Nguồn: Nhannamphi


PHỤC NGUYÊN

DUY GIÁP LỆNH

CỦA VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN


Đỗ Thành

Cùng với Việt nhân ca, Duy giáp lệnh cũng là hiện tượng đặc biệt của văn hóa Trung Hoa, thu hút nhiều tâm lực của giới nghiên cứu. Nhà đại nho thế kỷ XX Quách Mạt Nhược đã bàn về chuyện này. Ở thời hiện đại, chuyên gia ngôn ngữ Trịnh Trương Thượng Phương thuộc Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội Trung Quốc được coi là học giả hàng đầu. Tuy nhiên, những diễn giảng của các vị này chưa thỏa mãn người đọc, vì thế câu chuyện chưa kết thúc!


Tôi cảm nhận rằng, khi nghiên cứu Duy giáp lệnh, các học giả trên đã theo một phương pháp luận sai lầm.

Dù biết rằng Duy giáp lệnh là mệnh lệnh của Câu Tiễn, vị vua người Việt, nhưng trong khi nghiên cứu, các vị này không trở về ngôn ngữ gốc của Câu Tiễn với tiếng Việt, chữ Việt mà cứ giảng giải biện luận bằng chữ Thái và Hán phát âm quan thoại. Làm như vậy có khác nào leo cây tìm cá?

Tôi vốn sống trong dân gian, học được ít nhiều chữ Hán nhưng thấm đẫm ngôn ngữ, văn hóa Mân Việt, Bách Việt nên khi nhìn vào bản văn của Việt nhân ca, Việt tuyệt thư, Duy giáp lệnh… tôi dễ dàng nhận ra cái hồn cái vía Việt trong những dòng chữ cổ. Không thể để chúng khô chồi héo rễ trong sách vở và bị hiểu sai, bị xuyên tạc, tôi mạo muội thưa lại đôi điều.


I. Duy giáp lệnh theo sự hiểu hiện thời.


“Duy giáp lệnh” được trích từ quyển thứ ba trong Việt Tuyệt Thư, Ngô nội truyện. Việt Tuyệt Thư do một số người đã ghi chép lại chuyện xảy ra ở Ngô và Việt thời Xuân Thu - Chiến Quốc, trong đó phần nhiều là do Ngũ Tử Tư viết, khoảng năm 484 TCN, trước Sử ký của Tư Mã Thiên nửa thiên niên kỷ. Đoạn văn như sau:


越絕書·吳内傳 維甲令

越王句踐反國六年,皆得士民之眾,而欲伐吳,於是乃使之維甲。維甲者,治甲系斷。修內矛,赤雞稽繇者也,越人謂入

铩也。方舟航買儀塵者,越人往如江也。治須慮者,越人謂船為須慮。亟怒紛紛者,怒貌也,怒至。士击高文者,躍勇士

也。習之于夷,夷、海也;宿之于萊,萊,野也;致之于單,單者堵也。


Phiên âm:
Việt vương Câu Tiễn phản quốc lục niên, giai đắc sĩ dân chi chúng, nhi dục phạt Ngô, vu thị nãi sử chi duy giáp. Duy giáp giả, trị giáp hệ đoạn. Tu nội mao, xích kê kê chựu giả dã, Việt nhân vị nhập sát dã. Phương châu hàng mãi nghi trần giả, Việt nhân vãn như giang dã. Trị tu lự giả, Việt nhân vị thuyền vi tu lự. Cực nộ phân phân giả, nộ mạo dã, nộ chí. Sĩ kích cao văn giả, diệu dũng sĩ dã. Tập chi vu di. Di, hải dã; túc chi vu lai, lai, dã dã; chí chi ư đan, đan giả đồ dã.

Cho đến ngày nay, “Duy giáp lệnh” được hiểu như sau:


維甲 修內矛 Duy giáp tu nội mao

方舟航 治須慮 phương châu hàng tu lự

*亟怒紛紛者, cực nộ phân phân giả *

*士击高文者 sĩ kích cao văn giả **

習之于夷. Tập chi vu di

宿之于萊. Túc chi vu lai

致之于單. Chí chi vu đan

*và **: lời của sử quan bị người đời sau đưa lẫn vào Lệnh.


Ông Trịnh Trương Thượng Phương giải nghĩa như sau:







(Tiếng Việt có vài chữ sai chính tả vì là sao chép lại nên không thể hiệu đính. Mong độc giả thông cảm.


Nhận xét:


Đoạn trên là văn kể chuyện, tường thuật sự việc kèm theo trình bày nội dung Duy giáp lệnh.

Trong văn bản, xưa, tác giả không như chúng ta ngày nay dùng dấu ngoặc kép để phân biệt mệnh lệnh của Việt Vương với lời trần thuật của mình khiến cho người đọc dễ lầm.

Khi ông Trịnh Trương Thượng Phương đưa hai câu “Cực nộ phân phân và Sĩ kích cao văn” vào Duy Giáp Lệnh, tôi thấy là không thỏa đáng! Thực ra đây chỉ là lời ghi chú của sử gia viết lại quang cảnh “bừng bừng khí thế” của quân lính tập trận khi nghe lời nói của Việt vương Câu Tiễn mà tập trung lại thôi. Bởi vì, trong một lệnh “tổng động viên” mà có hai câu “Tức giận bừng bừng, sĩ khí cao dâng” thì có vẻ kỳ lạ? Vô lý!


Thật ra lịch sử đã cho thấy là sau khi có “Duy giáp lệnh” 10 năm nước Việt mới chinh phạt nước Ngô. Trước khi phục quốc thành công thì nước Vu Việt đã bị nước Ngô xâm chiếm. Dưới sự cai trị, giám sát của người Ngô thì làm sao có một lệnh tổng động viên công khai kèm theo lời nói “tức giận bừng bừng, sĩ khí cao dâng”?


- Lời giải nghĩa của ông Trịnh Trương Thượng Phương hoàn toàn vô lý và tối nghĩa ngay trong bản thân câu văn.

Do biết được bối cảnh chuẩn bị chiến tranh của “Duy giáp lệnh” ông suy diễn “giáp” là áo giáp!

Trong khi đó, tiếng Mân Việt của Câu Tiễn còn đọc “giáp” là “cả”, “nội” là “lại” …

Ông cũng quên rằng ngôn ngữ thời Ngô Việt là đa âm và đa âm xưa vẫn tồn tại đến ngày nay:
trị tu lự gồm hai từ: “trị” và “tu + lự” = trị tự là “trật tự”!

- Bài giảng nghĩa của ông Trịnh quá công phu và quá dài với quá nhiều dẫn chứng bằng cổ thư như “Quốc ngữ-Việt ngữ hạ”, “Thuyết văn giải tự” của Hứa Thận, “Sử ký” của Tư Mã Thiên, “Thủy kinh chú” và các từ điển diễn giải “Quảng âm”, “Tập âm” v v… đã có dùng hay có giải thích những chữ tương tự trong “Duy giáp lệnh”, đồng thời so sánh các từ đồng âm bên tiếng Thái và tiếng Choang… Do cách giải thích hoàn toàn sai cho nên tôi không phiên dịch phần đó trong bài nầy. Nếu như người nào muốn nghiên cứu toàn bài giải thích “Duy giáp lệnh” của tác giả Trịnh Trương Thượng Phương thì có thể xem
ở đây.

- Cho dù bài giải nghĩa “Duy giáp lệnh” nầy theo tôi và một số blogger Trung Văn cho là sai nhưng hiện tại nó đang được xem là “mẫu mực”, “chính thức”, “giá trị”, “tài liệu để giảng dạy trong trường Đại học”… Cho nên, bất cứ ai có tinh thần yêu chuộng sự thật thì cũng nên góp phần thảo luận để chỉ rõ ra cái sai và tìm ra cái đúng…


II. Phục nguyên Duy giáp lệnh


- Theo truyền thống thì người ta dùng hai chữ đầu tiên của mệnh lệnh để đặt tên cho lệnh vua, nên cái lệnh chúng ta bàn có tên là “Duy giáp lệnh”! Nguyên văn “Duy giáp lệnh” trong một đoạn ngắn được các sử quan nhiều đời sau cố tình giữ nguyên cổ ngữ Việt để giữ đặc tính nguyên thủy và tính trung thực của “lệnh”.


Đó là một việc làm thật quý giá, nhưng họ đã kèm theo những lời giải thích mà vô tình làm cho tối nghĩa thêm!


Khi thì thêm bằng chữ Nôm-Việt, khi thì thêm bằng Hán ngữ-Nhã ngữ, sử quan đã gây thêm ngộ nhận cho đời sau. Có người vịn vào đó mà nói rằng “Lệnh của vua Việt mà lại dùng khi thì chữ “Hoa”, khi thì chữ “Việt”!


Như vậy có nghĩa là dân thì dùng tiếng Việt còn vua và quý tộc thì đã bị “Hoa” đồng hóa cho nên quen dùng tiếng Hoa và sợ rằng dân Việt không hiểu nên kèm theo tiếng Việt! Lại có người nói rằng “Dân Việt thời đó đã bị đồng hóa bởi tiếng Hoa, cho nên lệnh vua phải kèm tiếng Hoa cho dân hiểu!”


Cho tới bây giờ người ta vẫn căn cứ theo những cái sai của tinh thần chủ quan, không thực tế, không hiểu tiếng Việt mà lại đi giải nghĩa tiếng Việt để rồi giải nghĩa “Duy giáp lệnh” hoàn toàn sai bét!


Trong khi, những cái đúng của sử quan ngày xưa thì không ai hiểu, bị bỏ qua để hiểu theo nghĩa khác!


Tôi xin ghi lại nguyên văn Duy giáp lệnh như sau:


維甲 修內矛 Duy giáp tu nội mao

方舟航治須慮 phương châu hàng trị tu lự

習之于夷. Tập chi vu di

宿之于萊. Túc chi vu lai

致之于單. Chí chi vu đan

Như vậy, cái lệnh của vua Việt Câu Tiễn thật ngắn gọn, vẻn vẹn có 23 chữ.

Nhưng đó là sự thách đố suốt 25 thế kỷ. Muốn giải nghĩa được, cần tìm nghĩa những từ sau:

- Chữ Tuyệt (絕), ngày nay chúng ta đọc là Tuyệt絕 trong khi cổ xưa lại đọc là Chép絕. “Việt chép” (越絕) bây giờ trở thành “Việt tuyệt thư” (越絕書).


- Chữ Đôi 堆 nghĩa là đống (ví dụ đống đất), tiếng Mân Việt-Triều Châu lại đọc là “Túi 堆” và cũng có nghĩa là “tất cả”. Nguyên một đoàn người thì có thể nói là nguyên một “túi 堆”-(“đống 堆”) người.


– Chữ Duy 維 ngày nay chúng ta đọc là Duy 維 nhưng trong “Duy giáp lệnh” thì có thể ngày xưa đọc là “Tất” hoặc là chữ “Túi 堆” và “túi 堆 cả甲” bị chép nhầm là “Duy 維Giáp甲” như trường hợp chữ chép 絕 bây giờ đọc là “Tuyệt 絕”, quá khác nhau!


Suy ra: 1, Ngày xưa ghi là “堆甲-Túi cả =Tất cả” ;


2, Ngày xưa dùng chữ “Duy 維” chính là đọc thành “Tất” , cho nên “duy giáp 維甲” cũng là “Tất cả - 維甲”


Nếu quý vị nào quen biết người Triều Châu biết đọc chữ “vuông” theo tiếng Triều châu thì sẽ thấy là tiếng

Mân-Việt có khác:

- “giáp 甲”: đọc là “Cả”.


- Nội-內: đọc là “lại”.


- lai-萊: đọc là “lái”.


- Châu-舟: đọc là “chuấn”


Chỉ có người nào vừa biết tiếng Triều Châu và tiếng Việt Nam mới dễ thấy được sự tương đồng và rõ nghĩa.


Ví dụ “Nội-內” có nơi đọc là “Lội” và Quảng Đông đọc là “nồi” hay “lồi” thì không xa âm “Lại 內” của Mân Việt-Triều Châu bao nhiêu, và cũng từ đó sẽ dễ hiểu chữ “Tu 修 lại 內 mau 矛” tức là “Tụ lại mau” chứ không phải là “Sửa soạn-bên trong-giáo mác” như chuyên gia ngôn ngữ bên Trung Quốc đã giải thích!


_Xin giải thích từng chữ của “Duy giáp lệnh” theo tiếng Việt và “Mân-Việt” (Triều Châu):


維: Duy hiện giờ đọc là “Uy” ngày xưa có thể đọc là “Tất”!


甲Giáp đọc là “Ca, Cà , Cả”.


修 Tu.


內 Nội đọc là “lai, lài, lại”.


矛 Mao đọc là “Mao”, “Mau”.


方 Phương.


舟 Châu đọc là “Chuấn”.


航 Hàng.


治 Trị đọc là “Tia”.


須 Tu.


慮 Lự.


習 Tập.


之 Chi đọc là “Chua” phát âm tương tự như “Cho”.


于 Vu.


夷 Di. Chữ nầy là Di của “Đông Di”, nhưng mà ghi chú của các sử quan ngày xưa ngay trong “Duy giáp lệnh” đã giải thích “Di” nầy đọc là “Hổi 海”, Hải theo phát âm Triều Châu bây giờ là “Hái海”, và người Quảng Đông ngày nay vẫn đọc Hải 海 là “Hổi”. “ 夷Di” trong thời của “Duy giáp lệnh” là “Hổi海”.


宿 Túc đọc là “Sok”.


于 Vu.


萊 Lai đọc là “láy”.


致 Chí nầy là “chí 致mạng 命” là “Chết”, trong “Việt tuyệt thư” khi dùng “chí 至” nghĩa là “đến” thì

viết khác và viết là “Chí 至”. 于 Vu. 單 Đan (hay đơn).

Ghi chú:
theo tiếng Mân Việt-Triều Châu thì những chữ sau đây sẽ là:

Duy 維 trong bài nầy phải là chữ “Đôi” đọc theo Mân Việt là “Túi”, là “tất” (tất cả).


Phương 方 Chuấn舟 là đa âm, ngày nay là chữ “Phuấn” = Phóng.


Tu 須 Lự 慮 là chữ đa âm, ngày nay là chữ “tự”.


Vu 于 hổ i夷 là chữ đa âm, ngày nay là chữ “vổi” = giỏi .


Vu 于 lái 萊 là chữ đa âm, ngày nay là chữ “vái”, “Vãi” = vẻ.


Vu 于 Đan 單 là chữ đa âm, ngày nay là chữ “van” = vang.


Sau khi đối chiếu Hán Việt – Chữ Vuông/ cổ văn – Việt/ Mân Việt/ Triều Châu- tiếng Việt ngày nay, tôi xin trình bày phục nguyên “Duy giáp lệnh” của Việt Vương Câu Tiễn như sau:


Duy giáp tu nội

Mao phương châu

Hàng trị tu lự

Tập chi vu di

Túc chi vu lai

Chí chi vu đan


維 甲 修 內 矛方舟 航 治 須慮

習 之 于夷

宿 之 于萊

致 之 于單


Tất (Túi) cả tu lại mau

Phuấn hàng Trị Tự

Tập cho Vu-hỏi

Sóc cho Vu-láy

Chí cho Vu-đan


Tất cả tụ lại mau

Phóng Hàng trật tự

Tập cho Giỏi

Sống cho Vẻ

Chết cho Vang



- Ngày xưa Việt Vương Câu-Tiễn đã nói “Tất cả tụ lại mau. Phóng hàng trật tự. Tập cho giỏi, sống cho vẻ, chết cho vang!” Bây giờ nhờ vào tiếng Việt và tiếng Triều Châu là tiếng Mân Việt (Tiếng Mân Việt ngày xưa khác với bây giờ, giống tiếng Việt Nam hiện nay nhiều hơn, ngày nay dù đã biến âm vì ảnh hưởng của Hoa ngữ-Quan thoại nhiều nhưng không xa “nguồn gốc” lắm), cho nên tôi đã phục nguyên được “Duy giáp lệnh”.


Đối chiếu với các lời ghi chú – giải thích của các sử quan thời xưa ghi trong “Duy giáp lệnh” thì càng thấy bản phục nguyên của tôi là đúng. Dưới đây là lời giải thích của sử quan ngày xưa đã ghi trong “Duy giáp lệnh” mà chưa có ai giải nghĩa chính xác cũng bởi vì người ta không ngờ nhiều chữ chính là chữ “Nôm” cổ đại của tiếng Việt:


- “赤雞稽繇”者也: “Xích Côi kê chựu” giả dã=Người “Xét côi tề tựu” vậy. (Kê雞: chữ Nôm cổ đại đọc là “Côi”). Câu chú thích nầy dùng “chữ Nôm cổ đại” chứng tỏ được ý nghĩa “Tụ lại mau”; Người ra lệnh “Tụ lại mau” là người “Xét coi tề tựu”.


- 越人謂 “入铩”也: Việt nhân vị “Nhập Sát” dã = Người Việt gọi “Nhanh” vậy. Chữ Nôm cổ đại: Nhập sát入铩 là đa âm, nghĩa là “nhát” hay “nhat” (cổ ngữ không có cố định các thanh “sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng”) âm “nhat” là nói về chữ “nhanh入铩” .


- “買儀塵”者: “Mại Nghi Trần” giả= người “bày nghi trận”. Chữ Nôm cổ đại “Nghi trần” hoàn toàn trùng âm với “Nghi trận”. Chữ Mại買 còn có âm đọc là “Bồi買” bên tiếng Triều Châu. Tiếng Triều châu “mại買 mải賣” đọc là “bồi bôi” trong khi tiếng Việt Nam hiện giờ vẫn dùng “Buôn bán-買賣” cho Mại買 và Mãi賣 là mua vào và bán ra. “Mại nghi Trần” là “bày nghi trận” trong “chữ Nôm cổ đại”. Điều này càng thấy “Tụ lại mau, phóng hàng cho thẳng” đúng là đang “bày nghi trận”.


- 越人往如江也: Việt nhân vãng như giang dã. Câu chú thích nầy dùng từ Hán Việt, ý nói người Việt đến tụ hợp rất đông, hàng hàng lớp lớp… (“vãng” là “vãng lai” “vãng” là đến; “Như giang” là “như nước sông” ý nói hàng hàng lớp lớp…)



- 越人謂船為 “須慮”: Việt nhân vị thuyền vi “tu lự” – người Việt gọi thuyền là “tu-lự”. Sở dĩ có câu nầy là vì vùng Giang Tô tiếng Việt (Ngô Việt) gọi thuyền là “xuy 須-lùy 慮” phát âm tương đương tiếng “xuyềnh” của Quảng Đông và chữ “Thuyền” bên tiếng Việt ngày nay. Câu nầy chỉ là phần giải nghĩa thêm chữ “Thuyền” của một sử quan nào đó. Nó làm rõ nghiã là “phóng hàng trật tự…” chứ không thể nào “phóng châu mà “trị” thuyền, sửa thuyền!


- 亟怒紛紛者怒貌也怒至: Cực nộ phân phân giả nộ mạo dã nộ chí – Câu chú thích bằng Hán Việt nói về những người lính đang tập hợp phóng hàng là “Cực nộ bừng bừng”… rõ ràng có dùng chữ “giả者” là “người”, vậy nó không thể nằm trong bản mệnh lệnh!


- “士击高文”者躍勇士也: “Sĩ kích cao văn” giả diệu dũng sĩ dã – Câu chú thích bằng tiếng Hán Việt nói về “sĩ khí dâng cao” của những người đã “phóng hàng trật tự”, cũng có chữ “giả 者” là “người”, nên không thể nằm trong mệnh lệnh!


- “夷”、 “海”也: “Di” , “Hỏi” (Hải) dã – chú thích nầy lại nói rõ “Di” nầy là “hải 海” là “hỏi” bên Hán Việt nhã ngữ. Chú thích nầy quá lạ. Không ngờ thời xưa “Di” lại đọc là “Hỏi”. Nhờ vậy mà biết được “vu-hỏi” là “vỏi” tức là “giỏi” của ngày nay!


- “單”者堵也: “Đan” giả đồ dã – chú thích nầy khó hiểu nhất ! “Đan 單” giả là “Đồ 單” dã! “Đồ” là đồ sát, là giết chết… Có lẽ sử quan ngày xưa hiểu được ý câu “Sống cho vẻ, chết cho vang” nên giải thích “đan” là “bị giết chết khi đánh giặc là vẻ vang”. Ngày nay người Trung Hoa không hiểu nên diễn giải là “tấn công thành lũy, công quang, đến khi chiến thắng!


3. Kết luận:


Phục nguyên “Duy giáp lệnh” không khó nếu như nắm vững qui luật đa âm thời cổ và đơn âm thời nay, cùng với các phương ngữ Việt. Nhưng trình bày cho rõ lại là chuyện không dễ!


Việt nhân ca với Duy giáp lệnh là hai văn bản xa xưa cho thấy rằng khoảng 2500 năm đến 3000 năm về trước, người Việt đã có chữ “Nôm” rồi! Điều nầy phù hợp với “suy luận theo lý lẽ” của tôi là chữ “Nôm” có trước và chữ “Hán-Việt” hay chữ “Hoa” là có sau!


Bởi vì, chữ “Hoa” hay “Hán-Việt” toàn là đơn âm! Chẳng lẽ người xưa phải “chờ” đến khi ngôn ngữ biến thành đơn âm hết rồi mới có chuyện sáng chế ra chữ viết?


Theo suy luận của tôi thì người xưa không chờ mà đã sáng chế ra chữ viết ngay khi còn dùng tiếng nói đa âm.


Đó là chữ “Nôm”! Chắc chắn là không phải chỉ có riêng một người sáng tạo ra chữ của ngôn ngữ, vì không ai đủ sức và sống lâu ngàn năm để làm được như vậy!


Chính bá tánh toàn dân đã sáng chế ra chữ viết “Nôm”. Bởi vậy nên chữ Nôm không có tính thống nhất.

Sau nầy các văn bản của triều đình được gọi là “nhã ngữ” đã thay thế dần rồi làm thất truyền đi “chữ Nôm”.

Do vậy sau nầy người ta mới không hiểu và giải nghĩa sai “Việt nhân ca” và “Duy giáp lệnh”!


Có rất nhiều vết tích để lại là chữ “Nôm” có trước. Hy vọng thế kỷ 21 sẽ chứng minh được điều nầy.


(kỷ niệm đón xuân Canh dần 2010) – Đỗ N. Thành/ Nhạn Nam Phi.


*Tài liu và bài liên quan:


-Việt Tuyệt Thư bản online: quyn 3.Việt Tuyt Ngô Ni Truyn: 卷第三·越绝吴内传第四: http://www.zsku.net/jiaoyu/sort01084...616802479.html

- Phát Hiện lại Việt Nhân Ca: http://newvietart.com/index4.606.html

- Nước Việt của Việt Vương Câu-Tiễn và Mân Ngữ: http://www.anviettoancau.net/anviett...temid=99999999 NGUỒN GỐC CHỮ NÔM

Đỗ Thành


Có rất nhiều và đ bằng chứng hiển nhiên là chữ Nôm có trước chữ Hoa và Hán-Việt.


2.800 năm trước có bài hát của người Việt khi chèo ghe, là bài “Việt Nhân Ca” được truyền đến ngày nay, là chữ Nôm.


2.500 trước có “Duy Giáp Lệnh” của Việt Vương Câu-Tiễn nằm trong sách Việt Chép, là chữ Nôm.


Các truyền thuyết, cổ sử, cổ thư và cổ thi, từ dân gian cho đến sách của Khổng Tử biên soạn, và “từ điển” thời xưa v. v... đều sẽ chứng minh được rằng “hiển nhiên”: là chữ Nôm có trước!


Tôi xin trình bày bài khảo cứu
Nguồn gốc chữ Nôm và Chữ Nôm có trước chữ Hoa và Hán-Việt với nhiều bằng chứng rõ ràng được xét từ Giáp Cốt Văn, Cổ Thư, Cổ Sử.

Xin lần lượt xem qua từng bằng chứng:


Sách “Thuyết-Văn” còn gọi là “Thuyết Văn Giải Tự” do Hứa Thận thời Đông Hán biên soạn, bao gồm hai phần là Thuyết Văn và Trọng Văn.


- Phần
Thuyết Văn gồm 9.353 chữ, chia theo 540 bộ chữ.

- Phần
Trọng Văn gồm 1,163 chữ, chỉ ra những chữ cùng âm cùng nghĩa nhưng mà cách viết khác nhau.

Sách
Thuyết Văn gồm 14 chương chính và một chương mục lục, tổng cộng có 133.441 chữ trong lời ghi chú để giải thích chữ nghĩa.

Năm Vĩnh Nguyên thứ 12 (Công nguyên, năm 100), sách
Thuyết-Văn được hoàn tất nhưng mãi đến năm Kiến Quang thứ nhất (Công nguyên, năm 121), Hứa Thận mới giao cho con là Hứa Xung dâng lên triều đình Hán.

Nguyên bản của
Thuyết Văn đã thất lạc, cũng là nhờ các thư tịch khác thời Hán và các đời sau đã dùng Thuyết Văn để dẫn chứng nhiều, cho nên, sau nầy người ta có tài liệu biên soạn lại sách Thuyết Văn. Thời Bắc Tống, rồi đến thời Mãn Thanh đều có người nghiên cứu và hiệu đính.

Sách
Thuyết Văn dùng hai phương pháp “Phản” và “Thiết” để tra chữ, rồi giải thích nghĩa, tạo ra tiền lệ và trở thành quyển từ điển đầu tiên. Các từ điển sau nầy là phỏng theo phương cách của Thuyết Văn.

-
“Phản” là cách nói phản-nghịch (nói lái): dùng từ phản (nói lái) để đọc ra phát âm của chữ cần tra cứu.

Ví dụ:

Phát âm chữ “Thiên 天” là theo cách nói lái của “Tha-Tiền 他前”, là “Thiên Tà”, thì sẽ biết “Thiên” là phát âm của chữ “Thiên 天”: 天 = 他前.”


-
“Thiết” là nhất thiết, là tất cả: chữ đầu lại dùng luôn âm vần của chữ thứ hai để phiên âm ra giọng đọc của chữ cần tra cứu.

Ví dụ:

Phát âm chữ “Thiên 天” là dùng chữ “Tha-Tiền 他前”.


Với cách đánh vần chữ “Tha 他” dùng luôn âm “iên” của chữ “tiền 前” thì sẽ được Tha-iên-Thiên: 天=他前.


Hai phương pháp
“phản” và “thiết” có cách dùng trái ngược nhau, nhưng nhập chung lại thì cách nào cũng được, và gọi chung là “phương pháp phản-thiết” để phiên âm.

Nhờ cách phiên âm phản-thiết của Hứa Thận, cho nên người ta có thể căn cứ vào cách đọc của Thuyết Văn để phục nguyên âm đọc Hán ngữ cổ. Cách giải tự trong Thuyết Văn có nhiều đóng góp cho việc khảo cứu ngôn ngữ học. Qua đó, người ta có thể phục nguyên cách đọc của thời cổ xưa. Đời nhà Thanh có bốn học giả nổi tiếng đã nghiên cứu và hiệu đính Thuyết Văn.


Có hiện tượng
“không bình thường” là khi dùng tiếng Hoa ngày nay để đọc “Hán ngữ” cổ thì khó khăn, không thích hợp, còn dùng tiếng Việt để đọc lại dễ dàng.

Từ đó rút ra kết luận: đọc Thuyết Văn theo tiếng Việt thì đúng, mà đọc theo tiếng Hoa thì nhiều khi sai vì khó hoặc không thể phiên âm đúng.


Chính vì tiếng “Hoa”
không đọc nổi “Thuyết Văn Giải Tự”, cho nên các đời sau nầy khi biên soạn lại sách Thuyết Văn, người ta thêm vào cách phiên âm “mới” hơn so với thời Cổ đại. Dù là như vậy nhưng những âm Trung Cổ đại lại một lần nữa cũng gần với âm Việt hơn là tiếng Hoa ngày nay. Chúng ta có thể nhận ra những phần phiên âm theo cách “phản-thiết” mà người đời sau thêm vào.

Khi đọc sách Thuyết Văn thấy đã
có hướng dẫn cách đọc chữ của Hứa Thận rồi mà lại có thêm ba chữ “X X thiết” nữa mà lại khác với cách “hướng dẫn cách đọc” của câu có trước thì đó là bản được “soạn” lại! Bản nào được biên soạn vào đời nhà Thanh thì có thêm phần “XX thiết” đọc theo tiếng quan thoại-phổ thông được hơn.

Liệu có còn bản chính của Thuyết Văn do Hứa Thận thời nhà Hán viết ra không? Không! Bản Thuyết Văn xưa nhất hiện thời, cho dù được gọi là “nguyên bản”, được chụp hình đăng lên Internet hay in thành sách để bán thì cũng là bản được biên soạn vào thời nhà Tống! Những bản khác còn được làm muộn hơn nữa.


Nhưng dù sao đi nữa, sách Thuyết văn có giá trị là nhờ nó
giữ được nhiều nguyên văn cổ xưa của Hứa Thận và có nhiều điển tích trong những lời giải thích. Đồng thời sách cũng đưa ra quy tắc chữ viết cùng một bộ thì có phát âm giống nhau v. v...

Tôi nhận thấy,
đọc Thuyết Văn theo tiếng Hoa-Quan Thoại thì không phiên âm được các chữ theo chú dẫn của Hứa Thận, còn khi đọc theo cách tiếng Việt thì đọc đúng!

Ví dụ:

- Chữ 夏, tiếng Hoa ngày nay đọc là “Xia”.


Thuyết văn ghi: 夏: 中國之人也. 從夊從頁從𖥑. 𖥑,兩手. 夊,兩足也. 胡雅切. (
Hạ: Trung Quốc chi nhân dã.Tùng xuôi tùng hiệt tùng cúc. Cúc, lưỡng thủ. Xuôi, lưỡng túc dã. Hồ nhã thiết.)

Giải thích chi tiết - nghĩa là: H 夏: người Trung Quốc vậy. Viết theo 夊xuôi theo 頁 hiệt theo cúc 鞠. Cúc, hai tay (cúc: khép, chấp hai tay). Xuôi, hai chân vậy. Hồ nhã thiết.


- Phiên âm theo cách phản: Hồ nhã = Hà nhỗ, âm: “Hạ”


- Phiên âm theo cách thiết: Hồ-nhã=Hồ-a-ha, âm: “Hạ”.


Một đoạn ngắn nêu trên khi tra chữ Hạ 夏 cho thấy thời cổ đại cho đến thời nhà Hán thì chữ 夏xia của tiếng Hoa bây giờ, ngày xưa đọc là “Hạ夏”. Như vậy, rõ ràng là dùng tiếng “Hoa” khi tra Thuyết văn là trật, là không thích hợp. “Hồ nhã” không bao giờ phiên âm ra thành “Xia”. Đọc theo tiếng Hoa-quan thoại thì “胡雅 (Hủa + Dã)” không thể nào đánh vần ra “Xia” theo cách “phản và thiết”. Cũng nhờ phần chú thích giải tự thì biết được ngày xưa khép tay, khoanh tay, hay chấp tay gọi là Cúc 𖥑 và hai chân xuôi thì viết là xuôi夊.


*Đặc biệt: “Hồ nhã-胡雅” đọc theo Mân Việt “雅Nhã” là “Nghé”, “nghe” hay “nghè” thì “phản thiết pháp” cuả Hạ夏 trở thành âm Hè夏 theo tiếng Triều Châu và Việt Nam.


Bây giờ ta thử xét một vài chữ có cách đọc khó và lạ xưa nay:


http://shuowen.chinese99.com/image.php?num=1566&s=0


譒 𒾭也。从言番聲。《商書》曰:“王譒告之.” 補過切

chữ Bôn譒 Boa - dã. Tùng ngôn bàn thanh.
(Thương thư) viết: “Vương bôn cáo chi”. Bổ qua thiết, là “ Bổ-ua=bua-boa”.

Bua (Bổ qua thiết) là phiên âm của đời sau. Nguyên văn của “Thuyết Văn” là “ngôn-bàn thanh言番聲.”=Bôn.


Bây giờ người ta đọc chữ Bôn (bua-boa)-譒 là “Phiên” hay là “Phồn”. Đọc là “phồn” thì còn hợp với Thuyết Văn đã ghi là “ngôn, bàn thanh”. Bôn hay Phôn hay Phồn giống nhau, chỉ là đọc giọng nặng nhẹ khác nhau theo từng miền “đông, tây, nam, bắc”. Người ta còn đọc là 譒phiên theo âm chữ ghép bên phải là “phiên 番”; và cách đọc “phồn 譒” là vì ghép vần 番phiên và 言ngôn. Nhưng thời xưa lại đọc chữ 番 phiên là “bàn番”.


Xin giải thích thêm: 譒 vết tích của âm “Boa” còn được dùng trong tiếng Triều Châu- Mân Việt ngày nay. Hiện giờ tiếng Triều Châu vẫn gọi “bàn chân” là “kha-bóa” (Kha là kẳng/cẳng, Boa là bôn/bàn…Bàn là bàn tay, bàn chân). Từ nguyên văn “tùng ngôn bàn thanh” của “Thuyết Văn” thì chúng ta biết được ở thời Cổ đại đọc là “Bôn, Bồn, Bàn”, đến thời Trung Cổ người ta “biên soạn” lại Thuyết Văn thì thêm vào “Bổ qua thiết = Bua = Boa” phù hợp với “kha-boa (bàn chân)”. Bên tiếng Triều Châu còn dùng cho đến ngày nay. Âm của các “Nho gia (?)” từ từ biến thành “Phiên”- như tên gọi nước “Thố phiên” hay “Phồn- tức là nước “Thổ phồn”.


“Phiên” hay “Phồn” có sau và được dùng cho đến ngày nay. Người ta lại đặt tên gọi đó là “từ Hán-Việt”! Tên gọi là gì cũng được! điều rõ ràng là “Hán-Việt” của “phiên” hay “phồn” có sau, còn chữ Nôm - “bóa” “boa” “bàn” mới là có trước và đã được ghi trong sách “Thuyết Văn” cũng như tồn tại trong dân gian Việt cho đến ngày nay. Cho nên nếu nói rằng “bàn” là “Nôm” thì rõ ràng là Nôm có trước.


(Dưới đây sẽ xét đến âm chữ Bàn trong Thuyết văn...)


番: 獸足謂之番。从釆;田,象其掌。 附袁切


Phiên:
Thú túc vị chi phiên. Tùng 釆thể; 田điền, tượng kỳ chưởng掌. Phù viên thiết. Phiên: Chân thú gọi là phiên, viết theo 釆thể; theo 田điền, như là chưởng (chưởng: bàn, bàn tay).

Phần trên là tôi phiên dịch theo “đa số” hiện giờ, chứ thật ra thì đoạn văn trên phải phiên dịch là “
Bàn: thú túc vị chi bàn, tùng thể; điền, tượng kỳ chưởng.”

Đây là vết tích của chữ Phiên 番 trước và ngay thời Hán, vào lúc ông Hứa Thận còn sống thì đọc là Bàn. Cho nên còn cách giải nghĩa phần nầy như sau: { Bàn 番: Thú túc gọi là Bàn. Theo (thể) 釆bẻ ; (Điền) 田đàn, tựa như cái chưởng. Bàn: chân thú gọi là bàn (bàn chân), viết theo bẻ 釆(thể) và đàn 田(điền), tựa cái bàn (tay, chân)...}


Vì sao lại “diễn nôm” như vậy? Vì Thuyết Văn đã viết đây là “ngôn- bàn thanh”

{Chữ bẻ 釆(thể) quá đặc biệt! “Thể” là “hái” là “bẻ”

ví dụ: “Thể 釆 Tra ̀茶” là “hái” là ̀ “bẻ” - “chè-trà”: [Chữ Bẻ 釆(thể) gồm chữ “mễ” ̉米 và một dấu “ngắt” hay “cắt” ở phía trên mà tiếng Triều Châu đọc Mễ 米 là “Bía 米” và có thêm cái dấu dấu cắt phía trên thì có giọng đọc thành “bẻ ̃釆” là rất phù hợp].


Tiếng Triều Châu còn đọc là “bboi” hay “bbé” hay “tiaé”, (tiếng Triều châu: “hái lá” là “tiáe Huêét” hay “Bbé Huêét” Huêét âm chữ̉ Hiệt頁 nhưng mang nghĩa là “Lá”), tiếng Quảng Đông là “chsổi釆”, tiếng Bắc Kinh là “chsài釆”. Chsổi hay chsài như là đọc “thể” không chuẩn, mà thành “chsể, chsề”, còn “thể” đọc không chuẩn qua vần “T” sẽ thành “tể” hay “Tiae”; còn âm “bbé” hay “bẻ” là giống nhau}.


Xin hỏi ai là chuyên gia về “Hán-Nôm” thì những âm của một chữ “đặc biệt” như vậy thì là âm nào là “Hán” và âm nào là “Nôm” và chữ Hán có trước hay là Nôm có trước? Điều thú vị khi nghiên cứu Thuyết Văn Giải Tự của Hứa Thận để phục chế cổ Hán ngữ thì thấy rõ phát âm thời Tần và Hán giống như các tiếng nói Việt Nam và Quảng Đông (Việt), Phước Kiến-Triều Châu (Mân-Việt) ngày nay; và cũng phát giác những biến âm đã khác tiếng Việt thời cổ đại mà các phương ngôn Việt Nam, Quảng Đông, Triều Châu còn giữ được.


Ví dụ tiếng Việt Nam còn giữ được tiếng “bàn” tay, “bàn” chân, và Triều Châu giữ được “boa-boá” hay là “póa” Trung cổ đại mà thời Hán đã được ghi lại trong “Thuyết Văn”.


Biến âm của Bàn-bồn-bôn/ tùng “ngôn” “bàn” thanh trở thành bua-boa-bóa-poá, trở thành “biên” rồi thành “phiên” và “phồn”!... Thực ra thì từ “bàn-bèn” biến thành “biên, bua, phàn, phền, phồn, phiên v. v...” đó là quy luật biến âm thường tình của ngôn ngữ theo miền và theo thời đại với nhiều tiếp xúc văn hóa và phát triển khác.


Cổ âm xưa là Bàn, Giáp Cốt-Kim Văn đã vẽ rõ chữ nầy bằng hình bàn chân thú. Ngày nay chỉ có tiếng Việt Nam còn dùng “bàn” là “bàn tay - bàn chân” thì rõ ràng là tiếng Việt Nam còn giữ được âm cổ xưa nhất, và cũng là một minh chứng giọng “Nôm” của chữ “Nôm” là có trước: có thể nói Giáp Cốt Văn - chữ tượng hình đầu tiên là “chữ Nôm”.


http://shuowen.chinese99.com/image.php?num=720&s=13


Cổ văn vẽ chữ tượng hình: 番phiên là “bàn - 番”, chữ xưa là tượng hình, vẽ “chữ phiên” là bàn chân thú có móng vuốt, ngay cả chú thích “附袁切 phù viên thiết”. Ngày nay đọc như vậy thì làm sao đúng với ngày xưa?


Nếu đọc là “bùa vang - 附袁” là “bàn (vua)” thì hoàn toàn đúng là “bàn” như chú thích trong Thuyết Văn vậy! Bởi vì chính chữ “bùa 符 (Phù)” của bùa chú là đồng bộ thì đồng âm với chữ bùa 附 (Hay “Phù”, hay “Phụ”) đó thôi.


- Xét thêm: Thảo bộ 艸部 蘻 kỹ-(hệ) 狗毒也 cẩu độc dã 从艸繫聲 tùng thảo kỷ (Hệ) thanh。古詣切 Cổ chỉ thiết.


Cổ chỉ (nghĩ)= kỷ, ngày nay dùng chữ nầy cho ý nghĩa “liên kết”, mà khi có hai chữ “liên kết” lại đọc là “liên hệ蘻”. Thật ra thì xưa Trung Cổ ghi là “古詣 cổ nghĩ =kỷ” và biến âm “kỷ̉” thành ra “kết” nhưng sau nầy thành ra “hệ” như ngày nay. (Ngày xưa đọc chữ “詣 chỉ” là “Nghi ̃詣”: Ngôn言 chỉ 旨 = nghĩ và phiên âm là 五計 / Ngũ kế).


Phân tích kỹ lưỡng lời trong Thuyết Văn sẽ thấy rõ là “nọc độc của chó gọi là “Cẩu Kỷ (nọc độc)” và “Tùng thảo kỷ thanh” lại là viết theo bộ thảo 艸 với là âm “Kỷ- hay kỳ”. Vì tiếng xưa không cố định thanh sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng nên âm “kỳ” gần với “kề” và hoàn toàn phù hợp với “liền kề” cũng có nghĩa tương tự như “liên hệ”.


Qua khảo cứu kỹ̉ lưỡng, sẽ có đủ lý do để phục nguyên chữ Nôm cổ đại “kề 蘻” đã có trước âm “hệ” quá mới, và âm “kỷ” với “kết” cổ đại vẫn có sau âm “kề”.

Vậy: “liền kỳ” hay “liền kề” là có trước “liên hệ”.

Ngôn bộ 言部 詣 nghĩ (chỉ) 至也 chí dã。从言旨聲 tùng ngôn, kỷ thanh。


五計ngũ kế = ngê ̃(切thiết). Từ khảo cứu nầy thấy “thánh chỉ” thời Cổ đại gọi là “thánh nghĩ”, và đến thời Trung cổ là “thánh nghễ” cho nên phiên âm là “Ngũ Kế 五計” = Nghễ, ngày nay là “chỉ.”


Chỉ bộ 旨部 旨kỷ 美也mỹ dã。从甘匕聲 tùng cam tỉ thanh; âm cam theo tỉ thanh là “kỷ”。凡旨之屬皆从旨phàm chỉ chi thuộc giai tùng chỉ。職雉切 chức thị thiết = chỉ (biến âm thành chỉ): xưa đọc là “kỷ” vì là “cam” với “tỉ thanh”. Nay đọc là “chỉ”
.

Tỷ Bộ 匕部 匕tỷ 相與比敘也 tương dĩ tỉ tự dã。从反人 Tùng phản nhân {cách viết như chữ nhân人 bị lộn ngược (匕)} 。亦所以用比取飯. Tỷ, diệc sở dĩ dụng tỷ̉ thủ phạn - “tỷ”có thể dùng để đựng cơm).


Tiếng Việt ngày nay còn dùng “kỷ” trà, kỷ đựng trầu cau. 一名柶 (nhất danh mứ / máng) còn gọi là “mứ” (hay là “máng” ngày nay)。


Ngày nay tiếng Triều Châu vẫn dùng chữ “tỷ- đọc thành Teaá” là cái “chảo” để chiên cơm, còn tiếng Việt Nam thì lại còn dùng “máng” là “máng” đựng thức ăn cho gia súc như cái “máng” dùng cho heo ăn. 凡匕之屬皆从匕 phàm tỷ chi thuộc giai tùng tỷ. 卑履切 ty lý thiết (ty lý = âm “tí-tỉ”) => “匕tỷ” có sau, nên được giải thích rõ là còn gọi là “mứ/ máng 柶”.


Mộc bộ 木部 柶 Tỷ (mứ, máng) 《禮lễ》 有柶hữu tỷ. 柶 tỷ/tứ(mứ, máng), 匕也 tỉ dã。从木四聲 (tùng “mộc” “ tứ” thanh ) âm cổ là theo mộc , với “tứ” thanh, tức là “mứ” hay “máng”, cái “máng” đựng thức ăn, cái “máng” hay cái “mứ” hay cái “tỷ”, cái “kỷ” lại là dùng để đựng thức ăn trong dịp lễ禮。息利切 tức lị thiết = tỷ.


(ghi chú: lị利 đọc là “lị”, chỉ đến khi có vua tên Lê Lị thì kỵ húy nên lị mới đổi đọc thành lợi).=> 从木四聲 Tùng mộc tứ thanh: mộc + tứ là “柶mứ”/ máng là “chữ Nôm” có trước, âm “tỷ” có sau và chỉ đọc “tức lị 息利” bằng Hán-Việt được mà thôi, còn “xĩa lía 息利”= “xĩa”/ tiếng bắc kinh và “xíc lì息利”= “xi”/ Tiếng Quảng Đông và “xech lịa息利”= “xia”/ Tiếng Triều Châu... đều “khó lòng” và “không” “phiên âm” được chữ nầy thành ra chữ nào có âm chính xác theo cách “phản” cũng như là “thiết”! Chính vì vậy mới thấy được cái âm “Mư ́柶, Máng 柶” là chính xác và có trước, và âm Tỷ柶 là có sau. Các “phương ngôn” khác của chữ nầy thì khỏi bàn luận... vì không dùng nổi, dùng sai hoặc biến âm khác xa rồi, hoặc không còn dùng chữ nầy nữa. Chữ nầy cũng là một bằng chứng rằng tiếng Nôm, chữ Nôm có trước!


Chữ “gần 近” ở Triều Châu đọc là “gìn/ kìn近”, ở Phiên Ngung đọc là “khạnh/ cạnh 近”, ở Bắc Kinh đọc là “Jín 近”. Thời nhà Đường nhiều nơi lại đọc là “cận 近” ; chữ “tiệm 店” ở Triều Châu đọc là “tiẹm店”, ở Quảng Châu đọc là “tiêm店”, ở Bắc Kinh đọc là “tién店”, thời nhà Đường nhiều nơi lại đọc là “điếm店”. Gần-gìn, khạnh/cạnh với “jín” cũng chính là “gìn”, cùng với “tiệm” “tiêm” “tiẹm” “tiién”...


Xin nhấn mạnh là riêng ở bên “tiếng Hoa” thì đã chứng minh và công nhận rằng tiếng Quảng Đông và Triều Châu là có trước tiếng Hoa-Bắc Kinh mấy ngàn năm. Như vậy cũng có nghĩa là chữ “gần/ cạnh” có trước chữ “cận hay jín” và “tiệm/ tiêm” có trước “tién” hay “điếm” của “Hán –Việt” vậy.


Ngày nay, lại có Khương Nhung bên Trung Quốc xuất bản tiểu thuyết “Tô tem Sói”, cho rằng chữ tượng hình chính là do dân du mục sáng tạo ra. Từ lý giải chữ Mỹ美 chính là con dê羊 lớn mập là đại大, thì là đẹp, đẹp lòng khi nuôi được con dê lớn thì là Mỹ美, (美=羊+大) tác giả cho rằng chữ vuông là của dân “du mục”. Vì vậy đẹp, Mỹ美 là “nuôi dê” là “du mục” và “Người Hoa-gốc bắc-du mục” sáng tạo ra chữ vuông! Khương Nhung nói về cái “đẹp” là Mỹ美 mà không dính líu với trồng tỉa và nông nghiệp! Tác giả cố tình không biết hay là thật sự không biết rằng:


Chữ L 麗 là cũng là mỹ là đẹp, và chữ lệ còn hay hơn chữ Mỹ 美 nhiều! Chữ L 麗 là con nai (鹿lộc) vàng ngơ ngác với trên là đôi mắt nai mở to chứ không nhắm lại! Như vậy, xét theo chữ Lê 麗 thì chữ vuông là thợ săn hay “thi sĩ” hay “họa sĩ” sáng tạo? Xin hãy cười cho vui! Người đời hay dùng chung nói đẹp đẽ là Mỹ Lệ - 美麗 hay diễm lệ - 艷麗.


Xin dẫn chứng tiếp:


- Chữ Diễm 艷 là “đẹp” diễm tuyệt, là sắc đẹp đầy tràn, bên trái của chữ Diễm艷 là chữ Phong 豐, bên phải là chữ Sắc 色. Chữ Phong gồm chữ Đậu 豆 (hạt đỗ - hạt đậu) bên dưới và hình ảnh bông lúa “丰丰”đầy đồng phía trên, “diễm” được diễn tả bằng “sắc đẹp” của bông lúa“丰丰” và đậu豆 (đỗ). Khi phục nguyên chữ Nôm thì chữ “Diễm 艷” nầy lúc đầu có phát âm là “Đẹp 艷”. Vì sao?


Vì rất nhiều địa phương không phát âm vần “Đê/đ” được! Ngày nay tiếng Bắc Kinh, Quảng Đông, Triều Châu đều không có âm “Đ”, cho nên đã đọc “Đẹp艷” là “Dep-diẹm” rồi thành-diềm艷 (tiếng Quảng đông ngày nay), diễm 艷(Từ Hán-Việt), dén/yen艷 (Tiếng Bắc kinh ngày nay)”
.

- Phục nguyên chữ Nôm “L 麗” chính là “đ麗” vì “đ麗” nhiều nơi đọc không được, đọc trệch thành “lẽ” và “lẹ” rồi thành “lệ 麗”. Nhập chung lại sẽ thấy “đẹp đẽ - 艷麗” sinh ra “Diễm lệ” trở thành “diễm lệ-艷麗”


- Phục nguyên chữ Nôm “Phong 豐” có thể chính là “bông 豐” vì chữ nầy nói về “bông” lúa và âm “đậu” hay “đỗ” hoàn toàn phù hợp ý nói “đậu bông”, “trổ bông”. Phong phú 豐富 là bông lúa 豐富, có nhiều lúa (với phu ́富 gồm chữ Điền 田 và bông lúa) là giàu! Chữ “bông 豐 (Hoa)” kết với chữ “sắc 色 (sắc đẹp)” thì đúng là “đẹp 艷 Diễm”.


- Chữ Nhã 雅 là tao nhã, là đẹp với chữ “nha 芽” tức là manh nha, nhú mầm, nẩy mầm, nhảy mầm của hạt giống mới nẩy mầm. Phục nguyên giọng đọc của “Nha 芽” và “Nhã 雅” chính là “Nhảy 芽/雅” bị đọc trệch là “Nhã 雅” Hán-Việt và “Nga ̣雅” / tiếng Quảng Đông, “nghè-Nghe, nghe ́雅”/ Tiếng Triều Châu, và “Da ̃雅(ya)” / Tiếng Bắc Kinh… chính là dân nông nghiệp ca tụng cái đẹp của “nhẩy 芽 nẩy, nhú” mầm của hạt giống.


Chữ Phước 福 có Y/衣/áo, cũng có Điền 田 là ruộng lúa nước.


Có thể kể ra thật nhiều trường hợp nữa, nhưng tôi tạm dừng ở đây, vì muốn nói cho cùng, phải làm một công trình quy mô khảo cứu và dịch toàn bộ sách Thuyết Văn. Nhưng để chứng minh chữ Nôm của người Việt có trước chữ Hán của người Hoa thì có lẽ cũng là đủ, vì còn phải dẫn chứng qua phần chi tiết khác.


Thứ chữ mà tôi gọi là chữ Nôm thì nhiều người gọi là chữ Việt cổ. Không sao, chỉ là cách gọi. người Hoa Hạ đã dùng chữ Nôm của người Việt Cổ phương Nam chế ra chữ Hán.


Khi tìm ra cội nguồn chữ Nôm, sẽ càng hiểu mức độ văn hóa và sức sống mãnh liệt nguồn gốc và văn minh Bách Việt của tộc Việt, càng cảm thông và kính phục cha ông mất bao trí tuệ và công sức sáng tạo và bảo tồn cho chúng ta về chữ và ngữ của tổ tiên.


Chữ Nôm có trước từ xưa và vẫn tồn tại trong suốt qúa trình lịch sử và cho đến ngày hôm nay. Đó là lý do vì sao tôi đã phục nguyên được “Việt Nhân Ca” và “Duy Giáp Lệnh”.


(Còn tiếp…{Với bằng chứng “kinh Hoàng” và “rõ ràng” hơn})


Sacramento Ngày 29 tháng 03 năm 2010.

Đỗ Thành/ Nhạn Nam Phi

______________________________


Ghi chú:
Có quá nhiều quan niệm xưa “Truyền thống” về chữ̉ Nôm.

- Xin tham khảo thêm các bài và tài liệu sau đây.


http://www.blogsach.com/product_info...roducts_id=804


*“Ghét đời Kiệt Trụ”. Tác giả: Nguyễn Thiếu Dũng


* ”từ chữ phụ đi tìm nguồn gốc chữ tượng hình”. Tác giả: Nguyễn Thiếu Dũng.


*nghị luận “văn tập” của tổ ngôn ngữ quốc tế Hán học hội lần thứ 3


*Bách Việt Sử: Những lớp bụi mờ của lịch sử ̣(2): Sở楚 LÀ VIỆT越... là Văn-Lang.


*PHÁT HIỆN LẠI VIỆT NHÂN CA (越人歌)


*PHỤC NGUYÊN DUY GIÁP LỆNH CỦA VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN .


*Thuyết Văn online:
http://shuowen.chinese99.com/index. Chữ Nôm cổ xưa và Ý nghĩa của Việt

Đỗ Thành