TRIỀU CHÂU.


Xin mời xem qua một số từ ngữ cuả tiếng VIỆT NAM với tiếng TRIỀU CHÂU ngày nay sau đây:


- Tiếng VIỆT nói NAM BẮC thì tiếng TRIỀU CHÂU nói là NAM PẮC.


GHI CHÚ: đọc theo giọng bắc Hà Nội mới giống tiếng TRIỀU CHÂU.


Vietvuong01.JPG

Vietvuong02.JPG

Vietvuong03.JPG

Vietvuong04.JPG

Vietvuong05.JPG


... PHẦ̀N trên là mộtsố ví dụ, nghĩ đến đâu thì tôi viết đến đó - vì tôi là người TRIỀU CHÂU - không thể viết nhiều ở đây... vì bao nhiêu cho đủ? Để chỉ là ví dụ? Nếu viết hết thì sẽ thành một quyển tự điển VIỆT NAM-MÂN VIỆT.


ĐIỀU ĐÓ LÀ PHẢI CÓ ĐỦ KINH PHÍ VÀ THỜI GIAN THÌ MỚI LÀM NỔI.


Đây là bằng chứng những tiếng Hoa là tiếng Việt, nước NGÔ cuả NGÔ PHÙ SAI cũng dùng tiếng VIỆT.


Ngày nay tiếng đó chính thức mang tên là NGÔ VIỆT NGỮ, gọi tắt là NGÔ NGỮ. Hiện giờ NGÔ NGỮ vùng Giang Tô, Thượng hải khi nói HÒA BÌNH thì vẫn đọc là "Hòa pình", Ô Đề trong:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên...- vẫn đọc là "Ô đề " như người Việt nam, Chị là "chì chị" v. v...

Bài viết nầy nêu bằng chứng người Hoa và tiếng Hoa là Việt, đề tài "quá lớn", sẽ còn phải viết thêm rất nhiều bài nữa, quý vị nào có thể đọc chữ Hoa, Hán-Việt và Nôm thì tha hồ đọc nhiều tài liệu bằng Hoa văn và đọc Sử Ký của TƯ MÃ THIÊN bằng nguyên văn...


Dù là Người Việt hay là Hoa thì xin quí vị hãy công tâm mà để ý một điêù là... tất cả sử sách xưa và nay thường chối bỏ nguồn gốc Hoa của người Việt, và Hoa thì chối bỏ nguồn gốc là Việt của BÁCH VIỆT.


VIỆT là cháu chít của THIẾU KHANG nhà Hạ, Ngô là tông thất của Chu mà nói tiếng Việt, vậy nhà CHU cũng là Việt? Và ĐỨC KHỔNG PHU TỬ dùng tiếng VIỆT để giảng bài khi dạy học sinh, đó là những bài viết cần phải thêm sau cho bài nầy, xin quý vị nào có bằng chứng đúng sai từ nguồn tài liệu nào cũng đem ra đóng góp chung và thảo luận rõ ràng mới vui, mới hợp lý... khi đưa ra bằng chứng viết bởi Sử xưa thì quí vị hãy để ý là... khi nào thì có tên dân tộc HOA? và Hán? Và những người đã xưng là Hoa hay Hán viết "sử" thì ôi thôi... ví dụ: họ giải thích SỞ quốc là KINH SỞ, KINH MAN của người MAN (man di mọi rợ)...

NHƯNG cũng là họ... họ giải thích và ghi chú rõ ràng trong sử sách SỞ BÁ VƯƠNG-HẠN VỎ và LƯU BANG-HÁN CAO TỔ... cũng là người của nước Sở... thì họ ghi là HÁN TỘC.

Những điều diễn giải như vậy đầy dẫy trong lịch sử TRUNG HOA, và "HOA" hay là "Hán" cứ cho là Việt tộc trong cổ sử Trung Hoa là BÁCH VIỆT, thì phải là người dân tộc MÈO, BỐ Y, LÊ, ĐỒNG, DAO, CHOANG, LÀO, MIẾN ĐIỆN v. v...


Hỡi những vị được làm quan và viết sử, hỡi những chuyên gia cao thâm xưa và nay... 56 sắc tộc "anh em" còn đó tại TRUNG QUỐC, VIỆT NAM và ĐÔNG NAM Á...


Tôi có vài câu hỏi:


- Có người ĐỒNG, MÈO, DAO, CHOANG, THÁI, LÀO v. v… chịu nhận mình là người Việt Nam hay là Việt không???


- Có lịch sử nào chứng minh họ là người Việt và nói tiếng Việt???


- Và không thể nào đem vài chục, hoặc 100 hay một ngàn từ ngữ khmer trong tiếng Việt để nói và ghi trong tự điển rằng tiếng Việt là ngữ hệ MÔN -KHMER...


Tôi không tin và rất nhiều người không tin...


Tiếng Việt có cả 100 ngàn từ hoặc nhiều hơn gấp mấy lần nữa...

Nêú tính chung VIỆT NAM, VIỆT, MÂN VIỆT, NGÔ VIỆT, DƯƠNG VIỆT, VU VIỆT, ÂU VIỆT v. v…
Những chữ: xà phòng, ô-tô, sếp - (theo PHÁP NGỮ); con trai - (tiếng CỐNG - SỞ VÙNG ĐỘNG ĐÌNH HỒ) Hãy tìm -> CHOANG NGỮ; yêu, chùa, kém, trội -> TRIỀU CHÂU-MÂN NGỮ; long đong- >MÃ LAI NGỮ, bụt - >ẤN-PHẠN, buồn, mun-> QUÀNG ĐÔNG-VIỆT, chị, hòa bình- >(NGÔ VIỆT), tam, tứ- >(HI NAM ), tuần ->(THÁI) tay, chân... rồi đếm một, hai, ba, bốn ->là theo tiếng- khmer...

TẤT CẢ những từ nêu trên là bình thường vì qua tiếp xúc và vai mượn nhau của các dân tộc... Nói xin lỗi với những chuyên gia... kỳ cục rằng... nếu tiếng VIỆT thuộc hệ Khmer thì có lẽ ngày xưa... câu ca dao đã đổi thành "công cha như núi ANGKO... nghĩa mẹ như nước biển Hồ chảy ra!"


Và không bao giờ có chuyện người KHMER ở miền tây nam bộ đã từng.. buồn buồn là hú bạn ơi... đi cắt... giết Việt "-CÁP DUỒN... BÒN ƠI!"


Người Việt cũng... không phải là dân tộc thiểu số ngày nay; ai có thể chứng minh cho thiên hạ xem… người Việt đã dùng trống đồng như người dân tộc thiểu số hiện giờ vẫn còn dùng trong ca hát cúng tế, có triêù đại, vua quan, cộng đồng dân Việt nào đã dùng trống đồng trong lịch sử... và hiện giờ... đâu ???


Người Việt là người Việt, có nhiều Việt tộc nên goị là BÁCH VIỆT, chỉ cần nắm rõ căn bản ngữ vựng của tiếng VIỆT ngày nay là có thể học và hiểu ngay những tiếng VIỆT khác trong BÁCH VIỆṬ một cách không khó... nếu không muốn nói là dễ dàng...


Xin hẹn quí vị và bạn bè bài viết sau nhé...


***************************************


-史記 歷史學家司馬遷 có rất nhiều website đã có post Sử ký của Tư Mã Thiên... có nhiều chọn lựa đề xem, trang nầy không dùng Cổ Văn và dễ đọc.

***Thái Sơn 泰山, ở tỉnh Sơn Đông山东省, Trung Quốc
琅琊 所在地,在山东省诸城东南海滨,今属于胶南琅琊镇:
Lang Nha ở tnh Sơn Đông, ngày nay thuộc NAM GIAO LANG NHA TRẤN。

No comments:

Post a Comment

Followers

Blog Archive