Tiếng Việt Vỡ Lòng: Tên Mẫu Tự
Xin kể hầu quí vị một câu chuyện có thực, xảy ra cách nay không lâu tại ngay khu cư xá của người viết bài này:
Số là kẻ hèn này được một nhóm bạn phân công tổ chức tiệc họp mặt mừng “Ngày Nhà Giáo” năm đó. Địa điểm lại chính là cái nhà nho nhỏ của cha mẹ kẻ hèn này để lại trong một khu cư xá mênh mông được phân thành nhiều lô nhà và mỗi lô được đặt tên bằng một chữ cái trong bảng mẫu tự. Chuyện xảy ra cũng chỉ vì mấy cái tên mẫu tự này. Trong số khách đến dự tiệc có người chưa từng ghé qua tệ xá nên mặc dù có địa chỉ in sẵn trên thiếp, vài vị vẫn không cách nào tìm được nhà. Vả lúc đó trời cũng đã tắt nắng mà điều kiện an ninh khu xóm lại dưới mức an toàn, nghĩa là chả có đèn đường chi cả. Không cách nào đọc được bảng số trước cửa các căn nhà không chịu lên đèn do muốn tiết kiệm điện, một vị giáo sư đi lạc bèn áp dụng lời cha ông dạy “đường ở miệng mình chứ đâu”: thấy một đám thanh niên đang ngồi uống cà phê đầu một ngã tư, ông hỏi, đại loại là “Lô giê ở đâu?” Anh thanh niên không biết chữ “giê” là gì. Vị giáo sư chợt hiểu ra bèn hỏi lại “Lô gờ ấy mà.” Anh thanh niên dường như đã hiểu nhưng muốn chắc hơn nên hỏi lại “Gờ thì biết, nhưng mà gờ gà hay gờ gùa?”!!! Vâng! Chữ “R” được dạy ở trong nước là “chữ Rờ”, và thanh thiếu niên ngày nay lại có khuynh hướng nhà quê hóa trong phát âm, họ cố gắng bắt chước cách phát âm [r] thành [g] của người miền Tây, “cái rổ” nói thành “cái gổ”, “xong rồi” nói thành “xong gồi” và thành quen miệng, không sửa được nữa. Hậu quả là “gờ” “gờ” như nhau. Thế nên anh nọ mới phải thêm gà với rùa (nói ngọng thành “gùa”) cho nó “gõ gàng”. Theo cái kiểu “Bê bò hay bê phở” ấy mà. Đây là một vấn đề của các vị hàn lâm học sĩ nước ta. Mà “nước ta” đã có Viện Hàn Lâm chưa ấy nhỉ? Nhưng dù chưa có hay có rồi đi nữa thì cũng đã xảy ra một kết cục: Cách gọi tên chữ cái của cha ông ta, vốn là “A, Bê, Xê, Dê...”, đã bị phủ nhận hoàn toàn. Các ngài hàn lâm học sĩ đã đặt lại bằng một loạt tên có cùng vần [ờ]: “A, Bờ, Cờ, Dờ...”, có lẽ với lý do dễ ghép vần. Mà đúng thế thật, “bờ a ba” nghe xuôi hơn là “bê a ba” chứ nhỉ. Nếu phải đánh vần “bê a” thì kết quả phải là “bêa” chứ sao lại là “ba” được. Mới nghe thì thấy các ngài “Hàn Lâm Học Sĩ nước ta” quả là có lý. Nhưng thực tế thì các ngài đã đánh đồng bản chất với tên gọi. (Cái sai lầm về bản chất và tên gọi thì chỉ có học sinh cấp 1/tiểu học mới mắc phải, còn người nhà quê thì thường nhắc nhau “nó vậy mà không phải vậy”.) Không phải bất cứ ai tên là “Đại” cũng to lớn, bất cứ ai tên “Minh” cũng sáng láng đâu. Thế nên tên chữ là tên chữ, khi đánh vần ta có thể quên tên chữ đi mà chỉ cần nhớ âm của chúng là đủ. Với lại khi cần đọc chữ viết tắt mà dùng tên của các ngài đặt thì sẽ sinh lắm chuyện buồn cười. Chả lẽ lại nói “nờ đờ cờ pờ” khi phải đọc “NĐCP” hay “nờ quờ tờ ư đờ” khi đọc “NQTƯĐ”. Rối quá nên các phát thanh viên truyền hình khi phải đọc “WTO” cho hàng chục triệu khán thính giả nghe đã lúng túng và đọc đại “vê kép ti âu”! (Chuyện có thực, chả hiểu tại sao lại ra nông nỗi thế.) Rồi “NQĐHTWĐ” đọc là?... Bây giờ hãy thử bàn đến những sai lầm trong cách đặt tên của quí cụ hàn lâm viện sĩ Việt Nam. Như ta biết, tất cả các chữ phụ âm của tiếng Việt đều được các ngài đặt tên bằng âm của nó ghép với vần “ờ” theo kiểu chữ nào mang âm nấy. Như chữ B tên là “bờ”, âm “bờ”, C là “cờ” âm “cờ”, vân vân... Cách đặt tên này có vẻ có qui luật và dễ nhớ. Tuy nhiên có thật quá khó trong việc nhớ tên khoảng 20 chữ phụ âm cho dù tên chúng không theo qui luật nào hết? Lại nữa, khi phải đọc một loạt chữ viết tắt có vần [ờ] thì quả thật không ai có thể nghe rõ được vì chúng là vần xuống giọng. (Có lẽ nên bỏ dấu huyền đi và sửa thành bơ, cơ, dơ, đơ... thì khi đọc chữ tắt nghe mới rõ ràng.) Thế nhưng cứ theo luật của các cụ thì chữ K tên là gì một khi C đã là “cờ” rồi? À, quí cụ gọi tên nó là “ca”, nhưng thế thì còn đâu qui luật “chữ nào âm nấy” nữa. Mà tên “ca” này lại càng lỏi ra khỏi thanh dấu huyền của toàn bộ (lẽ ra nên đặt là “cà”). Vậy tức là khi nào bí quá thì quí cụ lại theo cách gọi tên cũ của tổ tiên?! Hai chữ S và X cũng được các cụ giữ lại tên cũ là “ét sờ” và “ích xì”. Các cụ sợ gì mà không đặt tên chúng là “sờ” và “xờ” cho đúng luật của các cụ. Các cụ bảo nếu gọi chúng là “sờ” và “xờ” thì e rằng học sinh tiểu học không phân biệt được. Mà quả có thế thực, có một thời các giáo viên tiểu học xã hội chủ nghĩa phải dạy “S” tên là “sờ” và “X” tên là “xờ”, học sinh (chắc là miền Bắc, vì người Bắc không phân biệt được 2 âm này) loạn cả lên, cứ sai chính tả hoài. Thế rồi có một cô giáo đã “phát huy sáng kiến”, gọi “s” là “sờ chim” vì có dạng viết tay giống hình con chim, và “x” là “sờ bướm” vì có bốn cánh giống hình con bướm. Rồi cô dặn học trò “Các con phải nhớ sung sướng là sờ chim, còn xót xa là sờ bướm!...” Các cụ sợ chúng không phân biệt được “sờ” và “xờ” của S và X, thế thì các cụ tưởng rằng chúng phân biệt được “bờ” và “pờ” của chữ B và P chắc? Các cụ cũng tưởng là chúng có thể phân biệt được “dờ” và “zờ” của chữ D và Z chắc? Các cụ hay tưởng quá! Rồi chữ “gờ” của các cụ (G), vì thấy nó có âm [g] (gờ) các cụ bèn gọi nó là chữ “gờ”. Nếu quả thật nó chỉ có âm gờ thì các cụ cứ “gé” “zảng” đường mà “gi” chép “zúp” tôi, tôi chẳng “gẻ” lạnh “zì” các cụ đâu! Quả là “gê” tởm! Một điều đặc biệt không thể chấp nhận được là các cụ gọi chữ Q là chữ “quờ”. Vâng, các cụ phải đổi tên nó thôi, vì nếu giữ tên cũ là “cu” thì sợ học sinh con gái đỏ mặt không học chính tả được. Ấy, các cụ lại tưởng ai cũng luôn nghĩ tục như mình rồi. Mà thôi, cứ cho rằng các cụ sợ đúng đi vì hồi đó các cụ bà hàn lâm viện sĩ cũng đã từng đỏ mặt khi học chữ này. Nhưng nếu nó tên là “quờ” và mang âm “quờ” thì cần gì phải ghép thêm chữ “u” vào sau nó nữa cho phiền, cứ tha hồ viết tên của sản phẩm ăn được của cây cối là “qả” (vì quờ = q, quờ a qua hỏi qả = [kwả]). Và viết thoải mái các câu sau, “qả qít có mùi thơm dịu hơn qả qất”, “gà vịt nhà em nó cứ qang qác qàng qạc qanh qẩn trong sân”, “hôm qa cụ qính qáng để qên cái qần ở Bà Qẹo”, có phải tiện hơn không? Các cụ không tài nào nhận ra “q” phải được gọi là “chữ cu” và khi ghép nó với “u” thành cặp “qu” thì được qui ước là một phụ âm ghép có âm [quờ] hay [kw]. Nhân tiện xin mở một dấu ngoặc để nói thêm về chuyện cái sai trên đây đã kéo theo một cái sai khác của các cụ: sai khi cho rằng viết “qui” là sai. Các cụ nhận xét rằng “ui” là một vần, vần [ui], vậy ráp nó với “q” thành chữ “qui” thì sẽ đọc là “cui” trong “dùi cui”. Các cụ quên rằng ở đây ta ráp “i” vào với “qu” chứ không phải “ui” vào với “q”. Chính vì “qu” mang âm “quờ” [kw] nên âm |i| đi sau nó muốn viết bằng “i” hay “y” cũng đều đúng do cả hai đều có âm nguyên |i|. bằng chữ “i” thì viết “qui” lại càng đúng hơn với các cụ chứ. Vì cái chuyện viết tất tần tật “i” chính là í của các cụ chứ có phải của ai khác đâu, mĩ thuật, kĩ sư chẳng hạn. Thế rồi các cụ qui định nọ kia, bắt người ta viết “quỷ” chứ không cho viết “quỉ”, “quỳ” chứ không được “quì” v.v... Các cụ sai lầm và trở nên võ đoán quá. Thực ra kiểu các cụ cho là sai mới là kiểu đúng của nguyên tắc ngữ âm. Còn khi một số nhà văn nhà báo theo thói quen riêng đã ghép vần “úy” vào với một chữ Q thành “quý”, vần “ùy” ghép thành “quỳ” họ đã quên là không có một chữ “q” độc lập trong tiếng Việt. Nếu muốn ráp vần “uý” với phụ âm dạng “c, k, q” thì chỉ cần viết “cúy” chứ không cần đến “q”. Và nếu nhất định dùng “q” thì có ngay “quúy” hay “quùy”. Họ là “nhà” chứ không phải “sĩ” nên có sai cũng không sao, còn các cụ được giao nhiệm vụ tìm cái đúng lại hồ đồ chọn ngay cái sai thì “qả là qá qắt”! Nói đến đây nghĩ lại thấy cần phải trân trọng xin lỗi các cụ viện sĩ viện hàn lâm Việt Nam (nếu có) rằng đã nói oan cho các cụ, thực ra các cụ đã có bao giờ đặt tên cho các chữ cái trong bộ chữ Việt đâu mà bảo các cụ đúng hay sai. Ủa! Mà nếu chưa đặt tên cho chúng thì các cụ đã và đang làm gì khi mà điều đầu tiên và căn bản ấy còn chưa làm, lại cứ phó mặc cho đám giáo viên tiểu học và mẫu giáo – mà đa số mới chỉ học qua lớp Năm, một số có qua Lớp Chín/Đệ Tứ, cộng với sáu tháng học phương pháp giảng dạy – tự tung tự tác từ bấy đến giờ, đến nỗi một số thanh niên thiện nguyện dạy Việt ngữ ở hải ngoại ngày nay cũng ra rả “đây là chữ bờ, đây là chữ cờ” vân vân. (Nhưng sau khi được tập huấn thì các em này đã nhận ngay ra sai lầm.) Qua đây ta thấy một nguyên tắc phiên âm [k] của Việt ngữ:
Riêng trong hai chữ “quốc” và “cuốc” thì tiền nhân đã có sự phân định như sau:
Quả nhiên tiền nhân không sai khi phiên âm dùng “qu” hay “cu”. Đến đây xin được đóng ngoặc.
Còn về tên của các chữ cái thì quả thật kẻ hèn này cũng chưa từng nghe hay đọc thấy ai công bố chính thức gì cả, tìm trên Internet cũng không thấy có văn bản nào. Bèn liệt kê ra đây bộ tên chữ đã học hồi còn bé. Một số mẫu tự hồi đó ít dùng nhưng nay đã trở thành phổ biến trong sách vở tiếng Việt cũng nhân đây xin được đề nghị tên cho chúng. Các nguyên âm không kê ở đây vì chúng theo luật âm nào tên nấy, riêng i và y thì phân biệt là “i” và “i dài”.
Có một số điều cần bàn thêm cho rõ sau đây:
Có lẽ vì thực tế này mà có người đã viết “fương fáp, fì fèo”. Thiển nghĩ đây chỉ là những trò nghịch ngợm của con trẻ khi đi học, muốn viết cho nhanh, vì rõ ràng chữ “F” ít nét, viết đỡ mất thời gian hơn hai chữ “PH”. Còn những người khai sinh ra chữ cái cho dân ta thuở đầu đã nghe dân Nam Bộ phát âm các từ “phà, phu, phố...” bằng môi ([p]) có gió trượt ([h]) nên đã phiên âm bằng “ph”.[3] (Điều này rất hợp với hệ thống La-tinh: photo, physics, phone...) Trân trọng cuộc khai sinh này nên đến nay dân ta dù Nam hay Bắc vẫn thống nhất viết “ph” chứ không viết “f” (ngoại trừ khi viết một số từ vay mượn như “cà-fê” hay “fax”). Đây là một đặc tính đáng quí của con người, luôn biết tôn trọng những gì tạo ra mình, luôn biết trân trọng những vật phẩm người khác trao tặng cho mình, như chính ông bà ta đã dạy “uống nước nhớ nguồn”. Còn nếu như có ai đó muốn sửa lại một tí rồi bảo rằng chữ Việt đã do mình tu chỉnh tốt hơn hay thậm chí tuyên bố chữ Việt là sản phẩm của mình thì cứ việc, mặc mọi người “fỉ” báng hay “fê fán”.
Thế nhưng vì có viết “cà-fê”, phải dùng đến chữ “f” thì nó phải có tên.
Câu chuyện gờ gà gờ gùa lẽ ra đã không xảy ra. Nhưng vừa rồi kẻ hèn này nghe loáng thoáng trong câu chuyện điện thoại của tiện nội có câu “dê trên hay dê dưới ạ?” Vâng, cái gì cũng có nhược điểm của nó. Tuy nhiên trong thực tế ở đời có những điều không cần phải cải sửa gì nữa, nếu có muốn sửa cũng chẳng được hoặc cũng chẳng hay ho gì hơn. Và cái bảng tên chữ cái tiếng Việt là một.
Hồng Đức Ngày 13 tháng 11 năm 2007 California, USA ------------------------ Ghi chú [1] Đọc “en-lờ” là sai. khi đọc nhanh “e-lờ” đã cho đúng hiệu quả. [2] Đọc “ét-sờ” là sai; khi đọc nhanh “e-sờ” đã cho đúng hiệu quả. [3] Người Nam không dùng âm răng môi ([f], [v]) như người Bắc. |
Tiếng Việt Vỡ Lòng: Đánh Vần
1
==========================
00000000000000000000000000000
Ghép vần ngược - phương pháp này làm hạn chế sự sáng tạo trong cách viết chữ Việt, đóng khung tiếng Việt trong số vần đã có, làm tiếng Việt ngày càng “giàu đẹp” theo hướng ngược lại.[6] Đang trong lúc đánh vần phải ngưng ở “phần giữa chữ” để nhìn lại phụ âm “phần đầu”, người học đôi khi quên tuốt là mình vừa ghép được vần gì trước đó để bây giờ ghép với “vần kế tiếp”. Và cuối cùng, người học ghép vần ngược không thể đọc được phiên âm quốc tế để biết cách phát âm ngoại ngữ.
==========================
Aug 8, '09
Phàm lệ: Để viết và đọc bài này, chúng ta mặc nhiên tuân thủ qui trình nghe-nói-đọc-viết trong việc học ngôn ngữ. Và bài này chỉ nhằm hình thành quan điểm để dạy đọc chữ Việt cho người đã biết nói tiếng Việt.
Hai tiếng “đánh vần” thường được dịch sang tiếng Anh là “spell” thực ra không đúng. “Spell” chỉ có nghĩa là gọi tên lần lượt từng chữ cái trong một chữ mà thôi. Người Âu Châu không có khái niệm “đánh vần” của Việt Nam vì họ không bao giờ “đánh vần”.
“Đánh vần” là một danh từ bình dân, có chữ “đánh” dùng trong “đánh tráo”, “đánh đu”, “đánh đàn”... Chữ “đánh vần” dùng để chỉ hoạt động nối các vần có sẵn với phụ âm đầu để thành tiếng trong khi học Việt Ngữ, hoạt động này còn được gọi là “ghép vần”. Tuy nhiên muốn “đánh vần” thì phải thuộc lòng cách phát âm của tất cả các vần; mà việc thuộc lòng này lại đòi hỏi một quá trình học khá vất vả. Việc “đánh vần” chỉ có thể làm được sau khi “học vần” tức là học ghép âm để tạo vần. Vần là một đơn vị âm độc lập bắt đầu bằng nguyên âm và có thể kết thúc bằng phụ âm, không phân biệt thanh điệu. (Thí dụ “người” và “cưới” có cùng vần “ươi”; “răng”, “trắng”, “bằng” có cùng vần “ăng”; và dĩ nhiên “a”, “ca”, “ba” có vần “a”.) Vần ở đây không giống vần (theo trắc bằng) trong thi ca. Sự “hiệp vần” là việc sắp xếp vần trắc bằng [1] giống nhau ở một số vị trí trong các câu thơ kế tiếp nhau. Khái niệm về “vần” thì ngôn ngữ nào cũng có (có thể tra trong appendix “Rhyme” của các từ điển).
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
9
|
a
|
e
|
ê
|
i
|
o
|
ô
|
ơ
|
u
|
ư
|
Vần có thể là nguyên âm đôi. (Không cần xét đến việc các chữ cái biến thành bán nguyên âm khi ghép). Hai âm nguyên kề nhau tạo thành vần nguyên âm đôi (có một số tổ hợp không có trong tiếng Việt như “ae”, “oê”, “io”... và có một số tổ hợp chỉ hiện hữu nếu có thêm âm sau như iê/yê, oă, uô, uâ, ươ): Có 24 vần nguyên âm đôi (nhị trùng âm, diphthong):
|
|
|
Vần có thể là nguyên âm ba. (Vần “uya” khi có phụ âm sau thì biến thành “uyê”, vậy nên “uya” không bao giờ có phụ âm sau. Vần “iêu” khi không có phụ âm phía trước mà vẫn thành tiếng thì viết thành “yêu”: “i” đổi thành “y”.) Có mười vần nguyên âm ba (tam trùng âm, triphthong):
|
|
Vần có thể có phụ âm cuối. Có tám phụ âm được dùng ở cuối chữ. Chúng không được phát âm trọn vẹn mà chỉ vừa đủ để gây ảnh hưởng vào nguyên âm đứng trước. (Thế nên có người gọi các phụ âm này bằng những thuật ngữ như “tắc”, “bập vào”, “bật ra”... để nhấn mạnh rằng các phụ âm cuối này không ảnh hưởng đến nguyên âm của tiếng kế tiếp nếu có.)
|
|
Chỉ có một số các tập hợp nguyên âm ghép với một số phụ âm cuối nhất định chứ không ghép tự do (ví dụ không có vần “unh”; không có vần “oă” nhưng tổ hợp “oă” lại gắn với phụ âm thành “oăn” hay “oăt”, “oăc”...), thế nên số vần có phụ âm cuối không phải là
(9 nguyên âm + 24 nhị trùng + 10 tam trùng) x 8 phụ âm = 43 x 8 = 344 vần, mà trong thực tế chỉ có khoảng 163 vần. Nói “khoảng” là vì càng ngày càng có thêm vần mới được xử dụng. (Xem bảng vần ở cuối bài).
Vần tiếng Việt luôn mang thanh (ngang, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng). Nhưng các vần có phụ âm cuối “c”, “ch”, “p”, “t” thì chỉ mang hai thanh là thanh-sắc và thanh-nặng. Nếu đếm tất cả vần mang thanh khác nhau trong thực tế sử dụng thì có khoảng 640 vần. (Không phải 160 x 6 = 960 vần).
Ghép vần:
Dùng một vần có sẵn để ghép vào sau một phụ âm nào đó để tạo thành tiếng thì được gọi là ghép vần:
Ghép vần “ười” với phụ âm “c” sẽ được tiếng “cười”; ghép vần “uống” với phụ âm “l” sẽ được tiếng “luống”, vân vân.
Một vần không ghép sau phụ âm nào cũng có thể tạo thành tiếng (tiếng này bắt đầu bằng nguyên âm): những tiếng “ao”, “ủa”, “ăn”, “uống”... chẳng hạn.
Việc “ghép vần” chỉ có thể làm được sau khi “học vần” tức là học ghép âm để tạo vần.
Có hai cách học vần:
a) Thính thị trực tiếp: Người học nghe phát âm của từng vần và nhớ thuộc lòng, không giải thích, không nhận xét tại sao vần phải được phát âm như thế. Cách này hiện rất phổ biến và hầu như là cách duy nhất để dạy tiếng Việt cho người ngoại quốc.
- Ưu điểm: là dễ dạy vì giáo viên không cần có kiến thức về ngữ âm, và không cần đi sâu vào chi tiết; nhất là khi gặp các ngoại lệ viết một đàng đọc một nẻo thì không cần giải thích.
- Nhược điểm: dẫn tới cách phát âm địa phương, đôi khi bị “nhà quê hóa”: Thầy có giọng Nghệ An thì học trò sẽ phát âm giọng Nghệ An. Rất khó học vì phải thuộc lòng đến 163 vần. Không thể phát âm được các vần tuy hợp lý nhưng không có trong tiếng Việt (như vần “ưm”, “oao” “uyn” “uýp”, “uốp”, “uym” hoặc “uêu”, “uên”). Quan trọng nhất là cách này thường dẫn đến yếu kém về chính tả (vì có nhiều âm đọc na ná như nhau).
b) Ráp từng chữ cái: Người học tự ráp các âm có trong vần từ trái sang phải, hình thành cách phát âm của mình rồi đối chiếu với vần nghe được từ người dạy. Cách này được áp dụng ở miền Nam trước những năm 1970 nhưng không biết tại sao nay chỉ còn được áp dụng bởi các gia sư hay các bậc phụ huynh dạy con tiếng Việt.
Ví dụ để học vần “oa”, người học đọc to âm “o” rồi kéo dài vào âm “a” sau nó. (Không đọc thành hai tiếng “o” và “a” rời rạc.) Gặp vần “uông”, người học đọc “u” kéo dài vào “ô” rồi “ng(ờ)” và thành “uông”.
- Nhược điểm: Người học khó hình dung được phương pháp. Dẫn đến khó dạy (khó dạy cũng vì giáo viên phải nắm vững ngữ âm học). Có nhiều ngoại lệ nên nếu sắp xếp thứ tự bài dạy không chính xác sẽ dẫn người học đến ngộ nhận. Không thể dùng cách này để giúp người ngoại quốc học tiếng Việt vì sẽ đưa họ tới cách phát âm nhừa nhựa, lơ lớ và cũng vì họ dễ đưa đặc điểm phát âm của tiếng mẹ đẻ vào.
- Ưu điểm: Người học chỉ cần nhớ âm của bộ mẫu tự Việt nên dễ học, có thể đọc được bất kỳ âm nào viết được trong tiếng Việt, không bao giờ quên vì không cần vận dụng trí nhớ. Người học có cách phát âm riêng của mình và thường là rất phân biệt nên không mắc lỗi chính tả khi viết. Ưu điểm quan trọng là việc học theo phương pháp này dẫn đến một lối phát âm rõ ràng, gọi là “lối phát âm chính tả” thường thấy trong giới khoa bảng trong bất kỳ ngôn ngữ nào (phải vào các trường đại học phương Tây mới thấy lối phát âm này, chứng tỏ người Tây phương học cách phát âm khoa bảng rất trễ, không như người Việt ta, nếu áp dụng phương pháp này thì ngay học sinh Cấp Hai/ Tiểu Học đã bắt đầu có cách phát âm khoa bảng rồi.) (Tạm dùng chữ “khoa bảng” để dịch chữ “academic”.)
Ghép Âm
Ưu điểm của chữ Việt, một thứ chữ phiên âm, là nó cho phép người dùng ráp âm xuôi theo chiều đọc (từ trái sang phải) để tạo thành tiếng, đúng với cách đọc phiên âm của hệ thống IPA (International Phonetic Alphabet). Tuy có vài ngoại lệ nhưng các ngoại lệ này cũng dễ nhớ và không nhiều.
Do đó việc ghép âm để tạo thành vần có thể được thực hiện chung với phụ âm đầu từ và trở thành cách “đánh vần xuôi”, không đơn thuần chỉ là “ghép âm xuôi”.
Ghép âm xuôi từng âm từ trái qua phải, giống cách đọc phiên âm quốc tế, sau đó ghép thêm dấu giọng và thành tiếng: ví dụ: Rờ – ư – Rư – ơ – Rươ – u – Rươu – nặng – Rượu (đánh vần bằng âm của chữ chứ không phải bằng tên chữ).
|
Người học trước tiên cần nhớ âm của từng mẫu tự, cộng thêm âm của các phụ âm đơn và các phụ âm ghép như “ch”, “gi”, “gh”, “kh”, “nh”, “ph”, “qu”, “th” và “tr”. Cũng cần nhớ đặc tính của từng phụ âm cuối, phân biệt chúng với nhau bằng cách đặt môi, lưỡi đúng chỗ.
Lại cần phải chú ý đặc điểm của “y” và bốn ngoại lệ phát âm liên quan đến “a”. Cụ thể như sau:
- “y” mang âm nguyên [i:] nhưng nó làm nguyên âm đứng trước (nếu có) ngắn lại. Nên phải đọc nhanh âm nguyên trước “y”:
“tay” đọc thành [tăi], trong khi “tai” đọc là [tai]
“tuy” đọc thành [twi/tŭi], trong khi “tui” đọc là [tui]
“tây” đọc thành [tâi], trong khi “tơi” đọc là [tơi]
- “cau” đọc là [kău]: âm a bị ngắn lại, khác với “cao” đọc là [kao/kau].
- “kia” đọc là [ki:ơ/kiâ] chứ không phải [ki:a]
- “xưa” đọc là [xươ/xưâ] chứ không phải [xư:a]
- “xua” đọc là [xuơ/xuâ], khác với “xoa” đọc là [xoa/xwa]
(Ghi chú: “ă” là “a” ngắn, “â” là “ơ” ngắn, “ŭ” là “u” ngắn.)
Ghép vần ngược
Xác định phần nguyên và phụ âm cuối (gọi là “vần”) trước, xong ghép phần phụ âm phía trước vào rồi bỏ dấu để thành tiếng. Ví dụ: iêng – ng(ờ) – iêng – nghiêng.
|
Cách này thoạt nghe thấy dễ vì chỉ có ba bước, thậm chí hai bước trong chữ “nghiêng” không có dấu thanh, nhưng để làm được, người đọc phải thuộc lòng tất cả các vần (lên đến 163 vần.)[2]
Vài nhận xét về cách ghép vần tiếng Việt để phát âm
Không ai đọc một thứ chữ nào mà lại ngồi tỉ mỉ tẩn mẩn ghép từng con chữ thành một chữ, đọc to lên rồi mới hiểu chữ đó. Thực tế quá trình đọc là chụp hình các chữ hay câu văn, nối kết chúng và hiểu nghĩa của câu. Công việc ghép vần chỉ có trong trẻ Việt bắt đầu tập đọc chữ Việt. Khi người ngoại quốc học tiếng Việt, họ có thể không cần tập hoạt động này mà sẽ học thuộc lòng từng chữ một như khi ta học tiếng Anh hay tiếng Pháp. Tuy nhiên, người Việt tập ghép vần và dần thành thói quen, rồi hình thành các quan điểm về hệ thống tiếng Việt. Có thể nói các nhận định về tiếng Việt của các nhà ngữ âm học cũng bị ảnh hưởng do quá trình ghép vần thời niên thiếu.
Sử dụng cách ghép vần ngược để dạy tiếng Việt cho trẻ em từ sau năm 1970 ở miền Nam và không biết từ hồi nào ở miền Bắc dẫn đến sự sợ hãi môn ngữ âm ở sinh viên đại học ngữ văn ngày nay. Nó cũng làm các nhà nghiên cứu ngữ âm tưởng lầm chữ Việt cũng giống như các thứ chữ của ngôn ngữ khác trong hệ thống La Tinh, đặc biệt là tiếng Anh hay tiếng Pháp có cách viết một đàng đọc một nẻo. Rồi họ phải mượn các ký hiệu phiên âm của IPA để phiên âm lại chữ Việt. Điều này giống chuyện tìm cách phiên âm các ký hiệu phiên âm.
Không thể đánh vần xuôi trong tiếng Anh. Khi đọc lên mà cứ phát âm từ từ theo thứ tự chữ cái thì rối tung: ha đọc là [ha], nhưng hat đọc là [hæt], rồi hate lại đọc là [hêt]; hay he đọc là [hi] nhưng her là [hơ:] và here lại là [hiơ:]. Chưa nói đến việc những chữ có cách phát âm đúng luật rất hiếm. Thế nên người học tiếng Anh có cái khổ là phải học thêm bộ ký tự phiên âm quốc tế. (Khốn thay bộ ký tự này lại ngày càng cải thiện, thay đổi liên tục.) Hay tiếng Pháp: “femme” lại đọc là [fa:m], “un” đọc là [œõ] nhưng “une” lại là [yšn]. Thế nên con nít Anh Pháp lệ thuộc vào cách đánh vần ngược khi học mẫu giáo: tất cả những chữ có đuôi giống nhau thì phát âm giống nhau: cat, bat, hat, fat, pat, rat cùng vần [æt]; bate, hate, fate, late, rate cùng vần [êt]; une, lune, prune cùng vần [yšn]; vân vân... Nhưng tiếng Việt không thế: tổ hợp “oa” chẳng hạn, dù sau nó có thế nào đi nữa thì nó vẫn mang âm [oa] như “oan” [oan], “oai” [oai], “oam” [oam], “oạch” [oạch], người đọc có thể yên chí về âm của phần đã ráp được, chỉ lo đi tiếp tới âm phía sau cho đến khi xong chữ.
Có ý kiến cho rằng việc ghép vần xuôi cho ra cách phát âm buồn cười do đọc chậm quá, như “cười” biến thành “cư-ời” hay “cừa-i”. Điều này có thể xảy ra nhưng do người đưa ra ý kiến đó chưa hiểu cách đọc phiên âm hoặc chưa có kinh nghiệm tự thân đọc phiên âm khi học ngoại ngữ. Nếu người này tra phiên âm tiếng Anh rồi đọc to lên thì mọi người sẽ “cưa-ì” vào mặt anh ta. Chẳng hạn “scout” có phiên âm [skaut] lại đọc thành “sờ-ca-út” hay “sờ-cau-tờ” hoặc thậm chí “sậc-cáo-tờ” (nghe như “suck out her”) thì người ta sẽ không biết anh ta bú cái gì ra. Ý kiến nói trên phát xuất chẳng qua là từ thói quen “lấy thúng úp voi” đó thôi. Muốn đọc phiên âm trước hết phải từ từ, sau khi các âm đã lần lượt vang đủ trong đầu rồi mới phát âm nhanh lên, phải chấp nhận việc nhị trùng âm biến thành hai vần, rồi đọc nhanh hai vần đó thì sẽ có nhị trùng âm; trường hợp tam trùng âm cũng thế: từ ba vần thành hai trong đó có một nhị trùng, rồi mới thành một vần tam trùng âm do phát âm nhanh một lèo cả ba âm rời rạc với nhau.
Điều tệ hại của việc dạy ghép vần ngược là nó làm phân hóa đến tận gốc rễ cách phát âm của người dân, ai cũng cho tiếng địa phương mình dùng là chuẩn. Dẫn tới quái tượng “giọng chuẩn Hà Nội”, “giọng chuẩn Sài Gòn”. Thế thì thế nào là giọng chuẩn Huế, chuẩn Mỹ Tho, chuẩn Quảng Nam?... Mới đây ở Việt Nam lại thấy có ý kiến nên lấy giọng Hà Nội làm giọng chuẩn cho xướng ngôn viên đài truyền hình Việt Nam. Hãy nghe giọng Hà Nội bây giờ: “Chủng em giất xung xưởng được chân chọng mời bác vào xơi chẻn giệu.”[3] Nếu đây là giọng chuẩn thì mai kia cứ phải đúng từng chữ và từng dấu giọng này mà viết tiếng Việt, đúng như cái câu trên, “Chủng em... giệu”! Sách “Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị” phải được làm lại từ đầu đến cuối. Mà rồi khi cứ cố tình bắt lấy đây là giọng chuẩn thì cả nước có sẽ nói được cái giọng chuẩn này không nếu như con nít cứ tiếp tục học cách đánh vần ngược.
Sự phân hóa này xảy ra do người học bắt chước hoàn toàn đặc điểm phát âm của người dạy. Thầy người Nam dạy phát âm “cau” giống “cao”, “anh” giống “ăn”; trong khi thầy người Bắc lại đọc “rượu” như “diệu”, “cừu” thành “kìu”, “nướu” thành “niếu”... và vô số lỗi phát âm nữa của từng vùng. Cần nhớ là khi ghép vần xuôi, mọi người đọc đều chỉ cần tôn trọng có 12 âm nguyên căn bản mà thôi. Trong chừng mực nào đó có thể nói dù thầy đọc mẫu sai, trò vẫn có thể phát đúng âm do trò đọc theo con chữ trên giấy chứ không nhái lại theo thầy. (Có em học trò lớp Hai đã bắt lỗi cô giáo khi cô đọc chữ “mênh mông” là “mên môông”.) Nếu tất cả học sinh đều học theo cách này thì trong tương lai sự khác biệt giữa các “giọng chuẩn” sẽ ngày càng thu hẹp lại. Điều này đã xảy ra trong khuôn viên các trường đại học Mỹ: dù sinh viên là người miền nào đi nữa thì khi phát ngôn chính thức họ cũng phát âm đúng theo phiên âm trong tự điển. Có thể so sánh với cách phát âm của các vị giáo sư trẻ Việt Nam, mỗi vị một vẻ, để thấy là dân ta chưa chú trọng đến điều này.
Và những người chủ trương ghép vần ngược (nhắc lại: ghép vần ngược là cách ghép phụ âm đầu với vần biết sẵn) sẽ làm sao để đọc từ “hừm” khi chữ này lần đầu tiên xuất hiện trong các sách truyện, dịch âm chữ “hm” của tiếng Pháp? Hay khi cặp từ “màn/mùng tuyn” xuất hiện trên thị trường để chỉ loại màn/mùng chống muỗi bằng sợi tổng hợp nhẹ bền thời đó thì họ đọc từ “tuyn” thế nào? Làm sao họ đọc chữ “goào” gần đây phiên âm từ chữ “wow”, một thán từ của Anh?... Các vần “ưm”, “uyn”, “oao”, vân vân tuy đều có thể đọc được nhưng lại không có trong ngôn ngữ Việt thuần, tức là không có trong bộ vần mẫu, thì làm sao học cách đọc được. Mặc dù vẫn có vần “uynh” (khuynh đảo, khuỳnh khuỳnh hai cánh tay...),[4] và vẫn có từ “quào” (phát xuất từ vần “oào”) ráp bởi “qu” và “ào”, mà tiếng Bắc là “cào”.[5]
Một ví dụ nữa là từ “tuýp” trong “đèn tuýp” mà người miền Nam hay gọi là “đèn típ”, hay tên nhà văn Mỹ đã được phiên thành “Mác Tuên”; vần “uýp” và “uên” cũng không có mặc dù có chữ “quên”, nhưng “quên” là do ráp “ên” vào với “quờ” chứ không phải “uên” vào với “cờ”.
Nhìn vào đặc điểm này của việc ghép vần ngược để thấy rằng phương pháp này làm hạn chế sự sáng tạo trong cách viết chữ Việt, đóng khung tiếng Việt trong số vần đã có, làm tiếng Việt ngày càng “giàu đẹp” theo hướng ngược lại.[6]
Nói cho cùng, trong thực tế không ai ghép vần ngược, mà, khi tập đọc theo cách ghép vần ngược, chữ “khoai” chẳng hạn, ai cũng đọc theo thứ tự sau đây mà không để ý đó là mượn từ cách ghép xuôi: “o, a, i, oai, khờ, oai, khoai.” Rõ ràng ba bước đầu tiên là xuôi. Rồi bước cuối cùng cũng là xuôi khi ghép hai yếu tố phụ âm và vần vào với nhau. Đã xuôi lại còn ngược làm gì cho khổ người học khi bắt anh ta mỗi lần nhìn vào một chữ là phải nhìn phía sau trước. Vì: Khi ngưng ở “oai” để nhìn lại phụ âm “khờ”, người học đôi khi quên tuốt là mình vừa ghép được vần gì trước đó để bây giờ ghép với “khờ”. Nếu dạy lớp Một, ai cũng thấy điển hình này.
Cách ghép vần xuôi tuyệt đối không làm người học mắc phải lúng túng này. Nó liên tục từ đầu đến khi xong một chữ. Nó cũng cho phép phát âm được tất cả các vần có thể có khi dùng bộ chữ Việt. Và một ưu điểm nữa là sau khi đã thành thạo phương pháp ghép vần xuôi, người học có thể đọc phiên âm quốc tế để biết cách phát âm ngoại ngữ, không như ví dụ “sậc-cáo-tờ” ở trên.
Lợi điểm của cách học vần xuôi khi áp dụng vào việc viết
Đọc thông chưa chắc sẽ viết thạo.
(tiếp theo)
(tiếp theo)
00000000000000000000000000000
(Tiếp theo)
|
Ghép vần ngược - phương pháp này làm hạn chế sự sáng tạo trong cách viết chữ Việt, đóng khung tiếng Việt trong số vần đã có, làm tiếng Việt ngày càng “giàu đẹp” theo hướng ngược lại.[6] Đang trong lúc đánh vần phải ngưng ở “phần giữa chữ” để nhìn lại phụ âm “phần đầu”, người học đôi khi quên tuốt là mình vừa ghép được vần gì trước đó để bây giờ ghép với “vần kế tiếp”. Và cuối cùng, người học ghép vần ngược không thể đọc được phiên âm quốc tế để biết cách phát âm ngoại ngữ.
No comments:
Post a Comment