Monday, December 31, 2012

Tiếng Việt Vỡ Lòng: Âm và Chữ
Bất động sản ì ạch nên nhiều công ty dùng chính nhà chung cư của mình làm quà biếu sếp nhân dịp Tết (ảnh minh họa)
Âm và Chữ




Tiếng Việt Vỡ Lòng: Âm và Chữ

Học trò ở Việt Nam ngày nay có lối phát âm lạ lùng. Có thể nói như vậy vì đang phổ biến một kiểu phát âm kỳ lạ nhan nhản trên ra-đi-ô, Ti Vi, và đầy ngoài đường hay trong trường học... Các nhân vật trong chương trình và chính các em phát thanh viên của các chương trình thiếu nhi trên ra-điô hay truyền hình (thường ở tuổi học sinh Cấp Hai và Ba (Tiểu Học và Trung Học) đang luôn luôn sửa âm [a] thành âm [e] mặc dù rõ ràng các em không nói giọng Quảng. Thực ra cái âm [e] này của các em không hoàn toàn giống với âm của chữ “e”, nhưng nó cũng hoàn toàn không phải là [a]. Các em nói “chào các bạn” nghe cứ như “chèo kéc beẹng”. Người nghe có cảm tường là các em nói mà không mở miệng (có lẽ do các em mặc cảm hàm răng mình xấu quá hay lưỡi mình... màu vàng chăng?), thành ra âm [a] rộng lại biến thành âm hẹp [e]. Và những khán thính giả có kinh nghiệm về phiên âm quốc tế thì liên tưởng đến ký hiệu “æ” thường dùng để phiên âm chữ “a” trong tiếng Anh, hay liên tưởng đến việc tổ tiên người Mỹ cũng đã từng làm là bẻ miệng đọc [a] thành [e] trong các chữ như: “bath, glass, class, can’t” chẳng hạn.

Chuyện này có từ cả chục năm nay mà không thấy ai lên tiếng hay có biện pháp gì để cải sửa thì những nhà giáo “ưu tú”, nhà ngôn ngữ “hết lòng vì thế hệ trẻ”, và các giáo sư “ngữ âm học” Việt Nam quả tình chỉ biết làm việc trên giấy tờ hay trên máy điện toán (nói theo kiểu “cách mạng” là “làm việc quan liêu”), chỉ biết đợi đến khi cả xã hội hình thành một cách phát âm sai thì lại mày mò tìm cách giải thích rồi lại sáng tạo ra quy tắc này nọ, chẳng hạn trường hợp này sẽ được giải thích là do “âm vị” của “a” khi đi trước các phụ âm nào đó thì hóa thành “e” hay [æ] gì đó rồi bảo đó là quy luật cách phát âm của người Việt. Rồi những người lập trình điện toán (computer programmer) sẽ đòi sửa tất cả chữ “a” thành chữ “e” cho tiện việc “số hóa” gì đó. Cuối cùng hóa ra tiền nhân sai khi viết chữ “a” trong từ “các”, “bạn”...
A. Đặc điểm của chữ Việt và các quy ước về âm của chúng:

Phần 1: Nguyên âm

Cách nay 50 năm (năm 1957) giáo sư Lê Ngọc Trụ đã định được vị trí âm trong miệng với bảng sau.


Trước
Giữa
Sau
Hẹp
i/y
ư
u
Trung
ê
ơ     â
ô
Rộng
e
ă     a
o

Chú thích:
  • Trước, Giữa, Sau là ba vị trí cao nhất của lưỡi khi phát âm.
  • Hẹp, Trung, Rộng hoặc Hẹp Vừa, Rộng Vừa là độ rộng của khoang miệng khi phát âm.
(Với âm sau thì hình môi sẽ tròn hơn trong khi với âm trước thì hình môi bẹt. Khoang miệng càng rộng thì môi sẽ mở càng nhiều. Hình môi lệ thuộc vào âm chứ không phải dùng môi để tạo âm, nên không cần xét.)
So với bảng của nữ giáo sư Han, người Mỹ gốc Hàn, lập năm 1966 sau khi nghiên cứu âm tiếng Việt bằng các phương tiện hiện đại (lúc đó), trích từ Wikipedia:

Trước
Giữa
Sau
Hẹp
i/y
ư
u
Hẹp vừa
ê
ơ
ô
Rộng vừa
e
â
o
Rộng
ă     a

Vài ghi chú trong trang web Wikipedia nói trên tỏ ra những nhận định của giáo sư Lê Ngọc Trụ trước giáo sư Han 9 năm đã tỏ ra đúng đắn. Đó là:



  • Ông không cần phân biệt hình môi ở những âm có cùng vị trí lưỡi và độ rộng vòm miệng vì ở mỗi vị trí với mỗi độ rộng nhất định thì tiếng Việt chỉ có một kiểu môi thôi. Thế nên bảng của ông chỉ có 3 cột, còn bảng vị trí âm của IPA có đến 6 cột (vì phải phân biệt âm tròn và âm không tròn môi). Trang Wikipedia viết (lược dịch): “Tất cả các nguyên âm đều không phải âm tròn ngoại trừ 3 nguyên âm ở vị trí sau (là tròn): u, ô, o.”
  • Nhận định khác của Lê Ngọc Trụ là “ă là a ngắn và â là ơ ngắn” cũng được trang web này viết như sau:

    “â và ă được phát âm ngắn – ngắn hơn các nguyên âm khác


    • “ă với a: hai nguyên âm a ngắn (ă) và a dài (a) có âm vị khác nhau, phân biệt chỉ ở độ dài mà thôi (chứ không phải ở chất âm).

    • “â với ơ: Giáo sư Han (năm 1966) nêu nhận xét rằng â và ơ khác nhau cả về độ dài lẫn độ cao của lưỡi, nhưng sự khác biệt về độ dài có lẽ là sự phân biệt là chính yếu.”

Nếu bảo ơ ngắn là â (không phân biệt độ cao lưỡi) thì hệ thống nguyên âm của tiếng Việt rút lại chỉ có 9 kiểu phân biệt rạch ròi, không thể lẫn lộn âm này với âm kia.

Trước
Giữa
Sau
Hẹp
i/y
ư
u
Hơi hẹp
ê
ơ       â
ô
Hơi rộng
e
o
Rộng
ă     a

Tức là chỉ có chín kiểu vị trí âm, thêm yếu tố gắt vào thì được hai âm nữa là ă và â.

Xét bảng vị trí nguyên âm của IPA dưới đây với 28 âm tất cả (màu đỏ là âm Việt, viết lại thành chữ), thì khả năng phân biệt 9 nguyên âm Việt là quá dễ. Có thể nói “độ phân giải” của tiếng Việt rất thấp, tức là rất dễ giải quyết, không hề cần phải tinh tế chính xác cao. Thế mà ngày nay đa số dân ta vẫn không làm được! Mà ngày trước nếu cha ông ta không làm được thì tại sao những người tạo ra chữ quốc ngữ lại thấy có khác biệt mà ghi sự khác biệt đó ra. Vậy có thể nói sự đọc trại âm ở những người có học chỉ thể hiện một lối sống lười biếng. Ngày càng có nhiều âm đọc trại chứng tỏ dân ta ngày càng lười biếng. Cứ cái đà này, mai kia chỉ còn có một nguyên âm “ơ” thôi. Vậy nên không được nại bất cứ lý do gì mà lơ đi và chấp nhận cách phát âm sai trong môi trường học thuật rồi bảo rằng đó là cách phát âm địa phương.



Một khi phát âm “rượu” thành “riệu” hay “rựu” hay “rụ” thì phải bảo là các cách phát âm này sai chứ không thể xuê xoa bảo rằng đó là đặc trưng phát âm của từng vùng. Trong thực tế tiếng “rượu” là một tiếng có thể phát âm được đúng với phiên âm của nó là [rượu] hay gì gì đó mà IPA ghi ra. Tương tự, “cừu” không thể được phát âm thành “kìu” hay “cù”; “thầy” không thể đọc thành “thày” hay “cằm” thành “cầm” hoặc “càm”, “ướp” thành “ớp”. Mặc dù vẫn biết khi nói một câu mà phát âm sai vài từ thì người nghe vẫn hiểu đúng ý cả câu. Nhưng việc luyện tập để có được cách phát âm đúng không khó, và một khi đã phát âm đúng được thì vấn đề chính tả sẽ trở nên dễ dàng.

B. Nhận xét và phương pháp sửa chữa

  • Phát âm phân biệt được 9 âm căn bản vẫn là tương đối khó với một số người. Một số địa phương người ta phát âm lẫn lộn những âm tương cận (có vị trí kế nhau trong biểu đồ trên). Thí dụ lẫn lộn giữa o và ô của người Nam, “con cóc” nói thành “côông cốc”. Ngày nay lại có khuynh hướng bẻ âm [a] thành âm [e], “các bạn” nói thành “kéc bẹng” như đã đề cập. (Có lẽ để bắt chước giọng Mỹ cho nó sang chăng. Người Mỹ nói “glass” thành [gles], “can’t” thành [kent]...) Cũng vì [a] và [e]  liền nhau trong biểu đồ. Người Bắc không thể nói được “ưu” do họ đã sửa âm [ư] là âm giữa thành âm trước hóa ra: “cừu” nói thành “kìu”, “rượu” thành “riệu”. “ă” và “â” cũng hay bị lẫn lộn: “cái cằm” bị nói thành “cái cầm”, thậm chí thành “cái càm”. Hai âm này cùng là âm giữa nhưng có độ rộng khác nhau.
Về phương pháp đọc đúng âm, dễ nhất là yêu cầu người học phát âm lần lượt các cặp âm hay lẫn lộn, trong khi cố phân biệt chúng với nhau:

Đối với nguyên âm đơn:


  • O – Ô: “cô co cổ”, “ cái rổ rỏ nước”, “bố bó tay”...

  • A – E: “nón cát-két”, “cái bát bể nát bét”, “hát chứ đừng hét”, “đi len trong đám lan”... vân vân.
Việc nghĩ ra các ví dụ để thực hành tương đối dễ, bất kỳ giáo viên nào cũng có thể làm được và ra bài tập phát âm cho học sinh của mình tùy theo đặc thù của mỗi lớp. Với những người không có điều kiện đến lớp cũng có thể tự rèn cách phát âm của mình bằng cách áp dụng phương pháp này. Trong khi luyện tập thanh nhạc, ca sĩ cũng luôn phải xướng các âm nguyên của ngôn ngữ mình để khi hát mới “tròn vành rõ chữ”. (Có điều buồn cười là đa số ca sĩ Việt Nam lại luyện toàn những âm của tiếng Ý, họ chỉ tập có 5 âm: “i, o, a, ô, u”, có khi thêm âm “ê”. Thế nên ngày nay thiếu niên mê ca nhạc Việt Nam cũng chỉ thích dùng có sáu nguyên âm thôi??)

Đối với nguyên âm kép:


  • Vần “au” thường bị người Nam nói thành “ao” không phải do “o” và “u” kế nhau mà thực ra họ đã đọc đúng phiên âm: hãy để ý cách đọc tên nhạc sĩ “Strauss”, nếu phiên qua chữ Việt hiện tại thì phải là “straos”. Ghi âm [au] bằng “ao” là một nhầm lẫn của tổ tiên ta: “lao xao mặt nước ao” đúng ra đã phải được ghi là “lau xau mặt nước au”. Còn “cây cau sau hè” lẽ ra phải viết là “cây cău său hè” mới đúng. Tức là tiếng Việt hoàn toàn không có vần “ao”. Nhưng một khi đã qui ước thành cách viết hiện nay rồi thì lỗi phát âm của người Nam trong vần “au” là do họ đã không đọc nhanh, gắt âm [a] của vần này.

  • Vần “ay” bị đọc thành “ai”: đây cũng là vấn đề về âm gắt. “a” của “ay” chính ra là “ă” tức là a ngắn.

  • Vần “ưu” bị đọc thành “u”: âm “ư” bị gắt quá, mất luôn. Và “ưu” bị đọc thành “iu”: do biến âm giữa “ư” thành âm ngoài “i”. Để giải quyết cần đọc chậm lại, nối từng âm vào với nhau.
Nói chung các lỗi phát âm kép chỉ có thể sửa bằng cách cho phát âm từ từ từng âm của vần. Không bao giờ nên đọc vần mẫu và cho lặp lại. Dù người đọc mẫu có chính xác đến đâu đi nữa thì người học cũng chỉ nghe được theo cái tai đã sai của họ thôi. Nó cũng giống như việc một ca sĩ cải lương, không luyện xướng âm tân nhạc mà khi nghe một bài hát tây phương thích quá đòi hát theo vậy. Cung điệu tây phương sẽ biến mất, chỉ còn những cao độ lơ lớ mà thôi.

Âm gắt

“Cằm” đọc thành “càm” cũng cùng nguyên nhân không gắt đủ. Mới đây tôi cũng nghe một em sinh viên Việt hải ngoại đọc “vun đắp” thành “vun đáp” cũng vì em không biết cách làm gắt âm “ă”. Cũng có khi làm gắt sai thì “cằm” lại hóa thành “cầm”, miệng không rộng đủ, biến ă thành â dù cho đã gắt đủ và giữ đúng vị trí lưỡi là âm giữa.
Muốn sửa chỉ cần đọc liên tiếp các âm gắt cùng phụ âm cuối, như “Ân ăn gian”, “Lân lăn lộn”, “Thất thắt nơ”, “nhạc réo rắt rất hay”, “thần thằn lằn”... Hoặc đơn giản hơn chỉ cần tập “áp, ắp, ấp”, “an, ăn, ân”, “ác, ắc, ấc”...

Phần 2: Phụ Âm

Phụ âm đầu

Lỗi phát âm phụ âm không quan trọng trong tiếng Việt vì dấu giọng và nguyên âm đã đảm trách gần hết việc tạo nghĩa cho một chữ. Hơn nữa, khi nói hai chữ một lúc thì dù phụ âm có sai tới mức nào đi nữa người nghe cũng vẫn nhận ra đúng ý người nói. Đó là trong thực tế đàm thoại thông thường, nhưng trong môi trường học tập khoa bảng, người ta bảo rằng phát âm lẫn lộn phụ âm là nói ngọng, “Ngọng níu ngọng no”.


(Còn tiếp...)



Âm và Chữ (Tiếp theo)

Tiếng Việt Vỡ Lòng: Âm và Chữ (tiếp theo)




Phần 2: Phụ Âm

Phụ âm đầu

Lỗi phát âm phụ âm không quan trọng trong tiếng Việt vì dấu giọng và nguyên âm đã đảm trách gần hết việc tạo nghĩa cho một chữ. Hơn nữa, khi nói hai chữ một lúc thì dù phụ âm có sai tới mức nào đi nữa người nghe cũng vẫn nhận ra đúng ý người nói. Đó là trong thực tế đàm thoại thông thường, nhưng trong môi trường học tập khoa bảng, người ta bảo rằng phát âm lẫn lộn phụ âm là nói ngọng, “Ngọng níu ngọng no”.

Sau năm 1975, người miền Nam nào cũng phải bật cười khi nghe người miền Bắc ào ạt “tiến về Sài Gòn” và “lói lăng” “giất” ngộ nghĩnh. Hầu như tất cả, tất cả người Bắc đó đều “nẫn nộn” “nờ thấp” (n) với “nờ cao” (l), tất cả âm [r] bị biến thành [z], cả 2 chữ “d” và “gi” cũng đều đọc bằng [z]. Người miền Nam không chỉ bật cười thôi, cái cười này là cái cười ngô nghê “chẳng hiểu gì sất” một khi nghe người Bắc “lỏi”, vì họ “lỏi” sai cả “dẩu giong”. Mà như đã biết, dấu giọng là yếu tố quan trọng bậc nhất trong ngôn ngữ Việt. Thế nên người Nam ngớ người ra không hiểu là phải.

Dần dần, cái văn minh của Sài Gòn đã làm cho những người “đi giải phóng” họ phải học theo và phần nào đã tự sửa được những cách phát âm sai của mình. Việc này đúng với qui luật lịch sử về đồng hóa: khi chinh phục được một dân tộc có văn hóa cao hơn mình, chính kẻ đi chinh phục mới là kẻ sẽ bị đồng hóa.

Nói chung, đến nay việc phân biệt phụ âm của người Việt ta là khá chính xác, ngoại trừ một số cặp hay lẫn lộn sau.

  • |b| và |p|: gần như không có từ bắt đầu bằng “p” nên đa số người Việt phát âm |p| thành |b| (cùng là âm môi môi) tuy chỉ có vài từ mang âm |p| như số pi, Pi-ta-go, Sa-pa, cục pin... Âm |p| thực ra chỉ là âm cứng của |b| nên vẫn có thể tập phát âm đúng được, làm giàu thêm cho tiếng Việt.

  • Chữ phụ âm kép “tr” thường được phát âm thành [ts] là âm của “ch” và đây là điều không thể chấp nhận. Một số người khác lại đọc thành [tS ] của tiếng Anh, điều này cũng chấp nhận được theo nguyên tắc “có phân biệt là đủ”.

  • Chữ “v” được người Nam phát âm bằng môi-môi, trong khi người Bắc dùng răng-môi. Đây đích thực là địa phương tính của âm và hoàn toàn chấp nhận được. Nhưng một khi đọc “v” thành [j], không dùng tới môi nữa, chữ “về” nói thành [jề] chẳng hạn, là sai, vì đây là âm của chữ “dề”. Những người Nam thời cựu trào luôn có cách phát âm rất đúng là [bjề]. Không hiểu sao lối đọc này ngày nay không còn thấy nữa. Nếu người miền Nam nay không thích cách phát âm cũ của ông bà nữa thì có thể đọc bằng răng-môi (răng của hàm trên và môi của hàm dưới) như người Bắc chứ đừng dung dị đọc giống âm của chữ “d”.

  • Tương tự như trên và cũng là địa phương tính, âm [f] được người miền Nam phát bằng môi-môi (là cách phát âm [p]), tuy môi không khép chặt vì còn phải thổi gió (gió là âm của [h]). Thế nên tiền nhân mới ký hiệu bằng “ph”. (Điều này góp thêm phần vào giả thiết chữ quốc ngữ được tạo dựng đầu tiên ở miền Nam.) Cũng giống trường hợp “v”, người miền Bắc đọc trúng âm [f] bằng răng-môi i hệt cách phát âm của các dân tộc Âu châu, do thế nên xưa nay đã có nhiều người đòi đưa âm [f] này về với ký hiệu hiện đại của nó là “f”, nhưng không được. Cách viết thuần “ph” đã trở thành đặc trưng của chữ Việt. Có thể do người Việt quá tôn trọng các giá trị truyền thống, chỉ chấp nhận cải cách nếu cái cũ thực sự có hại hoặc hoàn toàn không đúng, mà “ph” thì vẫn tương thích với cộng đồng la-tinh, ví dụ “phone, phantom, phases, phenomena...”

Hai trường hợp răng-môi biến thành môi-môi ở Nam Bộ đã làm vài người giải thích rằng do người miền Nam thường mất răng cửa nên đã phải thay răng bằng môi. Và khi học nói với người móm dĩ nhiên con trẻ sẽ không dùng tới răng.

  • Có sách nói “d” và “gi” là tuyệt đối bằng nhau, thậm chí bằng cả “r” (ở miền Bắc) và cùng đọc là [z]. Nếu thực vậy thì rõ ràng về mặt luận lý không cần phải tạo ra đến 3 chữ như vậy. Nhất là phải chịu cái nguy hiểm khi “d” Việt lại có cách phát âm lỏi ra khỏi hệ thống la-tinh. Cứ để “d” mang âm “đ” rồi “gi” thay luôn cho nó có phải tiện hơn không? Càng khỏi phải mất công lấy một ký tự cổ của la-tinh là chữ eth (D) làm âm [đ]. Các cụ người Bắc có học luôn luôn uốn lưỡi hơn một chút khi đọc “gi” (thành [Z]) và khi đọc “d” thì thẳng lưỡi (thành [z]). Còn các cụ người Nam thì đọc “d” bằng âm [j] và “gi” bằng âm [z]. Dù ở đâu thì hai chữ này đều được đọc phân biệt. Còn trong dân gian, những người ít học thường có thói quen rút bớt, làm nhẹ, hay đơn giản hóa vấn đề, họ đánh đồng hai âm này là chuyện “bình dân học vụ” của họ, không thể vin vào số đông sai để bảo rằng cái sai đó đúng.

  • “l” và “n”:
  • “Chiếc xe nam neo nên nề, nật.” Do lưỡi đã cong không đủ, có thể do lưỡi cứng quá hoặc ngắn quá. Cũng có thể do việc đơn giản hóa hoạt động của lưỡi. Tuy nhiên không thấy các dân tộc tây phương mắc lỗi này, tức là do di truyền, lưỡi người Việt có khuyết tật?
  • “Cái lày la lá cái kia”: theo cách lý giải trên thì lại do lưỡi dài quá hoặc mềm oặt. Và chắc cũng do di truyền khuyết tật của lưỡi, các Hoa kiều ở Chợ Lớn luôn mắc lỗi phát âm này, thậm chí họ còn lộn âm [đ] thành âm [l], thế nên mới có giai thoại “cho ngộ lái”. Cũng cần biết thêm rằng [n] và [đ] của tiếng Việt được phát ra bằng hoạt động hất vào của lưỡi. Đây là một đặc thù của tiếng Việt nên Hoa kiều không học được cũng phải.

Hai trường hợp trên thì còn có thể sửa chữa được bằng luyện tập công phu, cho người học đọc phân biệt từng cặp.
  • Nhưng trường hợp “Nẫn nộn cái lày thành cái lọ” thì là một khủng hoảng không thể giải thích được và cũng vô phương sửa chữa. Kiểu sai này làm người nghe hoàn toàn không hiểu. Tôi đã từng làm việc cho một người chủ có kiểu phát âm này. Anh ta biết khuyết điểm của mình, đã cố sửa và có tiến bộ tuy rất chậm. Nhưng thực ra, trong mỗi câu nói anh ta chỉ sai theo một kiểu. Cái ví dụ ở đầu đoạn này là một ví dụ tiếu lâm mang tính áp đặt mà thôi.

  • “Giưng mà”, “ở già” (nhưng mà, ở nhà). Cách phát âm địa phương, gặp ở Huế và cả một số vùng ở miền Bắc. Âm [nh] được đọc thành [gi].

Có người đã dùng hiện tượng này để giải thích chữ “Giời” chẳng qua là chữ “Nhời” mà chữ “Nhời” lại là trại âm của chữ “Lời”, cho nên “Đức Chúa Lời (Word)” biến thành “Đức Chúa Nhời” rồi thành “Đức Chúa Giời”. Nhưng có thực câu than “Ối giời ôi” chỉ xuất hiện sau khi có quốc ngữ và sau khi đạo Công Giáo đã được truyền đến thôn quê miền Bắc? Cũng khó xác định vì trước chữ quốc ngữ ta chỉ có chữ nôm mà chữ “trời” nôm viết bằng chữ “thiên” ở trên để lấy nghĩa và chữ “viết” ở dưới để lấy âm, chữ “viết” có nghĩa Việt là “lời”, vậy suy ra ngày xưa cha ông ta gọi trời là “lời” thực sao, hay các cụ nói “giời nói” chứ không phải “lời nói”? Và giải thích lại, chữ “viết” có nghĩa Việt là “giời” (lời) nên cái chữ nôm có “thiên” ở trên và “viết” ở dưới sẽ đọc là “giời”. Và ngày đó không có tiếng “trời”. Vậy phiên âm câu đầu của “Chinh Phụ Ngâm” là “Thủa trời đất nổi cơn gió bụi” là sai, phải phiên là “Thủa giời đất nổi con gió bụi”... Lại nữa, trong bản Kiều nôm “trăm năm trong cõi...” có chữ “trăm” nôm viết bằng “bách” ở trên và “lâm” (lấy âm) ở dưới. Suy ra ngày xưa các cụ nói “trăm” là “lăm”. Hay là quả thật có liên hệ giữa “tr” với “l”?

  • Không biết “tr” có liên hệ gì về âm với “l” không, chỉ biết “tr” đã bị ngọng thành một âm rất giống âm của chữ “t” và câu pha tiếng “con tâu tắng nằm ở gốc cây te tụi, nó tòn tùng tục như cái tống teo” đã trở nên nổi tiếng cách nay nửa thế kỷ.

  • Câu pha tiếng trên tuy nổi tiếng nhưng hiện tại lại không phổ thông bằng câu “con cá gô ở trong cái gổ, nó kêu gột gột.” Đây là hiện tượng ngọng âm [r] thành âm [g] ở một số vùng Nam bộ. Đối với thanh niên hiện nay thì kiểu ngọng này dễ thương và đa số đã tập để có được cách nói ngọng dễ thương này. Họ đem cả vào trong trường đại học và thậm chí còn giảng dạy bằng cái kiểu ngọng này nữa. Mai kia các nhà ngữ âm học Việt Nam sẽ đòi sửa “run rẩy” thành “gun gẩy”, và sẽ có “Việt Nam là một con gồng châu Á không thua kém Kô-ghia”, “viện Găng Hàm Mặt”, bài dân ca “Gu Con Nam Bộ”, nước cộng hòa “An-giê-ghi” vân vân...

  • Nói vậy chứ hiện nay chưa thấy ai dám viết như vậy, kể cả trong các web-log (blog). Khi lướt qua các blog của thanh niên Việt Nam, ta chỉ thấy rặt các chữ “w” thay cho “qu”. Chắc là thanh niên ta bây giờ xác tín rằng chữ “nhà quê” phải đọc là [nhà wê] mà không biết rằng mình đang tự “nhà-quê-hóa”.[1] Dù đây chỉ là một cách biểu hiện tâm lý phản kháng của giới trẻ, cũng nên cẩn thận kẻo có ngày mọi người đều sai thì cái đúng sẽ bị đào thải. Nó sẽ không khởi đi từ các chữ “w” trong blog mà bắt đầu từ quan niệm phát âm tiếng Việt của con em chúng ta. Hiển nhiên chúng không cho rằng phát âm rõ ràng là một biểu hiện của văn minh cao cấp.

  • “s” và “x”: “s” là một âm đục, gần giống [S], khi phát âm lưỡi cong hơn âm của “x”. Người miền Nam phân biệt hai âm này rất rõ còn người miền Bắc không phân biệt hai âm này.

Phụ âm cuối

Người miền Nam hay bị phê bình là nói không đúng phụ âm cuối. Tuy nhiên, nếu xét trên quan điểm phát âm đúng là phát âm phân biệt thì không có nhiều lỗi phát âm của người miền Nam. Có một số lỗi điển hình sau:

  • “t” biến thành “c” hay “ch”: “sát” thành “sác”, “nhứt” thành “nhức”... Nhưng trong chữ “ít”, họ vẫn đọc đúng phụ âm cuối “t”, cái khác biệt là họ làm âm “i” trở nên quá ngắn, chứ không đọc thành “ích”.

  • “n” biến thành “ng”: Người miền Nam đọc tiếng “anh” là [a-nh] trong khi người Bắc đọc là [AN] trong đó [A] hơi gắt: về điểm này, đã xuất hiện một âm không ký hiệu trong chữ Việt, âm [A], tuy nhiên chỉ ngoại lệ ở vần “anh” và vần “ach” mà thôi. Không có trường hợp đọc khác nên ký hiệu vẫn dùng được: dù đọc [a-nh] hay [AN] người nghe cũng hiểu một nghĩa “anh”
Tuy nhiên, về mặt hiệu quả của ngôn ngữ, không nhất thiết phải phát đúng âm mà điều quan trọng là sự phân biệt rạch ròi giữa các âm. Nếu “Ôi thôi! Tôi toi rồi” nói thành “Oi thoi! Toi toi ròi” hay “Ôi thôi! Tôi tôi rồi” thì quả thật không chịu được. Hay “anh An ăn cơm” nói thành “an An an cơm”, “chú chim Khướu khiếu nại với ông Bồ Nông” nói thành “chú chim Khiếu khiếu nại...” vân vân...

HỒNG ĐỨC
23/11/2007
California, USA


[1] Cần phân biệt ý nghĩa chữ “nhà quê” ở đây. Ở đây nó mang nghĩa xấu, tuy rằng trong các trường hợp khác chữ “nhà quê” hay “thôn quê” luôn mang một ý nghĩa cao quí nào đó.








Cách Bỏ Dấu Tiếng Việt 


Hồng Đức
Trên trang web của Trung Tâm Từ Điển Học Việt Nam1 thì tác giả của cái qui tắc này là Vũ Xuân Lương nhưng trong bài “Vấn đề đánh dấu thanh tiếng Việt” của tác giả Dũng Vũ2 thì Vũ Xuân Lương và Hoàng Phê là đồng tác giả của qui tắc. (Có lẽ vì Dũng Vũ thấy đăng chính thức trong vietlex.com mà Hoàng Phê là “chủ tịch vĩnh viễn” chăng?) Tác giả Dũng Vũ đã có những nhận xét và phê bình cái qui tắc này một cách khoa học và xác đáng cũng như có phê bình thêm về qui tắc bỏ dấu của một tác giả khác nữa là Đoàn Xuân Kiên3 sau khi đã nêu ra các đặc điểm ngữ âm của tiếng và chữ Việt.

Bài viết này không nhằm mục đích đánh giá lại cái qui tắc của Vũ Xuân Lương bằng các phương pháp khoa học như Dũng Vũ đã làm mà chỉ có ý đưa ra vài suy nghĩ về văn hóa và người làm văn hóa Việt Nam.

Cần biết rằng vietlex.com là trang web chính thức của Trung Tâm Từ Điển Học,4 một trung tâm của nhà nước và đảng Cộng Sàn Việt Nam, nên những bài viết, những qui luật mà trung tâm này phổ biến sẽ có ảnh hưởng rất sâu rộng trong tầng lớp sinh viên học sinh và giáo viên cũng như giới trí thức trong nước. Chắc chắn rằng cái qui tắc này đã trở thành qui luật ở những tòa soạn báo chí, ở những nhà xuất bản, ở những cơ sở đang làm công việc chuyển văn bản thành dữ liệu điện toán và đang dần biến thành thói quen của mọi tầng lớp dân chúng khi phải “đánh máy”.

Một số trí thức trẻ hải ngoại cũng bị thuyết phục hoặc bị mê hoặc bởi cái qui tắc này sau khi họ thắc mắc về cách đánh dấu tiếng Việt, truy tìm bài viết về vấn đề này trên Internet và chỉ thấy bài của Vũ Xuân Lương là đơn giản, là có vẻ có qui luật và dễ nhớ nên áp dụng theo. Còn bài viết của Dũng Vũ thì quá phức tạp, chứng minh dài dòng, lại có mấy cái biểu đồ cái nào cũng giống cái nào, chả biết đưa ra để làm gì, bèn không đọc kĩ, hoặc có đọc cũng chả hiểu bèn bỏ qua, hoặc cho rằng tác giả (DV) là một người khoe mẽ, ra cái điều hiện đại có máy móc ghi biểu đồ tần số âm thanh, bèn có ác cảm với tác giả và không quan tâm chứ đừng nói tới áp dụng các đề nghị của tác giả.

Rồi lại có bài của Cao Xuân Hạo đánh giá rất cao bài viết của Dũng Vũ cũng tại trang web Mạng Giáo Dục nói trên. Nhưng đây cũng lại là một bài viết dài dòng văn tự, cốt yếu cũng chỉ để trình bày các ý kiến của ông (Cao Xuân Hạo) trong lãnh vực gọi là “âm vị học” của tiếng Việt (và cũng phần nào muốn tỏ ra rằng học sinh ngày trước ở miền Bắc đã được học một thứ tiếng Việt hiện đại hơn miền Nam, do công của ông (Cao Xuân Hạo)làm ra.

Và điều quan trọng nhất là chưa một vị học giả có tên tuổi nào đứng ra kêu gọi hay đề xướng một qui tắc bỏ dấu đơn giản cho xã hội sử dụng ngoài “giáo sư” Hoàng Phê và “chuyên viên” Vũ Xuân Lương. (Các dấu ngoặc kép ở đây có lý do của nó, xin được trình bày sau.)

Kể cũng đúng thôi, vấn đề đánh dấu giọng này mà các vị trí thức lão thành thường cho là khỏi phải bàn -- vì xưa nay đã ổn rồi -- nên không cụ nào lên tiếng. Các cụ không thể nào tưởng tượng là ngày nay lại có kẻ dám sửa lại những điều cha ông đã làm thành thói quen, thành qui luật từ bao lâu nay, nên khi có ai đó giúp các cụ “đánh máy”, in ra thấy kì kì thì các cụ cũng chỉ lắc đầu bảo tụi trẻ bây giờ đánh máy kém quá, lỗi tùm lum, hoặc các cụ cho là máy điện toán không dễ dùng như máy đánh chữ, rồi các cụ đành chịu vì có yêu cần sửa lại cũng rất khó khăn, thôi thì có chữ đọc là được rồi, không nhằm nhò gì ba cái dấu chỗ này chỗ kia.

Thế mà không đơn giản như các cụ tưởng, sau lưng các cụ người ta đang tìm mọi cách để chứng minh là những gì -- tất cả những gì -- mà các cụ và cha anh các cụ đã làm đều sai, đều dở, đều tệ hại và cần phải được sửa lại. Với cái tựa đề “Quy tắc đánh dấu...” cứ y như là “qui tắc giao thông” vậy, nó có vẻ khẳng định đây là những qui tắc đã được đề ra bởi cơ quan thẩm quyền sau những nghiên cứu, dùng thử và đánh giá nghiêm túc. Nhưng không phải vậy.

Được đăng trên một trang web như thế, nó sẽ làm người đọc tưởng đây là quyết định hay nghị định gì gì đó mới ra của “Hàn Lâm Viện Ngôn Ngữ Việt Nam”, một cơ quan mà sau hơn 30 năm xây dựng “một quê hương giàu đẹp”, một đất nước “độc lập tự do hạnh phúc” ắt là phải có mặt và hoạt động để hướng dẫn người dân sử dụng ngôn ngữ tự do trong vòng tiến bộ để ngôn ngữ ngày càng đẹp hơn hầu đem lại nhiều hạnh phúc hơn cho nhân dân trên cái quê hương đó. Nhưng hình như cái cơ quan đó chưa hề tồn tại hoặc có tồn tại mà chưa hề hoạt động. Và qua các mâu thuẫn trong lập luận, áp đặt trong kết luận, cái “quy tắc” này đã nói lên một cái gì khác ngoài vấn đề chữ nghĩa.

Những “quy tắc” tưởng chừng “mới”.

Bản qui tắc của Vũ Xuân Lương có vẻ rất đơn giản chỉ với bốn trang giấy in mà gồm đủ các qui tắc và phần giải thích lý do phải áp dụng, chưa kể phần mào đầu và phần định nghĩa các thuật ngữ trong lãnh vực ngữ âm học. Sự đơn giản này hấp dẫn giới trẻ vốn thích những gì thực tế. Bản qui tắc này gồm năm qui tắc, xin tóm lược như sau:

Quy tắc 1. Với những chữ chỉ có một nguyên âm, “thì d ấu thanh được đặt vào nguyên âm đó. Vd: á à, ì ạch, ọ ẹ, ủ rũ, ọp ẹp, ục ịch, hà, lán, giá, giục, quả, quỹ, quỵt... (u và i trong gi và qu không được kể là nguyên âm mà hợp với g và q thành các tổ hợp phụ âm.)” (trích nguyên văn).

Quy tắc 2. Với những chữ có nguyên âm mang dấu phụ (gọi là “dấu âm” thì đúng hơn – HĐ chú) như Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư “thì dấu thanh đặt ở nguyên âm mang dấu phụ đó (riêng ƯƠ, dấu đặt ở Ơ). Vd: ế ẩm, ồ ề, ở rể, ứ ừ, chiền chiện, cuội, cừu, duệ, duềnh, giội, giường, ngoằng, quyệt, ruỗng, rượu, siết, suyển, tuẫn tiết, tiến triển...”

Quy tắc 3. Với những chữ có hai nguyên âm và kết thúc bằng phụ âm “thì dấu thanh được đặt vào nguyên âm chót. Vd: choàng, hoạch, loét, quẹt, suýt, thoát, xoèn xoẹt...”

Quy tắc 4. Với những chữ “kết thúc bằng oa, oe, uy, dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm chót. Ví dụ: hoạ, hoè, huỷ, loà xoà, loé, suý, thuỷ...”

Quy tắc 5. những chữ kết thúc bằng hai hay ba nguyên âm “khác với oa, oe, uy, thì dấu thanh được đặt vào nguyên âm áp chót. Vd: bài, bảy, chĩa, chịu, của, đào hào, giúi, hoại, mía, ngoáy, ngoáo, quạu, quẹo, ngoẻo, chịu, chĩa...”

Ngoài qui tắc số 4 thì bốn qui tắc kia đưa đến kết quả giống hệt với cách bỏ dấu xưa nay của cha anh chúng ta trước khi những “người con ưu tú” bắt đầu “chỉ đạo văn hóa” của dân tộc. Tất cả những ai đã từng quen với chiếc máy đánh chữ hoặc đọc nhiều sách báo cũ đều thấy rằng sách báo hiện tại dưới sự chỉ đạo của “đỉnh cao trí tuệ” của Đảng có cách xếp chữ chẳng khác gì ngày trước. Vì sự xuất hiện của các vần oa, oe, uy rất hiếm nên thường không ai thấy có sự khác biệt. Vậy nên mới nói “mới mà không mới”.

Áp đặt võ đoán

Theo cách xếp chữ cũ (từ nay xin gọi là cách bỏ dấu truyền thống), thì dấu giọng sẽ bỏ trên mẫu-tự-nguyên-âm áp chót nếu vần kết thúc bằng hai mẫu tự nguyên âm trở lên. Nói “mẫu tự nguyên âm” là để kể cả “y” vào trong trường hợp này. Thế nên cách truyền thống viết “hóa, xòe, súy” chứ không phải cải cách thành “hoá, xoè, suý” như qui tắc số 4 của Vũ Xuân Lương.

Lý giải cho sự “cải cách” này, tác giả Vũ Xuân Lương đã phải áp đặt qui luật dấu thanh phải được đặt trên nguyên âm mà không giải thích tại sao lại cần phải như vậy. (Mặc dù chưa bao giờ có ai đặt dấu trên phụ âm tiếng Việt ngoại trừ khi viết tắt: “Ngã” hay “ngø” thay cho “Nguyễn, người” chẳng hạn. Hoặc có người khi viết tắt lại bỏ dấu vào khoảng không: Ng ã hay ng ø chẳng hạn.) Tuy không minh thị xác định rằng mình đang áp dụng qui luật này, nhưng một khi tác giả chỉ dựa vào tính năng của mẫu tự nguyên âm (âm nguyên, âm bán-nguyên...) để phân tích và lý luận, người đọc ắt nhận ra cái qui luật trên là chủ đạo cho lập luận của tác giả.

Trong thực tế phát âm, khi gặp một chữ (hay còn gọi là “tiếng”, hay “âm tiết” như Vũ Xuân Lương dùng) có phụ âm cuối thì thanh điệu (biểu thị bằng dấu thanh) bao trùm cả phần phụ âm này, tức là thanh điệu bao trùm toàn thể một vần. Có thể thẩm định điều này bằng cách đọc to vài chữ sau: “uống, bình, ủng, liễn, đoạn”. Vậy dấu thanh vẫn có thể đặt vào phụ âm cuối chứ. Dấu-thanh-phải-đặt-trên-nguyên-âm chẳng qua chỉ là một qui ước xưa nay chứ chưa bao giờ là qui luật tự nhiên cả. (Chính Cao Xuân Hạo cũng đã nói như vậy trong bài viết của mình.) Và rõ nhất là khi ráp vần để tập đọc, chúng ta luôn dạy học trò bỏ dấu sau cùng: “Lờ ư lư ơ lưa ngờ Lương huyền Lường”, chứ đâu có ai ráp “Lờ ư lư ơ lưa huyền lừa ngờ Lường” đâu.

Nhưng vì “dấu phải được đặt trên nguyên âm” nên xuất hiện vấn đề khi gặp chữ có hai nguyên âm trở lên thì đánh dấu ở đâu. Để giải quyết, tác giả phải vận dụng tới khái niệm “bán nguyên âm” là khái niệm khá quen thuộc đối với những người đã từng học ngoại ngữ. Do có vẻ quen thuộc nên họ dễ chấp nhận. Nhưng đây cũng là một khái niệm mơ hồ đối với họ vì mấy ai khi học ngoại ngữ lại định nghĩa được rõ ràng “bán nguyên âm” là gì. Rồi lại xuất hiện thuật ngữ “bán phụ âm”. Quả thực nghe cũng có vẻ quen thuộc vì đã có bán nguyên âm thì phải có bán phụ âm chứ. Và một khi gặp đám hỏa mù thuật ngữ như vậy, những “kẻ ngoại đạo” đối với lãnh vực ngữ âm đành có cảm giác bị khuất phục.

Các nhận định về ngữ âm chỉ dựa trên mặt chữ.

Tính năng của hai mẫu tự đồng âm “i” và “y” khi đi sau nguyên âm được tác giả của qui tắc giải thích: “Với chữ I, cũng tương tự, nó vừa dùng để viết nguyên âm i (im ỉm, in ít...), vừa dùng để viết bán phụ âm i đóng vai trò là âm cuối trong các trường hợp như: tai tái, cày cấy, táy máy...”

Rõ ràng vì tác giả không muốn đặt dấu trên mẫu tự “i” hay “y” ở cuối nên phải đặt cho chúng cái chức năng làm “bán phụ âm” bất chấp những mẫu tự này vang lên rõ thế nào khi được phát âm. Nếu tác giả chịu khó ngồi phát âm các chữ trong ví dụ của chính mình thì chắc tác giả cũng thấy âm |i| của mẫu tự “y” trong chữ “táy máy” ngân vang rất rõ ràng sau một âm [a] cụt ngủn. Nếu tác giả gọi chữ “a” trong trường hợp này là “bán nguyên âm” thì may ra còn chấp nhận được. Nhưng gọi “y” là “bán phụ âm” thì đúng là tác giả chưa hề nghe ai nói hay đọc hai chữ “táy máy”.

Trường hợp “tai tái” thì mặc dù âm |i| phát ra không rõ ràng như âm [a] đi trước nó nhưng |i| này cũng không đến nỗi cụt mà gọi nó là bán âm này kia. Thực ra cặp “ai” là một nguyên âm ghép (còn gọi là “nhị trùng âm”). Một âm nguyên được phát ra rõ ràng mà lại gọi là “bán phụ âm” thì rõ ràng tác giả chỉ nhìn mặt chữ mà xác định tính năng của từng mẫu tự mà thôi.

Tương tự là sự lầm lẫn về chữ “o” hay “u” ở cuối chữ. Tác giả nói: “Khi dùng O và U để viết w đóng vai trò là âm cuối trong các trường hợp như đào hào, báo cáo, táo, đau, rau câu... thì gọi là bán phụ âm.” Câu của tác giả hơi tối nghĩa, xin mạn phép “dịch” lại như sau: “Khi mẫu tự “o” hoặc “u” được dùng để viết âm [w] ở cuối âm tiết như trong các trường hợp “đào hào, báo cáo, đau, rau câu...” thì được gọi là các bán phụ âm.”

Điều đáng khen là tác giả đã nhận ra rằng tuy “o” và “u” được viết hai kiểu khác nhau nhưng lại được phát âm giống nhau là [w] tuy điều này chưa đúng hẳn. Nhưng vẫn không thể bảo rằng tác giả đã nghe kĩ những tiếng trong ví dụ của mình: Vì chúng chỉ khá giống nhau thôi. Âm cuối của “đào” quả thực nửa [o] nửa |u| nên có thể tạm chấp nhận là “bán nguyên âm” -- vì ở cuối nên tác giả gọi là “bán phụ âm”? -- nhưng mẫu tự “u” của “đau” thì vang rõ ràng âm |u|, chỉ có âm [a] phía trước là cụt ngủn giống trường hợp a cụt của “táy máy” ở trên. Gọi “u” này là bán phụ âm thì cũng sai như trường hợp “y” cuối của “táy máy”.

Nói thêm cho rõ

Nếu để ý ai cũng thấy ngay “ă” chẳng qua chỉ là [a] ngắn, “â” chẳng qua chỉ là [ơ] ngắn. Trong ký âm ngôn ngữ, không có một ký hiệu riêng và cụ thể để diễn tả âm ngắn,5 thế nên những người tặng dân tộc ta chữ quốc ngữ đã phải dùng tới dấu trăng cho chữ ă để chỉ âm ngắn của [a]; và đặt dấu mũ trên đầu “a” thành “â” làm âm ngắn của [ơ], không lẽ đặt dấu trăng lên đầu “ơ” để tạo thành một “cục dấu” như vầy: “ôê”.

Nếu để ý tiếp thì cũng thấy ngay rằng “i”“y” đều mang âm nguyên |i|; và rằng “y” làm nguyên âm trước nó ngắn lại, còn “i” thì không. Thế nên “táy máy” chẳng qua chỉ là “tắi mắi” mà thôi. Đã gọi “ă” là nguyên âm thì phải gọi “ăi” là nguyên âm đôi, và âm |i| cuối là nguyên âm, không có bán phụ âm, bán nguyên âm gì ở đây hết.

Trường hợp của “uy” cũng thế. Vì “u” bị “y” làm ngắn lại nên đọc giống bán nguyên âm [w]. Nếu dùng dấu trăng để làm ngắn một âm, có thể viết “tuy” thành “tuêi”. Và “y” cuối vẫn vẫn ngân vang rõ ràng do đó nó phải là âm nguyên |i|.

“U” đi sau cũng làm “a” ngắn lại. Nếu không vậy, “đau” sẽ được phát âm rất giống “đao”. Vậy “đau” được phát âm là “đău”, và “u” ở đây vẫn là nguyên âm vì vang rất rõ ràng.

Riêng “tây” thì đúng ra chỉ cần viết “tâi” là được, vẫn đủ phân biệt với “tơi” mà không cần đến “y”. Thế nhưng “thói quen là chủ nhân ông của ngôn ngữ” -- lời giáo sư Lê Ngọc Trụ trong “Việt Nam Chính Tả Tự Vị” in năm 1957 --, không cần phải sửa “tây” thành “tơy” hoặc thành “tâi” làm gì để rồi lại phải rắc rối với những cuốn sách in trước “cải cách hiện đại” này. Và cũng không cần tới khái niệm “bán phụ âm” ở đây. “Y” trong trường hợp này vẫn là âm nguyên |i|.

Nói đến “cải cách hiện đại”, cần rút kinh nghiệm người Trung Hoa: dân chúng đã không tỉnh táo khi Mao cho sửa lại chữ viết của họ, bảo là để giản tiện hơn khi viết.6 Thoạt đầu thì “đại thành công” vì con nít học kiểu chữ mới rất nhanh, tưởng rằng xóa mù chữ cả nước đến nơi. Nhưng cho đến khoảng những năm '90 thì có chuyện cười ra nước mắt:

Số là có một giáo sư Hán học người Việt nọ được đi du lịch Trung Quốc. Vì là du lịch rẻ tiền nên ông được đưa đi thăm thú ở làng quê Trung Hoa nhiều hơn là ở thành thị. Thế là ông giáo sư này gặp may. Sau gần nửa thế kỷ dùng chữ mới, những người đọc được chữ cũ càng ngày càng ít đi, ở thôn quê lại càng thậm tệ vì các nông dân vốn đã mù chữ từ trước, chỉ còn đám trẻ được đi học nhưng lại học chữ mới. Cha hỏi con rồi con hỏi cha mỗi khi họ giở các cuốn gia phả hoặc giấy tờ kinh sách cũ của các đình chùa miếu mạo ra xem mà chả hiểu gì mấy.

Thấy ông giáo sư người Việt ung dung đứng trước cổng một ngôi chùa, thưởng thức ngâm nga các câu đối, các bài thơ khắc trên tường trên cột đã rêu phong mốc thếch, họ như bắt được vàng nghĩ ngay đến chuyện nhờ ông ta giải thích hộ những chữ quái gở trong gia phả hay ngay trong nhà họ. Thế là tranh nhau, những người Trung Hoa ấy mời ông Việt Nam về nhà, về chùa, đãi đằng đủ thứ, dọn chỗ cho ở, cung cấp người hầu hạ, để ông ngoại quốc này được tự nhiên và thân thiện đọc giùm họ chữ của họ và ghi lại bằng thứ chữ “cải cách” để họ giữ gìn. Chả hiểu ông giáo sư nọ ở lại ngôi làng đó bao lâu và giúp được bao nhiêu người có gia phả ở thôn đó. Chỉ biết là một khi văn hóa bị “lãnh đạo” thì hậu quả của nó không xảy ra ngay đâu, nhưng đã xảy ra rồi thì tai hại khôn lường. Còn những kẻ lãnh đạo Trung Hoa hiện nay thì không tội gì vạch áo cho người xem lưng, thế giới sẽ chẳng bao giờ biết văn hóa và văn minh xứ này đã đi lạc đến đâu.

Sai lầm khi gọi “o, u” trong “oa, oe, uy” là bán nguyên âm

Ai có biết về hệ thống phiên âm quốc tế đều thấy đúng là “hoa” được phát âm là [hwa]. Và một học sinh lớp 6 cũng nhận ra ngay trong trường hợp này “o” = [w]. Vũ Xuân Lương cũng nhận ra điều này và mau mắn đem áp dụng thành qui tắc. Nhưng tất cả mọi người Việt Nam (trừ hai ông tổ ngữ âm Vũ Xuân Lương và Hoàng Phê) đều biết “oa” không hề được phát âm là [wa] mà vẫn cứ phải là [Ca]:7 âm [C] được phát rất cứng trong chữ này.

Cũng không ai nói “ủy ban” là [wỉ ban]. Nếu không thì người Nam Bộ đã viết thành “quỉ ban” rồi. Thế nên một người Việt Nam dù giỏi tiếng Anh đến đâu đi nữa thì cũng không bao giờ tưởng tượng được “Uyn-xơn” lại là tên một vị tổng thống Mỹ (Wilson), “phố Uôn” lại là Wall-Street. Khi đọc báo thấy những chữ “thủ đô Oa-sinh-tơn” thì ai cũng cười tủm; và khi xướng ngôn viên đài truyền hình VTV1 đọc rất rõ “Oa-xinh-tơn” (âm [C] của cô rất cứng và âm |s| thì trong vắt đến độ phải viết là “x”) thì nhiều người đã phải bụm miệng chửi thề. Còn dân mê bóng đá thì phải tập làm quen với chữ “Uôn cắp” nhan nhản trên mặt báo và ra rả trên ti vi mỗi 4 năm một lần, rồi dĩ nhiên sẽ rất nhiều người (như Vũ Xuân Lương) sẽ suy ngược ra rằng “U” và “O” chính là “W”!!!

Theo Vũ Xuân Lương, không được đánh dấu thanh trên chữ “o” trong “oa” vì nó không phải là nguyên âm. Bây giờ đã rõ nó là nguyên âm thì dấu huyền trong chữ “òa” sẽ được đặt ở đâu?

Vì cố gắng đưa ra qui tắc đặt dấu thanh dựa trên các nguyên tắc ngữ âm và muốn các qui tắc của mình mang tính nhất quán để giải thich mọi trường hợp nên Vũ Xuân Lương đã có những lúng túng và nhận định sai lạc trên. Thực ra chữ Việt là một hệ thống ký hiệu phiên âm. Các chữ, dấu âm và dấu giọng cũng làm nhiệm vụ giống với các ký hiệu trong ký âm pháp âm nhạc: hình dáng thế nào, đặt ở đâu, để ghi hiệu quả gì là hoàn toàn do qui ước cả. Mà đã là qui ước thì điều quan trọng nhất là sự phân biệt không gây lẫn lộn và kế tiếp là cần phải đơn giản và/hoặc mang tính trực quan để dễ sử dụng, ngoài ra đôi khi phải chấp nhận một vài ngoại lệ hoặc vô lý. Lấy thí dụ, xét về mặt nhạc lý, khoảng cách cao độ từ Rê lên Mi là một cung, viết trên dòng kẻ nhạc thì nốt Mi nằm trên nốt Rê một nấc. Nhưng Fa cao hơn Mi chỉ có nửa cung thôi mà tại sao lại viết nốt Fa nằm trên nốt Mi cũng một nấc chứ không phải nửa nấc?

Hóa ra nếu áp dụng nhạc lý vào ký âm pháp thì đôi khi không đúng. Tương tự, áp dụng cứng ngắc nguyên tắc ngữ âm vào chữ viết thì cũng có khi không được. Ngữ âm học là một môn khoa học liên quan tới hình thức phát âm nhưng chính tả lại thuộc lãnh vực xã hội và chỉ là các qui ước, phần nhiều dựa trên thói quen của người sử dụng. Nhưng vì chính tả lại ảnh hưởng ngược đến cách phát âm của người dùng nó nên các qui ước đưa ra phải chặt chẽ và hợp lý trong chừng mực nào đó để mọi người có thể chấp nhận.

Vì thế cho đến nay mặc dầu đa số người Hà Nội nói “Em giất xung xưởng được chân chọng mời bác vào nhà xơi chẻn giệu” cũng không thể cứ thế mà viết ra để rồi hợp thức hóa luôn cái giọng nhà quê đó làm giọng chuẩn của “thủ đô ngàn năm văn vật”.

Những nhược điểm trong nhận định của VXL lồ lộ ra đấy mà Hoàng Phê không thấy thì hai chữ “giáo sư” ở phần tước hiệu của ông nên được để vào trong ngoặc kép là vì vậy.

Điều lạ lùng là kết quả việc suy luận của tác giả Vũ Xuân Lương lại là bốn qui tắc giống y hệt với chính tả truyền thống. Nhưng may mắn này lại không xảy ra với qui tắc còn lại cho trường hợp “oa, oe, uy”. Và để tạm kết thúc, thiết tưởng các qui tắc chính tả truyền thống về cách đặt dấu giọng nên được ghi lại nhằm chứng minh tính đơn giản và rõ ràng của cha ông ta

Ưu tiên 1: dấu âm (dấu trăng: ă, dấu mũ: â, ê, ô, và râu: ơ, ư) và dấu giọng luôn đi chung: thuở, trời, đất, nổi, nhiều, thửa, thấy, thuốc, gửi, oằn, tuổi, tội, tuyết; Nếu có hai mẫu tự mang dấu âm (ươ) thì dấu giọng đi với mẫu tự sau (ơ): người, lượt, cưỡi, tưởng...

Ưu tiên 2: vần có phụ âm cuối thì dấu đi với nguyên âm cuối: oán, loét, cát...

Ưu tiên 3: vần là nguyên âm ghép đôi hay ghép ba thì mang dấu giọng ở nguyên âm áp chót: ngoèo, hỏi, hóa, của, khuỷu, hoài, ngoáy, cái, áo, kéo, đỉa, xỉu, xòe, chúa, núi, tủy...

Chú ý: đương nhiên phụ-âm-ghép “qu”“gi” không mang dấu (vì chúng là... phụ âm), dấu đặt bình thường theo các ưu tiên trên:

quả, què, quì, quý, quẹo, quái, quào, quở, quới, quyệt...

giả, gié, gió, giặt giũ.

Nhưng khi “g” đi trước “i” nguyên âm hoặc trước nguyên-âm-ghép với “i” (khi này “g” có cùng cách phát âm với “gi”) thì theo các ưu tiên trên:

gì, gỉ sét, giết (không đọc là dết), giặt gịa khác với giạ lúa, không cần sửa thành “giặt dịa”, cũng như không cần sửa “giấu giếm” thành “giấu diếm”.8

Qui tắc đặt dấu giọng của tiền nhân không hề lấy yếu tố thẩm mỹ làm nguyên tắc chủ đạo (như những người làm tin học vẫn tưởng và áp đặt cái tên “kiểu thẩm mỹ” cho nó) mà chỉ cốt làm sao cho thật đơn giản và dễ nhớ. Quả thật nó rất thống nhất nên không cần phải vận dụng trí óc nhiều mỗi khi đánh máy, không phải phân vân xem dấu nên đặt ở đâu. Thế nhưng nay thì phải phân vân rồi, không những phân vân, còn phải tranh luận xem nó phải được đặt ở đâu nữa.

Qui tắc đặt dấu giọng của tiền nhân không hề lấy yếu tố thẩm mỹ làm nguyên tắc chủ đạo (như những người làm tin học vẫn tưởng và áp đặt cái tên “kiểu thẩm mỹ” cho nó) mà chỉ cốt làm sao cho thật đơn giản và dễ nhớ. Quả thật nó rất thống nhất nên không cần phải động não nhiều mỗi khi đánh máy, không phải phân vân xem dấu nên đặt ở đâu. Thế nhưng nay thì phải phân vân rồi, không những phân vân, còn phải tranh luận xem nó phải được đặt ở đâu nữa.

Các vấn đề “cải cách” về dấu, về hình dáng của chữ,9 của những người làm văn hóa ở Việt Nam ngày càng chứng tỏ họ chỉ là những kẻ duy ý chí mà lại cứ hay đưa ra các lý luận có vẻ khoa học, có vẻ “lô-rích” (hợp lý) để biện giải cho sự phá hoại của mình. Họ thay đổi không chỉ vì họ muốn thay đổi, nguyên nhân sâu xa của cái ý muốn thay đổi mọi thứ của họ chẳng qua chỉ là sự kiêu ngạo, muốn được xã hội vinh danh là những người có những cải tạo lớn lao cho văn hóa nước nhà.

Hồng Đức
30/10/07


1 http://vietlex.com/lib/compuLinguistics/quytacbodau.htm
2Tìm thấy trên trang web Mạng Giáo Dục của Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Việt Nam (http://diendan.edu.net.vn/forums/thread/276086.aspx) nhưng khởi thủy là đăng trên trang web của Talawas: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7657&rb=06
3 Bài “Bàn về chuyện "đánh dấu thanh" trong tiếng Việt” cũng tại Talawas: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=94&rb=07
4 Địa chỉ: Số 2 Ngõ Hàng Bún, Hà Nội
5 Nhà xuất bản Webster đã có cách phiên-âm âm-ngắn bằng một ký tự nhỏ hơn, và nằm cao hơn các ký tự thường khác. Ví dụ chữ “but” được phiên là [bEt], đọc khác với [bEs] của “bus”. Nhưng một ký tự nhỏ xíu như thế thì không phù hợp để dùng trong chữ viết.
6 Đặt tên kiểu ký tự mới này là “giản thể” đối lại với kiểu cũ gọi là “phồn thể”.
7 Ký hiệu C ngược dùng để phiên âm o.
8 Nhưng để ghi chữ có âm là [zết] trong [túi zết], cần phụ âm đầu là “gi” và viết “giết” thì lại đọc là [ziết] mất, đành phải ghi là “dết”, hỏng mất phụ âm đầu. Đây là một nhược điểm thường có trong bất kỳ bộ môn xã hội nào. (revised on Nov 6th ’07)
9 Cuộc cải cách về hình dạng chữ viết tay đã từng là một “thành công, thành công, đại thành... gà bới” ở Việt Nam, ai đã từng làm nghề giáo trong nước vào thập niên 80 đều có thể làm chứng điều này. Chỉ tội nghiệp, đa số thanh niên độ tuổi 30 bây giờ không dám viết thư tay gửi người yêu.




Ghi nhớ!





Cách bỏ dấu truyền thống viết “hóa, xòe, khỏe, súy, thủy, Thụy Sĩ, ủy mị...” chứ không phải cải cách thành “hoá, xoè, khoẻ, suý, thuỷ, uỷ mị, Thuỵ Sĩ...” như qui tắc số 4 của Vũ Xuân Lương.








"Chữ Việt" và "Tiếng Việt" là hai vấn đề


(█ ██)

Tiếng Việt chỉ có thể viết bằng chữ Việt.

Nhưng Chữ Việt ngoài việc dùng để viết Tiếng Việt, nó còn có thể viết được tất cả những thứ Tiếng thuộc hệ Latin khác. Chữ Việt có thể viết được Tiếng Pháp, Tiếng Anh, Tiếng Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức... Nhưng những Chữ Anh, Pháp, Ý, Đức... không thể viết được Tiếng Việt.

Đó là một ưu điểm độc đáo!

Nhưng sau 1975 dân ta hoàn toàn đánh mất ưu điểm này (cũng như đánh mất các ưu điểm về văn hóa, văn minh, kinh tế, chính trị khác) chỉ vì sự đóng khung Chữ Việt vào trong vòng Tiếng Việt. Sự hạn hẹp Chữ vào trong vòng Tiếng là một sự tự hủy hoại.

"Ta" đã bỏ hẳn những chữ cái "ngoại lai" và bảo rằng có một Bảng Chữ Cái Tiếng Việt (lạ! Bảng "chữ cái" của "tiếng", sao không gọi là Bảng Chữ Cái Việt) gồm đầy đủ các âm (không phải chữ cái) chỉ dùng trong tiếng Việt, bảng này chỉ thiếu âm mang thanh (à, á, ả...) mà thôi. Những chữ cái "ngoại lai" vốn đã tồn tại trong văn bản Việt từ thế kỷ 17, đến thế kỷ 20 thì bỏ đi. Hành động này chỉ có thể giải thích bằng mục đích "tự tách mình ra khỏi cộng đồng của mình để nói lên dân tộc tính của mình", hóa ra là dân tộc tính "cận thị".

"Ta" cũng bỏ hẳn "cách dùng chữ ngoại lai", bảo rằng đó là "phụ âm ngoại lai" như trường hợp các chữ L đứng sau nguyên âm. "Ta" thay L bằng N: Albany bị viết thành An-ba-ni. Chung số phận với L là B, F, PH, V (bị thay bằng P), D (bị thay bằng T) , G, K, Q (bị thay bằng C), những chữ H ngay sau nguyên âm của người ta thì bị "ta" bỏ hẳn.

Lạ lùng là những chữ S, bị cưỡng hiếp thành nhiều quái thai, như có khi thành X, khi khác lại thành SỜ, lại có khi thành XÌ, mà bị đổi thành T mới quái đản hơn nữa.

Còn các tổ hợp phụ âm thì bị "ghép hộ", cứ giữa hai vợ chồng người ta thì "ta" nhét ngay một đứa lại cái vào giữa. dr thành đờ-r, tr thành tờ-r, bl thành bờ-l (hi-đờ-rô, ni-tờ-rô, bờ-lóc, bờ-lao...).

Đọc các văn bản của những kẻ chỉ đạo văn hóa, từ ông Hồ Chí Minh đến nay và từ chủ tịch nước đến vị giáo sư dạy mẫu giáo, thì hóa ra là viết như thế cho nó thuần Việt, và (theo họ) nhờ thuần Việt thì BẤT CỨ người Việt nào cũng đọc được.

Tất cả, vâng tất cả từ ông Hồ danh nhân văn hóa thế giới đến cô giáo mẫu giáo vừa dạy học vừa ăn vụng kia, kể cả các tu sĩ Công Giáo đã in ra cuốn Thánh Kinh theo đúng tiêu chuẩn "bỏ chữ và cách dùng chữ ngoại lai", đều quên một điều. Họ quên tự hỏi câu: "Những con chữ đã viết ra là viết CHO AI?"

Viết cho người mù chữ chăng, điên! Viết tên hóa chất cho trẻ lên tám lên chín đọc chăng, cũng điên! Hay viết để anh dân chài nào đó đọc "được" tên của một nhà bác học hay tên của một thành phố xa lắc nào đó ở Pháp, Mỹ gì chăng, để làm gì! Vì có đọc to lên được hay là chỉ thấy mấy cái tên đó như một đống lằng ngoằng các ký hiệu thì đối với anh dân chài đó cả hai đều như nhau. Anh chỉ biết đó là một chữ đã được viết ra.

Kể ra cũng có một số người tuy không đủ sức, nhưng cũng thích bàn chuyện này nọ, đôi khi họ muốn khoe rằng họ rành chuyện thế sự, thì cái cách "viết phiên âm" tiếng "ngoại quốc" cũng giúp họ có thể "phát ngôn" lại những gì họ đọc được. (Đây chính là biện pháp Việt Cộng dùng để tuyên truyền.) Thế nhưng ta có chắc không, rằng một khi ai đó đã không mù chữ, lại có chút quan tâm mà lại không thể phát âm được gần đúng cái chữ lạ mà anh ta đang đọc. Còn nếu muốn họ phát âm đúng thì dù có phiên âm cách nào đi nữa họ cũng không thể. Thí dụ chữ Wylson phiên thành "Uyn-sơn" thì ai có chút học vấn dám bảo rằng sẽ có người phát âm đúng tên vị tổng thống Mỹ đó.

Muốn nói trúng, phải nghe đã.

H. Đ.
Jul 26, 2011 (reply)





Nên chú ý:




- Sau lưng các cụ người ta đang tìm mọi cách để chứng minh là những gì -- tất cả những gì -- mà các cụ và cha anh các cụ đã làm đều sai, đều dở, đều tệ hại và cần phải được sửa lại.

- Họ thay đổi không chỉ vì họ muốn thay đổi, nguyên nhân sâu xa của cái ý muốn thay đổi mọi thứ của họ chẳng qua chỉ là sự kiêu ngạo, muốn được xã hội vinh danh là những người có những cải tạo lớn lao cho văn hóa nước nhà.

- Khi mọi người đều sai, thì cái đúng sẽ bị đào thải. Cái đẹp, cái hay, và sự tiến bộ mà cha ông đã dày công xây dựng trước đó... sẽ lùi và suy thoái...


No comments:

Post a Comment

Followers

Blog Archive