Monday, November 19, 2012

Nguồn Gốc và ý Nghĩa của chữ “Tết” và “Năm”

Bài Khảo cứu chữ Việt Cổ.

Chữ Việt ngày nay chia ra làm Kim văn và Cổ văn: Kim Văn là nói chung về chữ viết của ngày nay, và Cổ Văn là chữ của ngày xưa; ngày nay chữ Việt được viết bằng mẫu tự La-tin. Ngày xưa, chữ Việt được viết bằng chữ Tượng hình; Cổ văn của Việt là Hán-Nôm, lại bị chia ra làm hai phần Hán-Việt và Nôm.


Khi mà nhắc đến văn tự của thời xưa, thì tự nhiên là phải đặt tên và gọi là “Cổ văn” cho dễ phân biệt, rõ ràng! Cổ xưa lại chia ra làm
trung cổ, rồi thượng cổ và thậm chí là thời nguyên thủy v. v… đó là cái rắc rối khi diễn đạt bằng ngôn ngữ - khác với cách diễn đạt bằng hình ảnh!

Thật ra thì ngôn ngữ chỉ là ngôn ngữ, và chữ viết đơn thuần chỉ là chữ viết; Nhưng, ngôn ngữ và chữ viết luôn luôn biến đổi do hoàn cảnh lịch sử và sự tiến bộ của văn minh và văn hóa của mỗi dân tộc và của nhân loại. Chữ Việt của người Việt ngày nay đã là “chữ Việt”, và chữ Viết của người Việt thời xa xưa cũng đã là “chữ Việt” - “chữ Việt cổ”.


Nếu đọc giả đã xem qua những bài viết của tôi trước đây về khảo cứu Hán-Nôm, thì đã thấy rõ nhiều bằng chứng chữ Việt cổ đã để lại những vết tích rõ ràng mà ngày xưa do cách gọi tên và cách diễn đạt là Hán, Hán-Việt, Nôm v. v… nên đã tạo ra những ngộ nhận, nên đã làm cho người ta có cách suy nghĩ và cách nhìn nhiều khiếm khuyết về “chữ Việt Cổ”
.

- Xem các bài viết:


Nước Việt của Việt Vương Câu-Tiễn và Mân Ngữ.


DUY GIÁP LỆNH


Chữ Nôm-字喃 cổ xưa và Ý nghĩa của *Việt*


NGUỒN GỐC CHỮ NÔM


PHÁT HIỆN LẠI VỀ VIỆT NHÂN CA (越人歌)


Ch Nôm Làm Rõ Cổ Sử Và cổ Sử Làm Rõ Chữ Nôm.


Hoàng-Viêm là Hoẳng Và Chim Trong Trống Đồng


Đụn Tiên: Động Đình Hồ-洞庭湖


(
http://vn.360plus.yahoo.com/thanhdo1...e?new=1&mid=79)

Bài viết nầy tiếp tục và chứng minh rõ hơn về chữ Việt cổ, và nhân dịp đón xuân Tân Mão, xin bàn luận về nguồn gốc và ý nghĩa của những từ ngữ của chữ “Tết”, và “Năm”.


*Khảo Cứu Hán _ Nôm: Chữ “Tết” hay “Tiết” = 節.


Tết là gì? Tết dương lịch của văn hóa phương Tây quá phổ biến trên toàn thế giới! Và dần dần thì câu “Happy new year” ai cũng biết! Ở đây, xin nói về tết “Ta”, tết của Âm-Lịch.


Tết âm lịch: tết năm mới, tết nước, tết lúa, tết mùa v… v.. của Việt, Hoa, Ấn,Thái, Mường, Chăm, Khmer v… v…


Trước hết, ta xét thấy: tiếng Việt ngày nay gọi là Tết.


“Tết” là danh từ của L mừng năm mới của khoảng chừng 1/3 dân số trên thế giới ngày nay: bao trùm vùng Đông Nam Á, Trung-Hoa, Hàn, Nhật, Ấn, Nepal v. v…


- Việt Nam gọi là Tết.


- Trung quốc gọi là Xuân Tiết.


- Thái gọi là Thết / Thrếts (trong kinh Lễ Ký, Khổng Tử gọi là Tế-sạ)


- Zhuang gọi là: XIT / SIT


- Nùng: TẾT


- Mường:Thết


- Chàm: TÍT / kTÊH


- Mon: kTEH


- Khmer: CHÊTR


- India: CHETR (là tên tháng tư và tháng năm của cổ lịch Ấn độ, hai tháng giao mùa đem mưa đến [mois du début de la mousson).


- Nepal: TEEJ (lễ đầu năm của Nepal)


- Mustang: TIDJ (lễ đầu năm của xứ Mustang, sát với xứ Nepal).


- Munda: TEEJ (lễ ăn mừng mùa mưa đến / the ancient melodies of Teej, marking the return of the moonsoon and the promises of prosperity [National Geographic magazine])


(tài liệu online: Cám ơn tác giả “Vô danh”)


Vậy, so sánh phong tục đón tết và ngôn ngữ thì thấy có rất nhiều ngôn ngữ đều có Tết / Tiết / Thết / Tít / Xít, v. v…


Qua Khảo cứu với chứng cứ và tài liệu. Bằng chữ viết và ngôn ngữ học, thêm vào các môn khoa học khác nữa với văn hóa phong tục v. v… thì thấy rằng “Tết” có cội nguồn và ý nghĩa của văn hóa Việt. Bởi các lý do sau đây:


- Chữ Viết cổ xưa nhất là “Giáp cốt văn” đã vẽ hình “cây lúa có hạt lúa chín” khi nói về “Năm” / một năm - Tết; Tết – năm gắn liền với cây lúa. (và Cổ Việt tộc được lịch sử phương Đông và phương Tây công nhận là tộc biết cấy lúa sớm nhất trên thế giới.)


- Khoảng 2000 năm trước, Hứa Thận đã giải thích chữ “Niên” là “Lúa chín” trong sách “Thuyết Văn”.


- Chữ “Tết” hay Tiết hay Tít v. v…đều có cùng phát âm giống gần gần nhau và có ý nghĩa rõ ràng chỉ giải thích được một cách cụ thể bằng chữ và nghĩa của tiếng Việt. (Chữ Việt cổ là chữ Tượng hình, không phải là chữ viết theo mẫu tự La-Tin như ngày nay.)


- Ngày của Tết, tên của tết - ý nghĩa, phong tục và lễ hội đón tết gắn liền với văn hóa lúa nước.


Xin mời quí vị xem rõ chi tiết của “Tết” như sau:


Tết còn là “節-Tiết”/(Trong hiện tại).


- Tiếng Bắc kinh đọc là “節 - chẻ”.


- Tiếng Quảng Đông và Thượng Hải đọc là “節 - chit”


- Tiếng Triều Châu đọc là “節 - chôi”.


- Tiếng Nùng: Tết / Choang đọc là: 節 - Xit (Nùng - Choang có liên hệ mật thiết huyết thống và ngôn ngữ)
.

- Quảng Âm (Thời Đường và Tống –“Quảng đại quần chúng đọc âm nầy”) đọc là: 節 - Tết.


*** Chữ “節 - Tết” ngày xưa: khoảng 2000 năm về trước đọc là “節 - Tết”, chứ không đọc là “節 - tiết” . Thời nhà Hán cũng đọc là : “節 - Tết”, cho nên phiên thiết bằng cách viết là “子結切 - Tử kết thiết = “節-Tết”.


- Xem bằng chứng trong sách “thuyết văn” của 2000 năm trước:


=> Sách Thuyết Văn: 2865 節 竹 竹約也。从竹即聲。 子結切.


(Sách Thuyết Văn:


số thứ tự 2865: 節 -Tết 竹-Trúc 竹約也 - Trúc Ước Dã. 从竹即聲 - Tùng Trúc Tức thanh. 子結切 - Tử Kết Thiết) /


(Phiên dịch: Tết; là “Trúc”/ cây Trúc ( được) thắt hay bó lại vậy (Được “chiết” ra để trồng), viết theo bộ Trúc - 竹, đọc theo thanh “Tức - 即” phiên thiết: 子結 - Tử Kết = 節 - Tết).


Nghĩa là:


- “Ước - 約” hay Tước, hay Tách, triết, chiết, trẻ, chẻ, trích, tét, tếch, “tết” cây Trúc ra để mà trồng thì gọi là “節 - Tết”.


- Chữ “節-Tết” Cổ xưa nhất là chữ Tượng hình, là vẽ hình, dùng dụng cụ nông nghiệp để “Tết”/Tách “Búp Măng” của Trúc/Tre ra để mà trồng:


- Chữ “Tết” cổ đại là Hình vẽ “bộ Trúc” phía trên và “măng tre” bên dưới-bên phải là dụng cụ nhà nông để Tách-Tết cây mà trồng.


- (
http://www.chineseetymology.org/Char...ton1=Etymology)

=>
Bàn Luận và Nhận Định: [b]Chữ “節 - Tết” là Sản phảm văn hóa của người thời xưa, của nhóm người gần gũi với “竹 - trúc/Tre”, là của dân tộc sống nhờ nghề Nông và đã “định cư”

- Biết cách “節/chiết-Tết-Tách” cây Trúc/tre để trồng, và phát âm Cổ là “節-Tết” chứ không phải “節-Tiết( Hán-Việt”)/(Xem bằng chứng trong sách “thuyết văn”), “節 - Tết” là âm cổ của chữ Việt Cổ - và phát âm nầy liên hệ chặt chẽ với nhiều cách âm tương tự như là “Tết” của Vùng Đông Nam Á và Đông Á và cả Nam Á.


=> Sau khi đã đã thấy rõ nghĩa và phát âm có chứng minh của nguồn gốc xa xưa của chữ “Tết”/ Tách/ Tiết v… v…thì sẽ dễ hiểu một năm được “tách” làm 4 mùa, Xuân Hạ, Thu, Đông, và ngày nay được gọi là Tiết Xuân - Tiết Hạ - Tiết Thu - Tiết Đông. (Nhưng, các cổ thư để lại vết tích cho thấy ngày xưa người ta chỉ phân biệt và tách một năm ra làm hai mùa mà thôi! Mùa có mưa và mùa không có mưa! HAY LÀ mùa Xuân và Mùa Thu!


Sách “Xuân-Thu” nói về thời Xuân Thu - Chiến Quốc của Đông Chu Liệt Quốc là một ví dụ cụ thể. Sách ghi chép về suốt năm thì chỉ cần ghi là tên của hai mùa Xuân và Thu là nói lên ý nghĩa “chuyện quanh năm”)! Hãy xóa bỏ những hiểu lầm về chữ “節 - Tết”! (Và cũng cần làm cho rõ ý nghĩa của chữ “年-Niên” tức là “年-Năm”)!


*Khảo Cứu Hán_Nôm: “Năm” hay “Niên” = 年.


- Ngày nay tiếng Việt “年-Năm” là một năm.


- Hán-Việt gọi Năm là “年-Niên”


Ngoài ra, Tiếng Quảng Đông gọi là “年-Niềnh”, Triều Châu gọi là “年-Nía”, Bắc Kinh gọi là “年-Niẽn” v. v…


Có thuyết cho rằng chữ “ 年 – Niên ” là tên của con thú dữ! Điều nầy phi lý!!!


Chẳng qua là sự thêu dệt bởi chữ Niên có cái “sừng”/(年) phía trên “
ˊ” - rồi kết hợp với việc múa Lân đón năm mới mà nói chơi cho vui, không cần căn cớ - bằng chứng - dẫn chứng v. v... 

Lại có người căn cứ vào chữ Việt cổ và truyền thống nông nghiệp “lúa nước” của Thủy Tộc/ Người Lạc Việt ở Quí Châu và Quảng Tây của Trung Hoa ngày nay mà suy ra, là Chữ “年 – Niên” có cái Lưỡi Liềm cắt lúa ở phía trên! Hai nét ngang phía dưới là hai mùa nắng mưa của một niên! Nét dọc nối liền hai nét ngang của hai mùa nói lên ý nghĩa “trọn một niên” mà chỉ có Thủy tộc/Lạc Việt với văn hóa lúa nước được bảo tồn cùng với chữ cổ thì mới nói lên được ý nghĩa “làm lúa một niên”... mà chữ Hán và Hán Tộc đã bị thất truyền và mai một mà quên đi ý nghĩa chính của chữ “年 - Niên”!


Giải thích như trên xem ra rất là “hữu lý” và có tính “thuyết phục” rất cao! Và được “tin tưởng” trong cái nhìn mới theo tin thần khoa học có khảo cứu, có dẫn chứng trong hiện tại!


Thuyết “年 – niên” là một niên làm lúa với tra cứu sách “thuyết văn” và nhiều cổ thư khác như sách “Xuân Thu”, “Nhỉ Nhã” v. v... đã bác bỏ “年 – Niên” là thú dữ! Nhưng, giải thích như vậy chưa đúng, chưa đủ và Không phải vậy!


2000 năm trước, sách “thuyết văn” giải thích chữ “ 年 – Niên ” xếp trong bộ chữ 禾 – Hòa (Lúa/Mạ) và ghi chú là:


穀孰也從禾千聲春秋傳曰大有年《說文解字》


Cốc Thục dã tùng hòa thiên thanh Xuân Thu truyện viết đại hữu niên (Thuyết Văn Giải Tự)… Nghĩa là “Niên’ là Lúa chính, và viết theo chữ Hòa, đọc theo âm “thiên” - Truyện Xuân Thu nói
Đại Hữu Niên!!!

Cũng Trong Sách “Thuyết văn”, lại có thêm chữ “稔 - Nẳm/Nhẳm = Lúa chính” (Theo tôi, đây chính là chữ “ 年 - Năm” mà viết theo cách mượn âm chữ “ 念 - Niệm ” để diễn đạt âm chữ “ 稔 – Nẳm”; và cũng giống như “年Năm”.


Và ngày xưa… không cần phân biệt thanh Ngang-sắc-huyền-hỏi –ngã-nặng v. v… cho nên có thể đọc là Năm=Nắm=nằm=Nậm=Nẳm-Nẩm…= 年 / 稔


(Trích):4423 稔 禾 穀孰也。从禾念聲。《春秋傳》曰:... 而甚切


(Nẳm Hòa Cốc thục dã. Tùng Hòa Niệm Thanh. 《Xuân Thu Truyện》Viết: …Nhi Thậm Thiết) …Nhi -Thậm = Nhậm / ( =>chính xác là “Nậm/Nẳm/nằm/năm…”


Xét cho kỹ và xa xưa hơn nữa
là “giáp cốt văn” đã vẽ hình chữ “年-Niên” là hình cây lúa “Nằm”/ Lúa ‘chín” thì nặng trĩu nhánh bông lúa mà “Năm/Nằm-年”.

Kim văn thời nhà Chu-Nối tiếp thời nhà Thương cũng thể hiện chữ “年-Niên” là cây lúa có Hạt đã chín…cho nên bị “nặng trĩu” và phải “Nằm” - do trọng lượng của Hạt lúa đã kéo nhánh bông lúa “nằm” xuống.


Và cây, Bông, hạt lúa nằm… dần dần được viết bằng cách biến đổi một bãi lúa đã “nằm” ở trên ruộng lúa, và cũng giống như hình ảnh một bàn tay 4 ngón đã nắm lại và ngón cái cũng nắm lại đặt trên 4 ngón tay kia… là “nắm- ” để thể hiện âm thanh “Nằm”/ Nắm: “Năm/Nằm-Lúa nằm/ ”/ Chữ cổ - Chữ Việt Cổ và từ đó mới đơn giản hóa thành chữ “年- Năm” mà đa số hiện giờ đọc là “年-Niên”!


Xem bằng chứng:


(
http://www.chineseetymology.org/Char...ton1=Etymology)

Thể kỷ 21… có rất nhiều viện nghiên cứu Hán ngữ, Hán Việt, Hán-Nôm, ngôn ngữ học v. v… trên toàn thế giới từ đông sang tây… Ở Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Hàn quốc, Nhật, USA v. v…. Tôi “phục nguyên” chữ “tiết” là “Tết” và “年-Niên” là “年- Năm” - và giải nghĩa rõ ràng cụ thể theo khoa học biện chứng: Đó là chữ Việt, phát âm Việt, phát âm chỉ thấy đúng và rõ nhất qua tiếng Việt, và ý nghĩa “nông nghiệp” và “lúa nước” đã được thể hiện rõ trong “chữ Việt Cổ” và phát âm cũng được tôi
“phục nguyên” bằng những bằng chứng vừa đủ!

Một bài viết được đưa lên Internet ngày nay là tất cả mọi người và tất cả các “Viện nghiên cứu ngôn ngữ” đều có thể đọc được! cho nên: Đây là một bài viết để công bố sự thật một cách nghiêm túc - không “giỡn chơi” được! Và đây là một sự khảo cứu kỹ lưỡng với bằng chứng và khoa học! Xin đọc giả và các viện nghiên cứu ngôn ngữ hay nghiên cứu Hán-Nôm tin tưởng sự nghiêm túc và chân thật của bài viết nầy.


Kết luận:
Chữ “節-Tết” và “年-Năm” cùng với các chữ tượng hình khác là “chữ Việt Cổ”.

- Chữ tượng hình cổ xưa nhất là “Giáp cốt Văn”, một chi nhánh của người Lạc Việt đã giữ được “chữ Việt Cổ” là “Giáp cốt văn/Bản hoa thạch sống” mà hiện nay họ vẫn đang dùng! Đây cũng là một bằng chứng mà không ai phủ nhận được! Trước khi dừng lại ở bài khảo cứu Hán-Nôm và Chữ Việt cổ nầy:


- Xin dẫn đường Link để quí vị nào biết đọc Hán-Nôm thì có thể tham khảo và nghiên cứu cho rõ them chữ Việt cổ của người Lạc Việt hiện đang ở Quí Châu và Quảng Tây của nước Trung Hoa ngày nay:


http://www.56china.com/56mz_pd/56mz_sz_uhpd/

Giáp Cốt văn của người Lạc Việt:
http://www.56china.com/2009/1019/70757.html


Tự Điển –
Chữ viết của người Lạc Việt.

- Nghiên cứu hay học và hiểu Hán văn hay Hoa văn hay là Hán-Nôm đến trình độ có thể nghe, đọc, viết, hát, làm thơ và phân tích ý nghĩa của các từ ngữ cổ đại – Trung Cổ đại – hiện đại mà đi đến tận cùng và hiểu đến tận cùng thì sẽ quay về “chữ Viết tượng hình” với phát âm “Nôm” / - Nam / - Việt, Đó là “chữ Việt Cổ” .


Xin Hẹn “khảo cứu” và “Phục nguyên” Hán-Nôm hay chữ Việt cổ với đọc giả ở những bài viết sau…


Nhạn Nam Phi
Đón Xuân Tân Mão- 2011
Ta là chiếc lá
Vivi

Ta như chiếc lá chiều xuân vỡ
Úa nửa phiến tình hứng tuyết sương
Lênh đênh sóng bạc thuyền dang dở
Chìm đáy vong tình nợ vấn vương

Từ độ lìa cành ươm sắc lá
Bên bờ suối mộng giữa rừng mơ
Con nước khô khan tình sỏi đá
Vắt trái tim yêu đếm sao chờ

Chiếc lá bạc màu nghiêng núi lở
Chia ngàn nỗi nhớ đậu cành si
Ngát hương tình lụy lùa hơi thở
Rớt vùng trời ảo buổi chia ly

Ta là chiếc lá rừng hoang dã
Phơi đầu cỏ rối thấm mưa tang
Gió xối hồn ta tình nghiệt ngã
Chôn mộ mạt sầu kiếp dương gian !

Still not understood?

No comments:

Post a Comment

Followers

Blog Archive