NGƯỜI QUÉT CHỢ
Jul 18, '11
"Nhớ dâng trà cúng sư thúc và dì Linh nghe con?" thầy nhắc chú tiểu khi thấy chú sửa soạn lên chánh điện để cúng ngọ.
"Bạch thầy, con nhớ," chú đáp.
Đó là câu mà thầy cứ nhắc chú mỗi ngày trước mỗi thời kinh. Chú chẳng biết sư thúc là ai, dì Linh là ai. Trên chiếc bàn thờ nhỏ đặt cạnh bàn Tổ, chú chỉ thấy hai cái bài vị được viết bằng chữ Hán chứ chẳng có hình ảnh gì cả. Vì thầy nhắc mãi nên chú không lúc nào quên, vậy mà thầy cứ nhắc. Nghe nhắc hoài, ban đầu chú hơi bực mình, nhưng riết rồi cũng quen. Và khi chú rót trà cúng cho hai người đó, chú cũng làm như một cái máy chứ không suy nghĩ gì. Chùa chỉ có một thầy một trò, nên thầy thương chú lắm và chú cũng quí kính thầy vừa như cha mẹ, vừa như thầy, và thỉnh thoảng như một người bạn đạo. Chú không có tên thế tục. Chú chẳng hiểu lý do vì sao. Có lẽ vì chú sống ở chùa từ nhỏ nên thầy đã không đặt tên thế tục cho chú mà chỉ đặt cho chú một pháp danh là Thanh Thị. Chú lớn lên ở trong chùa, quen với tên gọi mà thầy đặt cho, chẳng thắc mắc gì. Nhưng đến khi được thầy dạy cho học chữ Hán, chú mới hiểu được cái tên đọc nghe như tên con gái của mình lại có một ý nghĩa kỳ cục, không được thanh nhã cho lắm. Nó có vẻ như được đặt ra để đánh dấu một kỷ niệm nào đó của thầy, hoặc cho chính chú. Chú băn khoăn suy nghĩ mãi về ý nghĩa của cái tên mà mình đeo mang. Nhân lúc cùng thầy nhổ cỏ sau vườn chùa, chú hỏi:
"Bạch thầy, tại sao thầy đặt tên con là Thanh Thị?"
"Vì thầy thích đặt như vậy," thầy chú thản nhiên trả lời.
"Lâu nay con tưởng rằng chữ thị có nghĩa là đây, như vầy, giống như chữ thị trong như thị, đích thị hoặc chữ thị như trong biểu thị, thị hiện... nhưng mới hôm qua, thầy viết tên con bằng chữ thị có nghĩa là chợ. Con không rõ là tên con sao lại có cái nghĩa không được hay. Xin thầy giải thích cho con."
Thầy nghiêm giọng nói:
"Chỉ là tên gọi thôi, có gì mà phải bận tâm, nhổ cỏ đi."
Chú cúi xuống nhổ cỏ tiếp, nhưng được một lúc, chú lại hỏi:
"Con biết đó chỉ là tên gọi thôi, nhưng tên gọi cũng phải nói lên một cái gì, một ý nghĩa gì chứ."
"Thì chợ cũng là một cái gì, một ý nghĩa gì rồi đó," thầy đáp.
"Con thấy chợ chỉ có ý nghĩa là dơ, ồn ào, phức tạp... toàn là xấu không à. Con không tìm ra được ý nghĩa nào hay đẹp ở trong nó. Khi thầy đặt tên con, chắc chắn là thầy có nghĩ đến một ý tưởng hay một hình ảnh gì đó về cái chợ, phải không, bạch thầy?"
"Nhiều chuyện quá," thầy nói, "nhổ cỏ đi."
Chú im lặng nhổ cỏ, không dám hỏi nữa. Nhưng trong đầu óc chú bắt đầu nẩy ra những suy tưởng, những phán đoán về sự đặt tên của thầy. Chú nghĩ, năm nay chú đã mười sáu tuổi rồi, có thể nói là chú đủ trưởng thành để nghe thầy kể về lai lịch của chú. Lâu nay mỗi lần chú hỏi đến vấn đề đó, thầy chỉ nói là chú chưa trưởng thành, chưa đến lúc cần biết. Nhưng dù thầy chẳng nói ra, chú cũng không đến nỗi ngu độn để không biết rằng chú là một đứa bé mồ côi. Ai cũng có cha mẹ, riêng chú không có. Cái thực tế đó làm gì thầy che giấu được. Nhưng tại sao lại đặt tên là Thị, có nghĩa là chợ? Có lẽ... có lẽ cha hay mẹ của chú là người bán hàng ngoài chợ, hoặc là người chủ chợ. Nhưng ba mẹ chú đâu mà để cho thầy phải đặt tên? Cũng có thể mẹ chú đi ngang chợ thì sinh ra chú. Không, nếu mẹ chú sinh ra chú ở chợ thì cũng đem về nhà, và chú vẫn còn người mẹ đó chứ chú đâu có mồ côi để cho thầy phải đặt tên! Hay là... hay là thầy lượm được chú ngoài chợ, đem về chùa nuôi cho đến ngày hôm nay? Chính vì kỷ niệm đó mà thầy đặt tên cho chú là Thị (chợ)?
"Bạch thầy..." chú không ngăn được nỗi háo hức tìm hiểu thân phận mình, lại mở miệng hỏi.
"Gì nữa đây?" thầy không nhìn chú.
"Có phải... có phải con là đứa con rơi thầy lượm ở ngoài chợ đem về hay không?"
Thầy ngưng tay nhổ cỏ. Im lặng một lúc, thầy tiếp tục nhổ, vừa nói:
"Nhổ cỏ."
Đến chiều, sau giờ ăn cháo, thầy gọi chú cùng dạo sân với thầy. Hai thầy trò tản bộ cho đến vườn sau, nơi có hai ngôi mộ mà thỉnh thoảng chú thấy thầy ra thắp hương. Một cái mộ thì chú biết là của sư thúc chú, còn cái còn lại chú chẳng biết của ai và cũng không để ý lắm.
"Con đã dâng trà cho sư thúc và dì Linh lúc công phu chiều rồi hả?" thầy hỏi.
"Bạch thầy, rồi," chú trả lời như máy.
Thầy nhặt mấy chiếc lá nằm trên mộ sư thúc, nhổ vài bụi cỏ mới mọc quanh hai ngôi mộ. Rồi thầy bắt đầu kể chuyện cho chú nghe.
*
Thầy Hải Chấn đang ngồi đọc sách thì Hải Thanh, sư đệ của thầy, bước vào, mặt buồn dàu dàu. Hải Chấn hỏi:
"Gì mà sư đệ có vẻ rầu lo vậy?"
Hải Thanh buồn bã đứng nhìn ra cửa sổ một lúc rồi nói:
"Đệ... đã phạm giới..." Hải Thanh nói đến đó thì rơi nước mắt.
Hải Chấn kéo tay sư đệ ngồi xuống, vỗ về:
"Có trầm trọng lắm không? Đệ đã sám hối chưa?"
"Đã sám hối. Nhưng đó là cho tự tâm. Không giải quyết gì được cho hoàn cảnh."
"Chuyện gì vậy? Nói đi, để xem huynh có thể giúp gì cho đệ không."
"Huynh đừng trách mắng đệ nghe..."
"Phạm tội thì sám hối; huynh trách mắng có thay đổi gì được đâu! Nói đi, đừng chất chứa trong lòng," Hải Chấn nói với giọng đầy cảm thương.
Hải Thanh đưa hai tay ôm lấy đầu, mặt gục xuống bàn, nói:
"Cô ấy đã có mang."
Hải Chấn sửng sốt một lúc, rồi thở dài, hỏi:
"Cô ấy là ai vậy?"
"Sư huynh không biết đâu. Cô ấy không hề đến chùa mình."
"Vậy làm sao đệ quen để đến nỗi..."
"Thôi, huynh hỏi làm gì chuyện đó cho mệt. Bây giờ, đệ chỉ hỏi huynh một điều là đệ phải làm sao đây?"
Hải Chấn nhíu mày, thấy khó xử. Theo luật, Hải Thanh đã phạm một trong các tội Ba-la-di, tức những trọng giới mà đương sự bị coi như mất cả giới thể, không còn là tỳ-kheo thanh tịnh nữa, không thể chữa được nữa—như cây dừa, cây cau, đã chặt đi khúc đầu (đoạn đầu) thì không thể mọc lại tàu lá mới. Đã tới nước đó thì Hải Chấn biết góp ý với Hải Thanh điều gì nữa. Hải Chấn thở dài nói:
"Huynh cũng chẳng biết phải góp ý với đệ làm sao. Chuyện không đơn giản đâu. Đệ phải nói rõ sự việc may ra..."
Hải Thanh ngập ngừng lúc lâu rồi kể:
"Cũng vì cái hạnh quét chợ mà đệ vướng phải nghịch cảnh này. Huynh cũng biết mà, mỗi sáng đệ quét từ sân ra tới chợ, mặc ai cười ai chê, đệ quét thì cứ quét, vừa quét vừa quán niệm về sự cấu bẩn của thế gian và thanh tịnh của niết bàn... năm này qua năm nọ, mưa hay nắng, đệ cũng không bỏ ngày nào. Thế rồi... cô ấy lưu ý đến đệ. Và... một ngày nọ, đệ sa ngã."
"Buồn thay cho đệ. Cô ấy bán ngoài chợ à?"
"Không, cô chỉ đi ngang chợ thôi."
"Vậy bây giờ gia đình cô ấy đã biết rằng chính đệ đã làm... cái chuyện gì đó chưa?"
"Chưa, cô ấy không nói ra là ai. Nhưng... có lẽ có ngày họ cũng biết. Mà họ có biết hay không thì... mình cũng phải tự liệu."
"Tự liệu?"
"Ý đệ nói là mình phải giải quyết vấn đề đó bằng cách đến nói chuyện với gia đình cô ấy, xin hỏi cưới cô ấy, hoặc là... đệ cùng cô ấy trốn đi xa để khỏi mang tai tiếng cho gia đình cô ấy và cho chùa nữa."
"Nghĩa là đệ sẽ hoàn tục?"
"Chứ biết sao bây giờ. Huynh có cách gì hay hơn không?"
Hải Chấn ứa nước mắt, thương sư đệ mình gặp nghịch duyên đến phải bỏ đường tu, nhưng chẳng biết phải giúp bằng cách nào. Hải Chấn ngồi lặng thinh. Một chặp, Hải Chấn nói:
"Huynh chẳng biết cách nào hết, mong đệ tha thứ cho sự chậm lụt của huynh. Huynh nghĩ chắc phải làm theo một trong hai cách mà đệ nêu ra thôi. Mà cho dù chọn giải pháp nào, huynh cũng xin lưu ý đệ một điều rằng đệ nên giải bỏ hình thức tăng sĩ trước khi..."
"Đệ hiểu."
Hai huynh đệ im lặng, mỗi người một dòng suy tưởng.
Hải Chấn nhớ lại bao kỷ niệm mà thầy cùng Hải Thanh trải qua nơi ngôi chùa này từ thuở còn để chóp đến nay. Hải Thanh thông minh, nhanh nhẹn mà lại siêng năng nên cái gì cũng vượt qua mặt sư huynh. Nhưng đến khi sư phụ sắp viên tịch, sư phụ lại giao trọng trách trụ trì cho Hải Chấn. Lúc đó Hải Chấn đã không nhận vì cho rằng sư đệ vượt trội hơn mình quá nhiều. Hải Thanh cũng không chịu nhận chức trụ trì, còn sư phụ thì nhất quyết phải giao chức ấy cho Hải Chấn dù Hải Chấn học hành chậm lụt. Rốt cuộc Hải Chấn phải nhận. Giờ ra đi, sư phụ không nói gì nhiều ngoài việc khuyên răn hai huynh đệ nương nhau tu tập, và những lời cuối cùng của sư phụ đều nhắm vào Hải Thanh, cảnh giác Hải Thanh là không nên chú trọng vào sở kiến sở văn mà bỏ quên phần tu tập. Sau khi sư phụ mất, Hải Thanh thức tỉnh, nỗ lực hành trì, không bao giờ chểnh mảng. Rồi một ngày đó, Hải Thanh bỗng phát nguyện quét luôn cả chợ thay vì chỉ quét sân chùa. Hải Chấn không ngăn cản chi hạnh nguyện của sư đệ mình vì nghĩ rằng đó cũng là hạnh tốt thôi. Hải Thanh cho rằng hình ảnh người tu sĩ hiền lành nhẫn nại có mặt nơi phố chợ đông người sẽ cảm hóa và gây được tín tâm cho nhiều người. Ngoài ra, quét chợ cũng là một cách tu luyện cho tâm được định tĩnh ngay giữa chốn náo động. Không ngờ, chính hạnh nguyện cao đẹp đó lại đốn ngã Hải Thanh trong một nghịch duyên đau xót.
Hải Thanh không ôn lại kỷ niệm xưa mà chỉ ưu tư vấn đề xảy ra trước mắt. Hải Thanh nhớ đến Thùy Linh, cô gái đã có mang với mình. Cô ấy rất đẹp và là một tiểu thư con của quan huyện. Với sự thông minh vốn có, lại thêm sự giúp đỡ bày mưu của cô nữ tì, cô ấy đã tạo đủ điều kiện để lôi kéo Hải Thanh ngã vào vòng tay mình. Từ những phút đầu Hải Thanh đã biết mình rơi vào lưới tình, nếu không thức tỉnh quay lại ngay với thiền môn thì khó bề giữ gìn được đạo hạnh của mình, nhưng bóng sắc lộng lẫy kiêu sa của nàng đã không để cho Hải Thanh chùn bước mà còn kéo thầy lậm sâu thêm vào cơn men ái dục. Bây giờ chuyện đã lỡ rồi, không cưỡng lại được nữa. Hải Thanh muốn rủ Thùy Linh cùng bỏ huyện này trốn đi với mình qua xứ khác sinh sống và cũng để tránh tiếng cho cả đôi bên, nhưng Thùy Linh không dám. Nàng đã ở lại để rồi không che dấu được cái thai càng lúc càng lớn. Nàng đã bị cha đánh đập, mắng chửi dữ dội. Hải Thanh nghe nữ tì nói lại như vậy nhưng chẳng biết phải làm sao. Nhiều lúc Hải Thanh muốn lẻn vào tư dinh quan huyện để cứu nàng ra khỏi đó, nhưng lính gác canh phòng nghiêm mhặt, không cách gì vào được. Dù đã từng xem thế sự như một giấc mộng hư huyễn, trước tình cảnh đau xót mà Thùy Linh phải hứng chịu, Hải Thanh không khỏi nghe tan nát trong lòng.
Đêm đó, hai huynh đệ ngồi thức trắng bên bàn sách. Đến lúc mờ sáng, Hải Thanh mới rời phòng sách vào phòng riêng, lấy khăn chít lấy đầu để che dấu cái đầu tròn tu sĩ của mình, thay đổi y phục như một người thế tục rồi từ giã Hải Chấn mà đi. Hải Chấn hỏi:
"Đệ đi đâu vậy?"
"Đến tư dinh quan huyện nói chuyện thẳng với cha cô ấy."
"Sao huynh thấy ái ngại cho chuyến đi này của đệ quá. Thấy có gì không ổn. Đệ liệu có thể thuyết phục được cha mẹ cô ấy không?"
Hải Thanh không đáp, chỉ nhún vai rồi đi. Hải Chấn níu lại, dúi vào bọc vải của sư đệ một túi tiền nhỏ:
"Đó là tiền riêng của huynh, không phải của chùa đâu, đừng ngại. Đệ mang theo để có gì..."
"Cám ơn huynh. Đệ đi đây. Nếu có tin tốt đẹp, đệ sẽ cùng Thùy Linh ghé thăm huynh trước khi rời xứ này."
Và Hải Thanh đi luôn, không trở lại. Hải Chấn bồn chồn lo lắng suốt cả ngày và đêm hôm đó. Sáng hôm sau, khi Hải Chấn ra vườn thì thấy xác Hải Thanh nằm ở trước sân chùa, thân thể tím bầm vì bị đánh đập đến tắt thở. Hải Chấn đến khiếu nại với quan huyện nhưng huyện đường đóng cửa, lính gác xua thầy về. Thầy đành ngậm ngùi chôn xác sư đệ sau vườn chùa. Nghĩ rằng có làm to chuyện lên thì sư đệ nhắm mắt cũng không được yên.
Hai tháng sau, Thùy Linh sinh hạ một bé trai. Nửa đêm nàng lẻn trốn khỏi dinh, mang con ra chợ, ngồi nơi sạp hàng mà ôn lại chuyện xưa khi nàng đi ngang đây và bắt gặp nhà sư quét chợ lạ kỳ. Nàng ngồi giữa trời sương cho đến sáng thì chết, tay vẫn còn ôm đứa bé sơ sinh đang khóc.
Quan huyện lâu nay cố che dấu chuyện con gái mình nhưng nay, cái chết của Thùy Linh ngay giữa chợ đã làm cho câu chuyện nhanh chóng truyền đi; ông bực dọc và căm giận đến độ sai lính treo bảng thông báo rằng ông đã từ đứa con trắc nết phá hoại gia phong, rằng ông không chịu trách nhiệm về cái chết của Thùy Linh cũng như không chấp nhận đứa con của người quét chợ. Thông cáo của ông có vẻ như ngầm phán rằng đứa bé phải chịu chết giữa chợ đời, không ai được phép cứu nó. Vì uy quyền hống hách cũng như sự giận dữ của quan huyện, không ai dám mang đứa bé sơ sinh về nuôi. Người ta gỡ đứa bé khỏi vòng tay lạnh giá và cứng đờ của mẹ nó rồi đặt nó nằm trong một chiếc nôi, để giữa chợ để chờ kẻ nào động lòng trắc ẩn đến mang nó đi. Những người đàn bà bán hàng ngoài chợ đã chăm lo sữa cho đứa bé suốt ngày đó, nhưng cũng không ai chịu nhận đứa bé về. Còn xác Thùy Linh thì được quấn sơ sài bằng một cái chiếu, đặt ở gần đó. Đến chiều tối thì chuyện đến tai Hải Chấn. Thầy liền tức tốc ra chợ, ôm chiếc nôi nhỏ mang về chùa. Còn xác Thùy Linh, thầy bảo những người phật-tử bán hàng ở chợ giúp đem về chùa chôn. Ấy vậy mà quan huyện không dám động đến Hải Chấn vì cả nể đức hạnh và uy tín của thầy. Đứa bé được yên thân sống và lớn lên trong cửa chùa.
*
Nước mắt ràn rụa trên hai gò má bầu bĩnh, chú tiểu Thanh Thị quì xuống chân thầy:
"Tạ ơn thầy cứu sống và nuôi dưỡng con."
Thầy đỡ chú dậy, nói tiếp:
"Sư thúc của con có linh vị thờ trong chùa mà thầy thường nhắc con rót trà dâng cúng chính là Hải Thanh cha của con đó. Sư thúc với thầy tu học với nhau từ nhỏ nên ngoài tình đạo bạn còn coi nhau như anh em ruột. Chuyện của sư thúc khiến thầy đau lòng quá mà không biết giúp bằng cách nào. Nuôi dưỡng con chỉ là một chuyện nhỏ để biểu lộ sự mến tiếc của thầy đối với sư thúc thôi. Huống chi, làm sao thầy có thể bỏ mặc một đứa trẻ kêu khóc không người đoái hoài..."
Chú tiểu Thanh Thị bây giờ đã hiểu vì sao chú có cái tên lạ kỳ đó: Thanh là tên của cha chú còn Thị chính là chợ, là nơi ghi lại kỷ niệm chua xót đầu đời của cha chú, mẹ chú, và cả chú nữa.
"Vậy quan huyện hiện nay chính là ông ngoại của con hở, bạch thầy?"
"Không. Ông và phu nhân đều đã qua đời. Quan huyện hiện nay là người mới được bổ nhiệm."
"Vậy những người ở ngoài chợ... đều biết chuyện của con hở thầy?"
"Mười sáu năm rồi, nhiều người đã dọn đi xứ khác, nhiều người đã chết, chỉ còn lại rất ít người là biết chuyện của con, nhưng chắc họ cũng quên khuấy đi rồi. Mà sao con hỏi vậy? Con không muốn người ta biết rằng con đã xuất thân từ đâu, phải vậy không?"
"Bạch thầy không phải, không phải."
"Như vậy thì tốt. Nhân cách không nằm ở chỗ xuất thân từ đâu mà từ chính giá trị thực có của mình."
"Dạ, con biết," chú cúi mặt nói nhỏ.
Theo như lời thầy kể, rồi nhìn hai ngôi mộ song song trước mặt, đọc những chữ Hán viết trên mộ bia, chú thấy rõ đó chính là song thân của mình. Chú quỳ xuống nhìn thật lâu nơi hai mộ bia, lặng người một lúc lâu, chú bật khóc thảm thiết.
Vậy đó mà chú vẫn không sao tẩy xóa được nỗi mặc cảm đè nặng trong tâm khảm mình: rằng chú là một đứa trẻ vô thừa nhận, được sinh ra bởi một người cha tu sĩ phá giới, một người mẹ khuê các phá gia phong; rằng chú bị bỏ rơi giữa chợ đời như một tội nhân tử hình ngay từ lúc sơ sinh. Bao nhiêu ý nghĩ đó ám ảnh chú suốt mấy ngày kế tiếp sau khi nghe thầy kể rõ sự tình. Thầy theo dõi từng biến động tâm tư hiện trên mặt chú, bèn gọi chú hỏi chuyện:
"Con sẽ mang buồn cho đến bao giờ? Có sinh tức có diệt, sao phải ôm mãi nỗi đau khổ biệt ly như thế!"
Chú lặng thinh không đáp lời thầy. Thầy biểu lộ tình cảm, lấy tay xoa đầu chú:
"Thương cha mẹ, con rán tu học để cha mẹ vui lòng. Cha con là một tu sĩ thông minh, có tuệ căn, làu thông kinh điển. Chỉ một phút yếu lòng mà đánh mất sự nghiệp cao cả. Con có thương cha thì nối tiếp sự nghiệp đó mới phải, sao cứ ôm lòng buồn rầu mãi. Con đến rót trà dâng ba đi, rồi lên tụng kinh."
Chú cúi mặt bặm môi một chặp, bỗng ngước lên nói:
"Chỉ có thầy mới là cha con thôi. Ông ấy không phải là cha con!"
Nói rồi chú vụt đứng dậy, bỏ đi vào phòng riêng, đóng cửa lại. Thầy sững sờ ngồi nhìn theo, lắc đầu buồn bã. Chú bỏ tụng kinh chiều hôm đó. Thầy lặng lẽ đắp y áo, thắp hương, rót trà cho sư đệ Hải Thanh rồi thầy tụng kinh thay chú.
Suốt mấy ngày, chú vẫn không ra khỏi phòng. Thầy đến gõ cửa, gọi mãi mà không được. Mọi việc trong chùa thầy làm thay chú hết. Chú không ra khỏi phòng nên cũng nhịn ăn luôn cả mấy ngày. Hai thầy trò sống bên nhau mười sáu năm rồi, chưa lần nào vào bữa ăn mà thiếu thầy hay thiếu trò. Cho nên, khi chú nhịn, thầy cũng nhịn theo, không buồn ăn nữa, chia xẻ nỗi đau khổ nặng nề của chú. Đến ngày thứ tư, chú mới mở cửa bước ra, phờ phạc, bệnh hoạn. Chú đến quỳ dưới chân thầy và khóc nức nở. Thầy chỉ lấy tay xoa đầu chú.
Hai thầy trò bỗng dưng mà sống một cuộc sống lặng câm, buồn tẻ. Thầy để chú tự do trong những suy tưởng riêng tư chứ không gợi chuyện gì với chú cả. Không khí trong chùa vì vậy mà nặng nề. Cho đến một ngày nọ, sau khi cùng làm lễ sám hối với thầy xong, chú mới cất được gánh nặng trong lòng. Chú thưa với thầy:
"Con đã sai lầm. Con không thể phủ nhận công ơn sanh thành của cha mẹ."
"Tốt, con biết vậy là tốt. Mẹ con vì sinh mạng của con, vì muốn lưu giữ giọt máu và hình bóng của cha con mà nhẫn nhục sống giữa bao lời xỉ vả, bao trận đánh đập của gia đình để chờ ngày sinh ra con. Mẹ con tuy phá gia phong nhưng, theo thầy, bà là người tinh mắt, thông minh, một phụ nữ đức hạnh biết vượt lên cái hình thức bề ngoài để nhìn thấy được giá trị tinh thần nơi cha con. Còn cha con, tuy phạm cấm giới, nhưng biết ăn năn, biết trách nhiệm, đã can đảm bước vào tư dinh của ông ngoại con với ước mong là cứu được hai mẹ con ra ngoài... và cha con đã chết vì dám đứng ra đối đầu với nguy hiểm. Với truyền thống, với tập tục, cả hai đều bị lên án. Nhưng họ đã chết một cách cao cả, ít nhất là đối với sinh mạng của con, phải không? Ở một khía cạnh nào đó, một hoàn cảnh đặc biệt nào đó, con sẽ thấy rằng cái mà người ta gọi là truyền thống, tập tục, gia phong, lễ giáo v.v... thật ra chẳng là gì cả. Rỗng tuếch! Chỉ có những tấm chân tình mới thực sự là có ý nghĩa mà thôi."
"Dạ, con hiểu," chú nói trong giọng xúc động và tri ân thầy đã chỉ giáo.
Chú không dám coi thường cha mẹ mình nữa. Chú thăm mộ cha mẹ hàng ngày, chú rót trà dâng cha mẹ vào mỗi thời kinh. Sư thúc và dì Linh, chú không còn gọi hai tên đó nữa mà gọi bằng cha mẹ. Chú cảm thấy có cái gì ngọt ngào và khiến chú ấm lòng khi gọi lên hai tiếng cha mẹ đó. Tuy nhiên, trên thực tế, chú chỉ vui sướng sống trong tình cảm và vòng tay vô hình vô ảnh của cha mẹ; còn đối với những mặc cảm về thân phận mình, chú vẫn không sao tẩy xóa đi một cách thoải mái được. Đến nỗi khi đi ra đường với thầy, chú có cảm giác như mọi người đang nhìn mình, xầm xì, chỉ trỏ, bàn tán về "người quét chợ". Từ đó, chú hết muốn ra khỏi chùa. Và đôi lúc, chú muốn cải đổi cái tên Thanh Thị mà chú mang. Chú thấy cái tên đó chỉ nhắc nhở chú về thân phận buồn tủi của chú mà thôi.
Vì thương chú, và vì chưa biết cách nào giải tỏa mặc cảm của chú một cách hữu hiệu, thầy cũng chiều lòng chú, không sai chú ra ngoài nhiều và cũng tránh cho chú những dịp phải ra trước đám đông.
Trải qua bốn năm, với tuổi đời thêm lớn, với sự học hỏi giáo lý, với sự tu tập thiền định, và với sự tiếp thọ đại giới để trở thành một vị tỳ kheo, chú dần dần thấy vơi đi những tình cảm lưu luyến xót xa cho chuyện tình thương tâm của cha mẹ. Nhưng cái mặc cảm sợ người khác biết rõ thân phận mình vẫn cứ đeo bám mãi trong lòng chú, không sao gột bỏ. Thầy biết vậy, cố gắng tháo gỡ cái mặc cảm đó cho chú lần nữa bằng một cuộc nói chuyện sau thời tụng kinh khuya:
"Thanh Thị, con đã trở thành một vị đại đức, một vị lãnh đạo tinh thần xứng đáng cho đồ chúng noi gương tu tập. Vậy mà thầy thấy con như vẫn còn ôm ấp cái mặc cảm rằng mình thấp hèn, phải vậy không? Con nói đi, cái gì khiến con nghĩ như thế? Con có biết rằng chỉ một cái phiền não nhỏ nhặt còn sót lại trong tâm cũng đủ ngăn trở con tiến đến giải thoát hay không?"
Thanh Thị không nói không rằng, lặng lẽ bỏ vào phòng. Thầy đến gõ cửa, đứng ngoài cửa nói vọng vào:
"Hãy nhìn kỹ những gì thầy làm. Nếu việc thầy làm khiến con thấy thầy không xứng đáng là thầy của con nữa thì con hãy rời thầy mà đi tìm một minh sư khác để tham vấn. Con không thay đổi thì suốt một đời ở bên thầy cũng chỉ vô ích mà thôi. Làm sao thấy được vòm trời giải thoát chứ!"
Nói rồi thầy bỏ đi. Thanh Thị thấy không khí im quá, biết là thầy không còn đứng ngoài cửa phòng mình. Thanh Thị thắc mắc không hiểu thầy đi đâu và làm gì. Chú bước ra, tìm thầy. Thầy không có trong chùa. Thầy đã đi ra ngoài. Chú bước ra cổng chùa nhìn hai bên thì thấy thầy đang cầm chổi quét ở xa xa. Thầy quét về hướng chợ. Chú bặm môi, rồi cắn răng chạy vào phòng mình, ôm mặt khóc như một đứa trẻ. Thầy đã quét chợ như cha chú đã làm trước đây. Thầy muốn chứng minh cho chú thấy rằng việc quét chợ không có gì xấu mà còn là một hạnh nguyện cao cả chỉ có cha chú mới làm nổi. Nhưng, sự cố gắng của thầy không mang lại kết quả gì. Chú vẫn không sao chấp nhận được hành vi quét chợ cho dù thầy có khoác lên đó bao nhiêu ý nghĩa cao đẹp.
Khi thầy quét chợ về, cất chổi dưới bếp, chú đón lạy thầy ngay ở thềm bếp, năn nỉ:
"Lạy thầy, xin thầy đừng vì con mà phải nhọc đến thân tâm như thế. Xin thầy đừng làm vậy nữa, con không chịu nổi."
Thầy không nói. Ngày mai thầy lại tiếp tục quét chợ. Chú lại lạy lục xin thầy chấm dứt. Thầy kiên quyết:
"Ta chỉ ngưng khi nào con thực sự đốt cháy được cái mặc cảm và ý nghĩ cho rằng quét chợ là việc xấu hay thấp hèn. Con không thay đổi, sẽ không giải thoát, sẽ không tìm thấy an lạc cho dù đang khoác mặc tăng bào. Và nếu con không thay đổi, ta sẽ quét chợ cho đến khi nào ta nhắm mắt mới thôi."
Thầy tiếp tục quét. Thanh Thị vẫn không thay đổi mà còn đau khổ hơn. Đến nỗi, chú bỏ thầy mà đi, chỉ ghi lại vài dòng vắn tắt rằng chú muốn đi tham học ở phương xa.
Chú đi xa thật xa khỏi nơi chốn sinh ra và trưởng thành của mình để xóa đi bao hình ảnh, bao ý nghĩ đau buồn về thân phận. Chú tìm tới nhiều vị thầy để học hỏi, nhưng không vị thầy nào đả thông được những mặc cảm của chú. Một hôm, nghe đến danh tiếng của một vị thiền sư tên là Đại Ngốc, chú tức tốc tìm đến vị này để học đạo vì chú hy vọng rằng ông ta cũng mang một cái tên không được tao nhã, có thể ông ta sẽ có thuốc hay để chữa căn bệnh mặc cảm của chú. Chú nghĩ có lẽ đằng sau cái tên của vị thiền sư này cũng mang một quá khứ nếu không đau xót như chú thì cũng cay chua buồn cười chứ chẳng không.
Thiền sư Đại Ngốc ẩn cư trong một am tranh trên núi cao. Khi lên tới nơi, chú thấy một cái bảng nhỏ treo trên một thân cây: "Đại Ngốc Am". Chú bước vào đảnh lễ thiền sư, hỏi ngay:
"Bạch thầy, làm sao có thể gột bỏ được một danh từ chỉ đem lại cho mình những buồn phiền, khổ đau?"
"Nó chỉ là một tên gọi giả tạo thì cần gì phải gột bỏ!"
"Nhưng... rõ ràng là nó đeo bám và gợi lên bao điều đau xót cho con từ nhiều năm nay."
"Đeo bám chỗ nào? Gợi lên cái gì? Ở đâu? Nói ta nghe!"
Thanh Thị hốt nhiên giác ngộ lẽ sinh diệt huyễn hóa của muôn sự muôn vật, liền sụp lạy thiền sư mà về. Chú đi ngày đêm không dừng nghỉ, những mong về quỳ dưới chân thầy mà sám hối.
*
Từ hai năm rồi, khi Thanh Thị bỏ chùa mà đi, thầy Hải Chấn cứ mang chổi ra quét sân chùa rồi quét luôn tới chợ. Ban đầu thầy quét chỉ để thức tỉnh Thanh Thị, nhưng khi quét, thầy cảm nhận được nhiều ý nghĩa cũng như công dụng tu tập ngay trong chính sự việc quét chợ đó. Thầy tập trung tâm mình vào từng động tác quét, lắng nghe tiếng chổi khua nhẹ trên đất, nhìn ngọn chổi vờn trên cỏ rác... không phút giây nào mà không lắng lòng vào việc quét. Đến độ, thầy với cây chổi chỉ là một. Vì vậy, âm thanh náo loạn của chợ búa không ảnh hưởng, không tổn hại gì đến tự tâm thanh tịnh của thầy. Chính trong loạn động thầy tìm thấy sự tịch lặng. Và thầy có thể an lạc trong chính việc quét chợ tầm thường hàng ngày. Trong khi đó, hình bóng của thầy, việc quét dọn của thầy giữa chợ đời cũng làm cho khu chợ sạch sẽ hơn, bớt huyên náo xô bồ, và người ta cũng bớt cạnh tranh cãi vả nhau. Mỗi lúc thấy thầy quét đến chợ, người ta bỗng dưng giảm chuyện nói năng, có nói thì nói nhỏ giọng xuống. Đức độ của thầy làm thay đổi không khí chợ một cách rõ rệt.
Hôm nay thầy đang quét đến giữa chợ, bỗng có người nắm lấy cây chổi của thầy, nói với giọng cung kính:
"Bạch thầy, thầy hãy về nghỉ ngơi để con quét thay thầy."
Thầy ngưng tay ngước nhìn và thấy Thanh Thị. Khuôn mặt của chú ấy không còn dấu vết của mặc cảm, khổ đau và phiền não. Thầy mỉm cười trao chổi cho chú quét, và thầy bước theo chú, từng bước chậm.
Từ đó, cứ mỗi sáng, người ta thấy hai thầy trò tu sĩ cùng quét đường, quét chợ. Bóng dáng họ xuất hiện nơi đâu, sự an lạc lan tỏa ra đến đó.
Hai năm sau, thầy Hải Chấn viên tịch. Trước khi từ giã cuộc đời, thầy gọi Thanh Thị đến bên thiền sàng, trao cho Thanh Thị cây chổi mà thầy thường dùng để quét chợ hàng ngày:
"Đời thầy mấy mươi năm học đạo không ngờ đến tuổi xế chiều mới tìm thấy được đạo lớn từ cây chổi tầm thường này. Đây là tất cả công phu và ý chỉ của thầy. Con hãy giữ lấy mà đi cho trọn con đường của con."
Nói rồi thầy hóa. Thanh Thị cất cây chổi đó trong phòng riêng của mình như một kỷ vật ghi lại hình ảnh cao đẹp của cha, của mẹ, và nhất là của thầy mình.
Sáng hôm sau, Thanh Thị vẫn cứ quét chợ. Người ở chợ thấy Thanh Thị quét một mình thì biết rằng thầy Hải Chấn đức độ khả kính của họ đã mất.
Thanh Thị quét chợ cho đến tuổi già. Mấy mươi năm không hề xao lãng. Bây giờ Thanh Thị đã trở thành một vị hòa thượng đạo đức thanh cao, nổi tiếng với cây chổi và hạnh nguyện quét chợ. Hải Thanh quét chợ sáu năm. Hải Chấn quét chợ bốn năm. Riêng Thanh Thị thì quét chợ đến sáu mươi năm. Bao khuôn mặt mới có cũ có, thay nhau ngồi bán hoặc đi mua sắm ở khu chợ, không ai mà không biết đến Thanh Thị quét chợ. Hình ảnh Thanh Thị đã trở nên quen thuộc và gắn liền với khu chợ khiến cho mọi người nẩy ý lấy tên vị hòa thượng này để đặt cho khu chợ: chợ Thanh Thị—một cái chợ sạch. Ngày Thanh Thị ngưng quét thì tuổi đã tám mươi tư. Ngày ấy, bầu trời u ám. Ngoài khu chợ, cỏ rác đầy mà chẳng thấy tăm dạng Thanh Thị đâu. Chợt nghe chuông chùa vẳng lại ba hồi buồn bã. Mọi người ở khu chợ bỗng sa lệ vì biết rằng vị hòa thượng già mang tên Thanh Thị sẽ không bao giờ cầm chổi ra quét chợ này nữa. Cả người bán lẫn khách mua đều sụt sùi khóc.
Tiếng Việt Vỡ Lòng:
I và Y
HỒNG ĐỨC
Ngay sau ngày 30/4/75, tất cả thầy trò miền Nam đều ngạc nhiên trước một sự kiện và đa số lại thích thú với sự kiện này: sự kiện thay tất cả những chữ “y” bằng “i” nếu không gây đổi âm. Ví dụ “nước Mĩ, Hoa Kì, mĩ thuật, í kiến” và “li thủy tinh, quí vị, tí toáy”.
Ngày nay có một số người vẫn tưởng rằng hồi đó người ta cho thay tất cả “y” bằng “i” kể cả “Thúy” thành “Thúi”. Xin thưa ngay để mọi người rõ rằng cái lỗi thô thiển đó không thể có dù cho những người làm giáo dục ở bất cứ đâu trong bất kỳ thời nào có dốt đến đâu đi nữa. Nó vô lý. Người ta đã chỉ thay khi nào có thể thay mà thôi. Và người ta có cái lý của người ta.
Sau này kiểu “chơi” như thế đã không còn nữa và thậm chí bị sửa lại bằng một nghị định gì đó của bộ Giáo Dục Và Đào Tạo VN: Bộ này yêu cầu không được viết “qui” mà phải sửa thành “quy” và Hoàng Phê với Vũ Xuân Lương có “quy tắc” sau:[1]
“Nhất loạt viết khuôn vần /-i/ bằng I (trừ tên riêng) trong các âm tiết H-, K-, L-, M-, T- (nhất loạt viết HI, KI, LI, MI, TI, giống như viết BI, CHI, DI, v.v.; không nên viết HY, KY, LY, MY, TY, cũng như không ai viết BI thành BY, CHI thành CHY, v.v.)”
Nhưng uy tín của Hoàng Phê và Vũ Xuân Lương không biết đến đâu mà trên báo chí và sách vở trong nước vẫn thấy “mỹ thuật”, “ký sự”, “lý tưởng”, “hy vọng”... tức là “y” vẫn tùy hứng xuất hiện.[2]
Còn ở các trung tâm Việt Ngữ hải ngoại bây giờ, dựa vào cuốn “Việt Nam Tự Điển” của hội “Khai Trí Tiến Đức” in năm 1931 ở Hà Nội và các hội nghị chính tả của Miền Nam những năm 1950 và 70, người ta lại kêu gọi sử dụng lại cái ý tưởng viết toàn bộ âm [i] bằng “i”.
Và ngày trước, học sinh trung học ở Sài Gòn học chính tả ra sao? Hãy xem quan điểm rất thoáng của nhà văn và nhà giáo Thế Uyên khi ông dạy cho học sinh lớp 6:[4]
“Cách phân biệt I và Y
Hai nguyên âm này đã gây ra rất nhiều tranh luận trong mấy chục năm gần đây. Xét về phương diện chính tả, có ba trường hợp chính cần để ý:
* I và Y thay cho nhau được: quí và quý, vị và vỵ...
* I và Y thay cho nhau được, nhưng thói tục không chấp nhận: iêu và yêu, iên và yên.
* I và Y không thay nhau được vì làm thay đổi cách phát âm cùng nghĩa của chữ: tay (tay chân) và tai (tai mũi), hai (số hai) và hay (truyện hay)...
Trong khi chờ đợi cơ quan thẩm quyền công bố các quy tắc sử dụng hai nguyên âm này, về phương diện chính tả, ta cần nhớ rằng chỉ có thể bỏ qua trường hợp đầu mà thôi. Hai trường hợp sau, nếu dùng lầm, là kể như có lỗi.
Qui tắc hướng dẫn: ít khi I được dùng làm chữ cái đầu tiên của một chữ.”
Đã từng có quan điểm của một số nhà ngữ âm cho rằng “y” đóng vai trò “bán nguyên âm” chứ không phải “nguyên âm thuần túy”. Quan niệm này có được có thể vì những nhà ngữ âm đó thấy ở chữ Anh, Pháp gì đó, mẫu tự “y” thường là một bán âm: như “yes”, “you”, “yeux”, “yaourt”... bèn “nhập khẩu” vào tiếng Việt và kết luận chắc như đinh đóng cột: “y” là bán âm. Rồi họ không cho viết “ly kỳ” nữa vì trong đó không có nguyên âm.
Họ quên mất rằng khi ở cuối từ, “y” tiếng Anh lại là nguyên âm: “wrongly”, “silly”, “fuzzy”, thậm chí trong “Y a-t-il” của tiếng Pháp chẳng hạn, “y” cũng là nguyên âm mang âm [i] rất cứng. Và trong từ “physics/physique” thì “y” của vần chính là bán nguyên âm chắc? Cần biết rằng bán nguyên âm “y” có cách phát âm [j] tương đương âm của chữ “d” của người Miền Nam. Lối phiên âm chữ “you” của Anh thành “iu” hoàn toàn là sản phẩm của những người sống sau bức màn sắt, chưa hề một lần được nghe tiếng nước ngoài. (Nếu dùng chữ Việt để phiên âm, nó phải bắt đầu bằng “d” chứ không phải bằng “i”. Nhưng khốn thay sau bức màn sắt “d”, “gi” và cả “r” lại được phát âm cùng một cách là [z]: Zời ôi, xong zồi, zễ zàng. Thế nên nếu phiên là “du” thì họ đọc thành “zu” là cái sở thú mất.[5])
Ngay trong tiếng Việt, chữ “yêu” phải đọc là “iêu”, phần đầu của tiếng có cách phát âm giống hệt “im” hay “ỉa” (xin lỗi không tìm được ví dụ khác), chứ không hề đọc là [jêu] (là âm của chữ “dêu”) hay [jiêu] (là âm của “diêu”). Suy ra “y” = “i”. Trong chữ “tay” hay “tuy”, “y” vẫn có âm [i], nó là nguyên âm.
Vậy cái lý không được viết vần đơn “y” vì nó là bán nguyên âm đã rõ ràng là phi lý.
Và hình như trong khi tạo dựng bộ ký tự để phiên âm tiếng Việt, tiền nhân đã không hề sử dụng tới khái niệm bán nguyên âm. Thế nên tiếng Việt ngày nay có 12 chữ nguyên âm (trong đó có “y”, dĩ nhiên). Tiền nhân đã chỉ có một qui ước là bên cạnh thuộc tính âm của nó là [i], “y” còn làm nguyên âm phía trước ngắn lại: nguyên âm nào có “y” phía sau thì sẽ ngắn lại, hơi gắt một chút.
Ví dụ: Nếu bảo “ă” là “a ngắn” (hay như giáo sư Lê Ngọc Trụ gọi là “a gắt”), và bảo “w” là “u ngắn” (ngắn đến độ trở thành bán nguyên âm), ta có:
tay = tăi; loay hoay = loăi hoăi; quay = quăi
túy lúy = twí lwí
Trường hợp “ây”: “â” chính là “ơ ngắn”. Lẽ ra phải viết “ơy” thì tiền nhân lại viết “ây”. Thành ra “cây” đúng ra phải viết là “cơy” hoặc “câi”.
Cũng có thể giải thích việc “y” đi sau “â” nhưng không làm “â” ngắn lại là vì “â” vốn ngắn rồi, “y” không còn tác dụng nữa. Vậy “ây” = “âi”: “quấy” = “quấi” (mới nhìn thì thấy hơi chướng mắt), khác với “quới”.
Đến đây người viết chợt nhớ tới một ý kiến phản bác nhận định của học giả An Chi “ă” và “â” là “a ngắn” và “ơ ngắn”. Ý phản bác đó hỏi rằng nếu đã viết được là “tăi” thì tại sao lại còn đẻ ra “tay”... Mới đọc kẻ hèn này cũng hơi ngỡ ngàng, ừ nhỉ... Nhưng đây lại là một kiểu nghĩ “lấy thúng úp voi”, hệ thống kí hiệu trong lãnh vực nào cũng có trường hợp nhiều ký hiệu dùng để chỉ cùng một hiện tượng. Lấy ví dụ hệ thống ký âm âm nhạc, dấu sol thăng và dấu la giáng là 2 dấu để chỉ cùng một cao độ trên cây đàn piano. Nếu không hiểu gì về nhạc pháp thì bảo những người tạo ra ký âm pháp là điên hay dốt gì đó. Có biết đâu người ta ghi lúc này lúc khác là để người đọc dễ nhận ra cung nhạc khi diễn tấu. Trong lãnh vực chính tả Việt Ngữ, có thể trước đây tiền nhân đã có ý đồ gì đó nhưng sau không khai triển nên bỏ qua[6], chỉ dùng một kiểu phiên là đủ. Như chữ “quả” có thể viết là “cỏa”, chữ “cười” viết là “kười”, hoặc như “phương pháp” viết là “fương fáp” vẫn được nhưng nay chúng ta chỉ dùng có một kiểu đó thôi.
Trở lại với qui ước “y làm nguyên âm phía trước ngắn lại”: điều này dẫn tới 2 hệ lụy:
(1) Chỉ viết “y” nếu muốn làm nguyên âm trước nó ngắn lại. Suy ra không dùng “y” khi không cần thiết. Và kết quả là: iêu nhau, iến tiệc, iểu điệu, chim iểng, iết hầu, iêng hùng, iếm thế, iểm trợ, Iên Thế (phải phiên như vậy vì chữ Quốc Ngữ có sau tên này), đê Iên Phụ, iên ngựa, i học, nước Í, í kiến, ỉ lại, Ỉ Thiên Kiếm, thế ỉ dốc, kí sự, li kì, quí vị (qu+í chứ không phải q+úi)...
(2) Muốn làm nguyên âm trước âm [i] ngắn lại thì viết âm [i] đó bằng “y”. Suy ra khi “y” đứng một mình thì nó không làm cái gì ngắn lại cả, và vẫn là âm [i]. Và kết quả là tùy hứng, như hiện nay.
Ngày nay có vẻ người ta thích khuynh hướng thứ hai hơn. Tại sao lại như vậy? Xin thưa, rõ ràng dùng “y” tự do thì họ có thể nói được nhiều điều qua qui ước chính tả riêng, rồi dần thành trường phái, rồi có thể trở thành qui ước chung, hợp với mong muốn của con người là mọi sự trở nên chính xác hơn, đẹp hơn và tiện lợi hơn. Viết “yêu” là vì đầu từ có một chữ dài thì trông vừa mắt hơn, viết “y phục” để bảo rằng đây là từ Hán Việt, khác với “i hệt” là từ thuần Việt, “ỉ ôi” khác với “ỷ lại”, “một bút ký” khác với “một kí (lô) bút”, “tỷ lệ” khác “tỉ đồng”, “lý do” khác “lí ngựa ô” và “lí lắc”. Và họ viết “quý” vì “y” hợp qui tắc Hán Việt của họ hơn.
Nhưng họ vẫn viết “bỉ nhân”, “bỉ ổi” “nước Bỉ” chứ không viết “bỷ”; viết “dĩ nhiên”, “Dĩ An”, chứ không viết “Dỹ”, tức là lại áp dụng luật thuần “i” sau các phụ âm “b”, “ch”, “d”, “đ”, “gh”, “kh”, “n”, “nh”, “ph”, “r”, “th”, “tr”, “x”.
Xét đến đây thì phải nói Vũ Xuân Lương dù gì cũng đã đúng trong qui tắc về “i” và “y” đơn âm, xin trích:
“Khi “I” đứng một mình làm thành một từ (hoặc một âm tiết), thì: nếu là từ Hán-Việt, nên viết “Y”, chắng hạn viết Y KHOA, Ỷ THẾ, Ý KIẾN, ..., không viết I KHOA... Í KIẾN...; nếu là từ thuần Việt, nên viết “I”, chẳng hạn viết Ỉ EO, Í ỚI..., không viêt Ỷ EO, Ý ỚI...”
Thế nhưng khi cho viết “ý kiến”, “y khoa”, chắc chắn VXL không đặt vấn đề “bán nguyên âm” đối với “y”. Mà ở đây rõ ràng là để phân biệt một cái gì đó khác hơn là âm. Cũng trong cái ý muốn phân biệt này mà người ta viết “ngựa hí” và “hý lộng quỷ thần” vân vân. Chỉ tiếc là sao Vũ Xuân Lương lại không thấy cái khuynh hướng muốn phân biệt Hán Việt với Việt thuần khi người ta viết “kĩ” hay “kỹ”, “mĩ” hay “mỹ”... Đã mở lối được cho từ một chữ sao không mở luôn cho từ 2 chữ để trả sự phong phú của tiếng Việt lại như cũ.
Người ta không viết “thy sỹ” hay “phy đạo” là vì từ xưa đến giờ tự điển viết khác, nên người ta không dám đó thôi. Những gì còn để ngỏ thì người ta tận dụng theo lí lẽ riêng của người ta.
Đó là các thói quen và qui tắc chính tả cũ mới.
Nhận xét về cách dùng “i” và “y” xưa nay vẫn gặp:
- Trường hợp không có phụ âm đầu: Đúng là “y” dùng cho từ Hán Việt: y phục, y khoa, quy y, ý kiến, ỷ lại, Ý Đại Lợi, Y Nhã... Còn “i” dùng cho từ không phải Hán Việt: I-nha-xiô, I-nê, i hệt, sức ì, ì xèo, í ẹ, í ới, lợn ỉ, ỉ ôi, ầm ĩ, đi ị...
- Với những phụ âm đầu là “b, ch, d, đ, g, gh, kh, n, ngh, nh, p, ph, r, th, tr, x,” thì không thấy ai dùng “y” dù cho có là từ Hán Việt hay không. Các từ lấy làm ví dụ dưới đây chỉ là tiêu biểu cho mỗi loại nghĩa của chúng.
B: hòn bi, bi ai, bi-da, bi ký, chì bì, phân bì, bì heo, li bì, bí mật, bí lối, quả bí, bỉ ổi, bỉ nhân, nước Bỉ, bĩ cực thái lai, cái bị, bị thương, quai bị, thủ bị, chuẩn bị.
Ch: chi tiết, cái chi, chi tiêu, nhân chi sơ, địa chi, chì, chì (giỏi), chì bì, chí khí, con chí, chí tôn, sợi chỉ, đình chỉ, chỉ một, chỉ trỏ, chiếu chỉ, chăm chỉ, chị em.
D: di chuyển, du di, sa-di, di chúc, dì cháu, dủ dỉ dù dì, dí dỏm, dú dí, dủ dỉ dù dì, dĩ lỡ, dĩ nhiên, dạn dĩ, Dĩ An, dị thường, giản dị.
Đ: đi đứng, đì (đè), đù đì, đì đùng, đĩ thõa.
G: chim gi đá, cái gì, gỉ (rỉ) sét.
Gh: ghi chú, ghi-đông, Tân Ghi-nê, ghì chặt, ghị lại.
Kh: khi dễ, khi nào, cười khì, không khí, vũ khí, khí tiết, con khỉ, Cửu trùng án kiếm khỉ đương tịch, dụ khị.
N: cái ni, Ni-tơ, Ni-giê-ri-a, ni cô, ni tấc, mũ ni, nằn nì, nì (nè), nỉ, năn nỉ, nị, cà-ri-nị, tí nị.
Ngh: nghi ngờ, dung nghi, uy nghi, đền nghì, nghỉ ngơi, nghỉ (hắn), nghĩ ngợi, nghị lực.
Nh: nhi đồng, Ô Mã Nhi, kính nhi viễn chi, nhì, nhì nhằng, lí nhí, nhí nhảnh, ừ nhỉ, tâm nhĩ, nhị, Nhị Hà, đàn nhị, tế nhị, nước mắm nhĩ.
P: số pi, Pi-ta-go, tả-pí-lù.
Ph: phi lý, phi cơ, phương phi, hoàng phi, béo phì, phì phèo, Hoàng Su Phì, phí phạm, phí tổn, thổ phỉ, phỉ báng, phỉ phui, béo phị.
R: như ri, gà ri, Rù Rì, rì rào, rì rầm, Phan Rí, rò rỉ, rỉ tai, hoen rỉ, rỉ rả, rầu rĩ, rầm rĩ, rị mọ, bí rị, rị (giữ = ghị).
Th: thi ca, thi cử, thi hài, thi hành, thì, thì giờ, thì thầm, thì thọt, thì thào, bố thí, thí sinh, thí mạng, thủ thỉ, thỉ (mũi tên), thị lực, thị oai, thị vệ.
Tr: tri thức, tri phủ, Na-tri, tu trì, trì kéo, trì trệ, (ao), trí thức, trí trá, bệnh trĩ, chim trĩ, trị, thịnh trị.
X: xi mạ, ba xi đế, Phan-xi-cô, công-xi heo, xi em bé, trét xi, xù xì, xì hơi, xầm xì, lì xì, xí được, ba xí ba tú, nhà xí, xí xọn, xấu xí, xí-mại, dương xỉ, xỉ (răng), xỉ quặng, xị rượu, xá-xị, bí xị, (nhưng ô-xy, nên sửa lại là ô-xi, hay giữ nguyên oxy)
Nhưng khi bắt đầu bằng “s, v, k, l, h, m, t, qu” thì những từ Hán Việt thường được viết với “y” và vẫn có một số từ lấn cấn:
S: ca sỹ, sỹ diện, hạ sỹ, sỹ phu, Sỹ Nhiếp:cây si, si mê, đen sì, sỉ nhục, sĩ diện, ca sĩ, sĩ quan, sĩ phu, Sĩ Nhiếp
V: tường vy, vỹ nhân, vỹ tuyến, long vỹ; vi vu, ti-vi, vi cá, bởi vì, trị vì, làm vì, yêu vì, ví von, cái ví, cái vỉ, van vỉ, vĩ tuyến, vĩ nhân, vị tha, vị tất, vị giác, thiên vị, quý vị, vi lượng, hành vi, vô vi, tường vi, chu vi
K: phổ ky, cầm kỳ, quốc kỳ, ký danh, ký sinh, kỷ niệm, ích kỷ, kỷ hà, kỷ luật, thế kỷ, Kỷ Hiểu Lam, Đắc Kỷ, kỹ sư, kỹ nữ, kỵ mã, đố kỵ; Ki-tô, cái ki, ki bo, cu ki, tàu hũ ki, cầu Băng Ki, kì cục, kì ghét, cực kì, kì đà, kí lô, kí đầu, kí-ninh, kỉ trà, kĩ lưỡng, kị giỗ, kiêng kị,
L: biệt ly, hải ly, Hồ Quý Ly, lý thuyết, hải lý, lý tưởng, huyện lỵ; thác Cam Li, I-ta-li, cái li, li tấc, lì lợm, lì xì, lí lẽ, lí lắc, lí con sáo, liên lỉ, kiết lị, xá lị
H: Hy Mã Lạp Sơn, hy vọng, hy hữu, hy tế, hý viện, hoan hỷ, Tự quân chi xuất hỹ ; Hi-ma-lay-a, hi-drô, hi hi, hì hì, ngựa hí, hỉ mũi, hỉ hả, hỉ (hả), hậu hĩ, xảo ngôn lệnh sắc thiển hĩ nhân
M: mỹ thuật, nga my,; nga mi, mi (mày), mi mắt, mi (hôn), lễ mi-sa, mì sợi, bánh mì, khoai mì, nhu mì, mí mắt, bật mí, tỉ mỉ, củ mỉ cù mì, mĩ miều, mĩ mãn, ủy mị, lừa mị
T: ty học chánh, rượu ty, ty thể, nhị tỳ, tỳ kheo, đạo tỳ, tỳ bà, tuổi Tý, tỷ lệ, tỷ tỷ, tỵ nạn, tuổi Tỵ, tỵ khổng (lỗ mũi); ti tiện, cái tu ti, liền tù tì, tì (đồng), tí tẹo, cái tí, tò te tú tí, giả tỉ, một tỉ, tỉ như, tĩ (đít), tắc tị
Qu: quy tụ, kim quy, quy tắc, hải quỳ, quỳ hoa bảo điển, quý nhân, quỷ thần, thủ quỹ, quỹ đạo, quỵ lụy; bích qui, ắc-qui, con sâu qui (họ cuốn chiếu), quì gối, quí báu, quí (3 tháng), quỉ thần, quĩ đen, ngã quị, quị lụy
Khi VXL nói “nhất loạt viết HI, KI, LI, MI, TI...”, quả nhiên là vì 5 phụ âm đầu này có vấn đề về “y” và “i”. Nhìn lại bảng tổng hợp trên, trường hợp “sỹ” và “vy”, “vỹ” có vẻ như không thống nhất dùng “y” hay “i” khi là Hán Việt. Có vẻ như các nhà in và nhà xuất bản ngày trước đã sắp chữ sai trong 2 trường hợp này. Còn lại đúng 5 trường hợp VXL yêu cầu viết “i” thay “y”. Thực ra là 6, phải kể cả “qu” vào nữa: Đã có những phân biệt khá rõ ràng (mặc dù vẫn có vài từ dùng lẫn lộn) trong cách dùng “y” với 6 phụ âm đầu “K, L, H, M T và Qu”: Đó là dùng “y” khi viết từ Hán Việt, dùng “i” cho các từ không phải “Hán Việt”.
Kể từ ngày ra cuốn tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức rồi các hội nghị chính tả ở Miền Nam nêu qui ước thống nhất thành “i” đến nay vẫn tồn tại những chữ “y” trong trường hợp riêng khá nhất quán (Hán Việt) chứng tỏ những người làm văn hóa đã và đang ra sức làm giàu thêm cho chữ Việt và vẫn đi theo cái khuynh hướng ban đầu của tiền nhân khi họ tạo ra bộ chữ Việt, mà hồi đó là sự phân biệt giữa “quốc” cho từ gốc Hán (quốc gia, quốc thể, quốc tế, liên hiệp quốc...), với “cuốc” cho các từ mang nghĩa khác (cuốc đất, chim cuốc, cuốc bộ...) của tiền nhân.
Còn việc tránh dùng “y” khi mang dấu nặng vì dấu nặng này bị che khuất cũng là một lý do khiến người ta chọn “i”. Nhưng lập luận như thế sẽ khiến tất cả thành “i” hết. Vì không lẽ viết “huyện lị” mà lại viết “phi lý”, phải là “phi lí” mới nhất quán. Kết quả là không cần phân biệt “y” đơn Hán Việt nữa. Cứ viết “i phục”, “í kiến”... như trên đã thấy. Nếu muốn phân biệt Hán với Việt thì giữ “y” còn nếu không thì trả tất cả về “i”.
Trái lại, có ý kiến cho rằng phải viết tất cả các từ đơn âm [i] bằng “y” vì như thế mới đẹp và rõ ràng; chữ “i” chỉ có một nét, lại nhỏ bé, dễ gây ngộ nhận với một ký hiệu gì đó khác. Và lúc này ta có: y học, ỷ lại, ý ẹ, đi ỵ, ỳ ra đấy... Điều này cũng đưa tới kết quả bỏ hẳn phân biệt Hán và Việt.
Bất kỳ ý nào trong 2 ý trên và kể cả ý của Vũ Xuân Lương (trong đề nghị “i” đi với phụ âm) cũng đưa đến hệ quả là cái nguồn gốc Hán của tiếng Việt dần dần được xóa khỏi những sản phẩm văn hóa của người Việt. Điều này xấu hay tốt chưa rõ (có lẽ phải tham khảo ý kiến những người làm công tác bảo tồn bảo tàng văn hóa) nhưng rõ ràng là công khó của cả một tầng lớp sĩ phu (hay sỹ phu) trong cả thế kỷ bỗng chốc ra tro.
Các trường Việt Ngữ ở hải ngoại đã chọn con đường dễ đi cho trẻ con học tiếng Việt (và dễ dạy cho thầy cô của chúng vốn cũng yếu về chính tả và ngữ nghĩa), nhưng lại không tính chuyện đường dài. Sau này khi các em lớn lên và đọc thấy “lý tưởng”, “kỹ sư”, “mỹ thuật” trong các tác phẩm văn học thay vì “lí tưởng”, “kĩ sư”, “mĩ thuật” thì cái cảm giác bất ngờ nó cũng giống như cảm giác của kẻ hèn này sau năm 1975 gặp trường hợp ngược lại. Hỏi có hiểu không thì đương nhiên là hiểu chứ vì ai mà chả biết “i” và “y” cùng âm [i]. Nhưng mà rồi cũng sẽ giống như kẻ hèn này bây giờ, đến lúc đó các em sẽ không chấp nhận và bảo rằng viết “y” là sai. Các em sẽ bảo nó sai về mặt nào thì không rõ, nhưng các em sẽ tìm ra nhiều lý do để bảo rằng nó sai: thẩm mỹ, ngữ âm gì đó chẳng hạn, hay vì trong từ điển không có, vân vân... Mà các em sẽ không biết rằng những người dùng tiếng Việt làm tiếng Mẹ Đẻ có cách phát triển di sản của cha ông một cách rất sáng tạo và tài tình. Đến khi biết ra thì các em sẽ mang nặng mặc cảm tự ti là mình đã đứng ra khỏi dòng văn hóa Việt, và mặc lấy cái cảm giác rằng mình đã trở thành một đứa con ghẻ của Mẹ Việt Nam. Hãy nghĩ lại và làm lại vì chúng ta là người đi trước, và vẫn còn kịp để mà sửa. Mà sửa cũng dễ: chép lại đoạn trích sách “Quốc Văn Lớp 6” của Thế Uyên trên đây, còn các thầy cô giáo thì nên trau giồi thêm vốn Hán Việt của mình.
Việc sửa cho tất cả âm [i] phải được viết bằng “i” nếu được áp dụng sẽ trở nên một tiền lệ tạo thói quen sửa chữ lại cho đúng âm, mặc kệ giá trị văn hóa hay lịch sử của chữ, tiền lệ này sẽ kéo theo việc phải viết tất cả “gi” thành “d” vì 2 âm này có cùng cách phát âm (là [z] ở miền Bắc và [j] ở miền Nam). Rồi tương lai các chữ “r” cũng sẽ sửa thành “d” ở miền Bắc và thành “g” ở miền Nam...; Rồi nguyên âm kép “ay” sẽ biến thành “ây” hết... nhiều lắm lắm!
Lại nữa nếu cứ nhất định phải sửa quy tắc chính tả thì hãy bảo người Anh sửa chữ “receive” hay “believe” lại thành “receeve” và “beleeve” trước đã. Hay bảo họ bỏ chữ “p” trong “empty” đi vì nó đâu có mang âm gì. Còn nếu muốn giản tiện cho chữ Việt thì trước tiên cũng hãy bảo người Anh bỏ bớt chữ “masculine” đi, cứ thay bằng chữ “male” chứ để làm gì 2 chữ khác nhau mang cùng nghĩa như vậy. Rõ ràng kiểu cải cách đang bàn chỉ là kiểu “phú quý thụt lùi”.
Nói đi thì phải nói lại: thực ra ở Mỹ, “colour, labour...” đã bị sửa thành “color, labor” và “centre, litre” thành “center, liter” làm cho chữ Anh và chữ Mỹ đã khác nhau chút đỉnh. Nhưng nếu muốn bắt chước Mỹ thì hãy xem kỹ lại hoàn cảnh và quá trình cải cách của Noah Webster hồi đầu thế kỷ XIX trước đã.
Để kết thúc những lan man về chuyện i ngắn i dài này, nhân sau khi xem qua trang diễn đàn của các em học sinh chuyên Vật Lý VN[7] bàn chuyện “vật lý” và “vật lí”, kẻ hèn này xin được nhắc lại là chính tả là quy ước xã hội, nó là một yếu tố đóng góp vào những đặc điểm văn hóa của dân tộc, và nó thuộc về bộ môn xã hội chứ không thuộc về khoa học tự nhiên như bộ môn ngữ âm hay âm vị học. Các quy ước chính tả chỉ được hình thành bởi người sử dụng chữ viết xuyên suốt theo bề dầy lịch sử của một dân tộc. Việc võ đoán áp đặt chính tả chỉ nói lên ý muốn “mặc đồng phục” cho mọi thứ của những người duy ý chí tôn thờ chủ nghĩa giáo điều, mà lịch sử đã chứng tỏ họ luôn làm sụp đổ các nền văn minh của nhân loại.
Hồng Đức
Tái bút:
Theo đuôi các ý tưởng viết lại chữ Việt xuất hiện rầm rộ gần đây (chữ Việt đa âm tiết, chữ Việt không dấu thanh..., và kể cả cái ý tưởng viết “ph” thành “f”, “c” thành “k” và “d” thành “z” đã có từ những năm 1920), kẻ hèn này cũng mày mò sáng chế và khẳng định rằng có thể bỏ hẳn “q” và thay hẳn “y” bằng “i” trong mọi trường hợp mà không thêm gì vào hệ thống chữ Việt.
Như đã biết (xem các ký hiệu phiên âm quốc tế), thêm dấu trăng vào đầu chữ “a” sẽ làm âm [a] của nó ngắn lại. Nay khi cần làm nguyên âm nào ngắn lại ta cứ việc thêm dấu trăng lên đầu nó.
Trong tiếng Việt, trừ “y” đơn ra thì chỉ có 10 vần có “y”, xin được cải cách như sau:
cũ mới thí dụ
ay ăi mắi băi (máy bay)
ây âi lẩi bẩi (lẩy bẩy)
uy ŭi cŭị lŭị, cŭính cŭít (quỵ lụy, quýnh quýt)
yê iê iên ổn (yên ổn)
oay oăi loăi hoăi (loay hoay)
uây uâi tầi huầi (tầy huầy)
uyu ŭiu khúc khŭỉu (khúc khuỷu)
uya ŭia đêm khŭia (đêm khuya)
uyê ŭiê hŭiên thŭiên (huyên thuyên)
yêu iêu iểu điệu (yểu điệu)
Và tất cả “q” sẽ được viết là “c”, như: cuốc gia, cŭiên góp, cŭên sót, cóa đáng, vun cuén, cỏa cŭiết, cŭỉ cŭiệt, cuen thuộc...
Còn nếu ai không thích chữ “ŭ” thì có thể thay nó bằng chữ “w” cũng là một con chữ hiện đại đấy. Và sẽ có: kwả kwiết, kwái, kwanh kwẩn, kwá kwắt, twiệt diệu, hwiền bí, wi kwiền, Bà Kwẹo...
Ôi! Cuốc gia tŭiệt vời, cuê hương iêu dấu, sau những chặng đường khúc khŭỉu của lịch sử, sau những loăi hoăi trong đêm hôm khŭia khoắt tưởng chừng tŭiệt vọng, ngằi năi dân ta đã có được một thứ chữ ŭiên bác, không tầi huầi cuê mùa như trước.
Dec 01 2007
[2] Xin đọc bài “Suy nghĩ về chính tả, đọc “Quy tắc đặt dấu thanh trong tiếng Việt” của Vũ Xuân Lương” của Hồng Đức
[3] Thế Uyên tên thật là Nguyễn Kim Dũng (sinh năm 1937), giáo sư, nhà văn, dịch giả, chủ trương Nhà Xuất Bản Thái Độ, Saigon. Sau 1975 đi tù cải tạo, hiện sống tại Seattle, Hoa Kỳ.
[4] trích
“Quốc Văn Lớp 6” của Thế Uyên do Thái Độ xuất bản tại Sài Gòn năm 1972, trang 18.
[5] Về cái tật này, có một câu nhại giọng khá nổi tiếng: “Hao a zờ zú”!
[6] có thể cái ý đồ đó chỉ đơn giản là muốn giảm bớt dấu trên đầu chữ cho nó sáng sủa: “mắi” nhiều dấu hơn “máy”. Nhưng “ớy” và “ấy” thì cũng nhiều dấu như nhau, sao lại chọn “ấy” mà không là “ớy”? Câu hỏi này còn bỏ ngỏ.
SỰ CHỌN LỰA (truyện dịch)
Jul 2, '07
SỰ CHỌN LỰA
Jordan D., Patten, ME
11 giờ 47 phút tối
Một mình trong phòng, tôi thấy căng thẳng. Những câu hỏi của giáo viên và gia đình tôi làm đầu tôi nhộn nhịp : kế hoạch của em là gì? Em đã chọn một trường đại học rồi chứ? Tại sao em không quan tâm? Tôi cố gắng trả lời, nhưng không thể. Tại sao em chẳng nói gì hết vậy? Thôi nào Luke, em phải có ý tưởng nào đấy về nơi em muốn đi chứ. Những thành viên khác trong lớp đã nộp đơn vào đại học rồi. Em không thể phung phí nhiều thời gian hơn nữa. Em phải làm gì đó thôi.
12 giờ 1 phút sáng. Bóng tối che phủ thế giới. Tôi chưa từng bao giờ bị lúng túng trước đây. Mỗi ngày các bạn tôi và gia đình tôi đều hỏi tôi về tương lai. Tôi thật sự không biết nói gì cho họ. Tôi có biết họ muốn nghe gì. Họ muốn tôi nói rằng tôi rất hào hứng về việc học đại học và cuộc sống ở đó. Nói cách khác đi là muốn tôi nói dối.
Thậm chí nếu tôi học đại học, rồi sao đây? Tôi sẽ bị mắc vào một công việc chán ngắt trong năm mươi năm tới sao? Tôi sẽ bị buộc phải dùng những ngày của tôi lùng kiếm tiền sao? Cuộc đời sẽ đưa tôi trôi đi như một ngôi sao phải không? Nhiều nguồn dư luận nói như vậy đó.
Sự thật là, tôi chán nghe về chiến tranh và bệnh tật. Tôi ngán xem người ta chịu đựng khi họ mù quáng theo những ham muốn thiếu suy nghĩ của mình trong những vòng lẩn quẩn. Sức chịu đựng của tôi tan vỡ. Tôi không thể dung thứ cho sự suy đồi của chủ nghĩa vật chất của chúng ta nữa. Sự thừa thãi của các hoạt động của chúng ta, truyền hình làm tê liệt tâm trí, cách sống xoay theo chu kỳ của chúng ta – điều đó đang giết chết tôi.
Đây là những cảm xúc mà tôi không bao giờ chia sẻ. Mọi người sẽ nghĩ tôi điên nếu tôi nói cho họ. Ai biết nhỉ, có lẽ là tôi điên. Mọi quy luật đều có ngoại lệ của nó; mọi hệ thống đều có nhược điểm của nó.
Bên ngoài, bầu trời tối đen không trăng vẫn thường hay thấy. Trong một khoảnh khắc, đầu tôi bình yên. Rồi từ sâu thẳm trong tư duy của mình, câu hỏi chồi lên và chiếm quyền kiểm soát. Đó là câu hỏi ám ảnh tất cả chúng tôi. Tôi có thể cảm thấy mình chịu nhượng bộ nó. Tất cả những gì tôi có thể làm là tìm một câu trả lời.
1 giờ 23 phút sáng. Đau đầu, nhức mắt. Tôi rời khỏi phòng xuống bếp. Tôi nhìm chằm chằm cách thẫn thờ vào cái tủ lạnh. Rồi không hiểu từ đâu, một điều gì đó bốc cháy bên trong tôi. Khi tôi quay lại, có một cô gái tóc đen, cao đang đứng đó. Đôi mắt nâu của cô lấp lánh như kim cương. Nụ cười cô sáng loáng và ấm áp.
“Xin chào” , tôi thì thầm.
Chúng tôi đang đứng trên mái ngói râm mát, lạc vào nhau. Sau đó, cô ấy hỏi “Cậu có muốn đi đến chỗ nào đó vui không?”
Tôi gật đầu. Mái tóc mềm mại của cô gái quét lên má tôi khi cô ấy đi qua tôi. Cô mở cánh cửa lò và biến mất xuống một cầu thang bằng gỗ. Cô gái chờ ở một vài bậc xuống. “Cậu đừng sợ,” cô ấy nói. “Hãy theo mình.”
Tôi do dự, cố phân tích tình huống này. Bạn đang làm gì vậy? Cô gái đó là ai? Bạn không ngủ mơ, bạn đang bị ảo giác. Tôi cho những nhận xét này là sự suy tưởng thứ yếu, rồi bò vào trong cái lò và xuống cầu thang theo hướng một thực tiễn mới mẻ.
Chúng tôi lao xuống hàng trăm bậc. “Chúng ta gần đến đó rồi,” cô ấy gọi.
“Tên cậu là gì?” tôi hỏi.
“Tên mình không là gì hết”
“Phải, mình đoán cậu đúng đó.”
Ở đáy các bậc thang có một lối đi bằng vàng mà chúng tôi đi qua.
“Chúng ta đang đi đâu bây giờ đây?”
Cô gái tóc đen nhìn qua vai mình và mỉm cười. “Đến một nơi thật đẹp”
Chúng tôi đang ở trong một thung lũng xanh lung linh tựa vào những dãy núi khổng lồ. Bầu trời xanh ngắt. Những đám mây dường như xoáy tròn quanh bạn như sự khôn ngoan theo sau kiến thức. Lần đầu tiên trong đời tôi, tôi cảm thấy thật trong lành.
Chúng tôi đi qua thung lũng trong nhiều giờ, nhiều ngày. Sau đó chúng tôi đến một đại dương vô tận. Cô gái ngồi trên cát trắng và tôi ngồi với cô ấy. Đôi chân thon thả của cô phản chiếu ánh sáng mặt trời. Ở với cô khiến tôi quên đi những phiền muộn của mình trong thế giới khác. Tôi cảm thấy hoàn toàn bình yên.
Cô gái chỗi dậy. Đôi mắt cô vẫy gọi tôi hướng lên phía trước. Chúng tôi lặn vào dòng nước trong suốt và bơi xuống dưới. Khi phổi tôi sắp sửa nổ tung thì tôi bơi sâu hơn. Không thể tin nổi là ngực tôi mở bung ra và tôi có thể thở được.
Tôi bơi qua những tảng đá và hang động khi hàng trăm con cá lao vút quanh tôi. Tôi nhận thấy cô gái ở mức thấp nhất của đại dương. Cô nhìn xuống một khu vựa cát xoáy cho đến khi có một cái lỗ lớn đủ để bơi xuyên qua.
Chúng tôi rơi xuống hàng dặm. Tôi đâm bổ vào sàn lát gạch. Tôi lắng nghe thấy chân mình gãy và nhìn xem máu rỉ xuống từ trán. Cô gái đứng sát ngay bên.
“Mình chết mất.”
“Không, cậu vẫn sống.” Cô ấy nâng tôi dậy và môi chúng tôi va vào nhau. Việc tiếp xúc và đụng chạm của cô ấy chữa lành thân thể tôi. Tôi ôm cô ấy thật chặt, biết điều gì sẽ đến rồi. Cô ấy đẩy ra. “Mình xin lỗi, nhưng mình phải rời cậu. Khi mình đi, một cánh cửa xanh sẽ xuất hiện, cậu hãy bước vào cánh cửa đó.
“Nhưng, đợi đã, mình – ”
“Xin cậu, đừng nói gì hết. Hãy nhớ đấy.”
Khi cô gái tóc đen đi rồi, một cánh cửa màu xanh xuất hiện. Tôi mở nó. Một căn phòng tối om với một cái ghế đẩu ở chính giữa hiện ra. Tôi đi đến chiếc ghế và ngồi. Canh phòng sáng lên màu vàng nhẹ. Một cái bục trên sân khấu ở trước mặt tôi. Tôi nghe cánh cửa màu xanh mở ra và đóng lại. Một người đàn ông có gương mặt nghiêm khắc mặc áo choàng nâu đứng vào sau cái bục. Những lọn tóc trắng xoã thẳng xuống từ phía sau đầu của ông ấy. Đôi mắt ông ấy, tựa đôi mắt của cô gái, đang đón chào.
“Xin chào,” ông ấy nói, “Tôi là Arthur Schopenhauer.”
Sự choáng váng và mối hoài nghi xâm chiếm tôi. Nhà triết học vĩ đại nhất của thế kỷ mười chín còn sống và đang đối thoại với tôi sao?
“Tối nay tôi sẽ cho cậu một bài thuyết trình riêng tư. Người bạn lo lắng của tôi ơi. Chúng ta hãy bắt đầu với quá khứ nhé. Cụ thể hơn nữa là chúng ta hãy bắt đầu với quá khứ của cậu.” Schopenhauer hắng giọng. “Tuổi trẻ, trong tất cả sự vô tội đáng hãnh diện của nó, là con đường hoàn hảo duy nhất đến hạnh phúc. Do đó, sự bất hạnh của cậu có thể một phần nào đấy được giải thích do một sự mất mát lúc đầu của tuổi trẻ. Ở tuổi mười một, tâm trí của cậu đã lâm vào những vực thẳm điều kiện của con người rồi. Khoảng mười ba tuổi, những câu hỏi của mục đích tối cùng của cuộc sống lan tràn trong tư tưởng của cậu. Những năm tiếp theo đưa cậu đến bi kịch. Cậu chứng kiến cái chết và nhìn xem gia đình cậu ly thân. Cậu phát hiện ra những cái bẫy của chủ nghĩa vật chất. Cậu nhận ra những kẽ hở và những chương trình nghị sự ẩn giấu của chính phủ, hội đoàn và tôn giáo. Rồi trong một sự xuất thần đầy u uất, sự thật của cái thế giới này nảy nở bên trong cậu.
“Đời là khổ. Khắp nơi cậu quay lại đều có hàng loạt đau khổ. Trong nỗ lực chiến đấu với khổ đau này, cậu đã chôn cất chính mình trong các quyển sách. Tuy nhiên, sự khốn khổ hồi sinh, miễn cưỡng chịu thua những loạt phủ nhận.”
Schopenhauer ngừng lại. Tiếng vang của những lời nói của ông ta còn vang dội khắp phòng. Ông ấy tiếp, “ Bây giờ, Luke, chúng ta đến hiện tại. Đây là giờ đen tối nhất của cậu. Sự thật của cuộc sống đã làm cậu què quặt. Ý tưởng tuân thủ đã làm cậu ghê tởm. Lúc non nớt, cậu đã hấp thụ những nền triết lý sâu sắc nhất. Đây là một gánh nặng to lớn, đặc biệt là ở tuổi mười bảy. Tôi có thể thấy cậu đã đến điểm gãy rồi. Tôi cũng có thể thấy rằng trong nỗi tuyệt vọng của mình cậu đã đề ra một giải pháp. Trái ngược lại với những gì cậu có lẽ nghĩ đến, giải pháp của cậu hoàn toàn không chính xác. Tự tử sẽ chẳng giải quyết được gì hết. Cậu không nên đầu độc chính mình bằng tư tưởng hèn nhát này. Giết chính mình chỉ có thể thêm đau khổ mà thôi.”
Tôi lúng túng. Làm sao mà ông ấy có thể biết nhỉ?
“Ngoài tự tử ra, vẫn có một khả năng lựa chọn hơn nữa. Cậu cần đào sâu hơn. Cậu phải tiếp tục tìm kiếm kiến thức và chân lý. Hãy ôm lấy dịp may của mình mà sống. Hãy vượt xa chủ nghĩa hư vô và chào đón điều chưa biết đến. Hãy theo linh hồn của cậu khi tìm kiếm mục đích và an bình. Đây chỉ là sự cứu rỗi của cậu. Đây chỉ là ý chí của cậu để sống.”
Schopenhauer chợt im lặng. Ông ta ra hiệu cho tôi trả lời. “Những gì ngài đã nói về quá khứ của em đều đúng không có gì tranh luận hết. Thế giới này đã làm em đâu khổ. Em đã suy tưởng đến viêc tự tử. Những gì em không hiểu là khi ngài nói rằng em nên đào sâu hơn nữa. Làm sao em có thể tiếp tục đi nếu em biết rằng cực hình sẽ chỉ càng mạnh lên thôi? Làm sao em có thể tiến lên phía trước nếu nó gây quá nhiều nỗi đau?”
“Đó là môt câu hỏi thỏa đáng đó, Luke ạ. Câu trả lời tốt nhất mà tôi có thể cho là một lời trích dẫn từ người kế thừa tôi, Friedrich Nietzsche: “Sức quyến rũ của kiến thức sẽ nhỏ đi nếu quá nhiều xấu hổ không được khắc phục trên con đường đến kiến thức.” Cậu sẽ gặp phải đường vòng và khổ cực, chắc chắn đấy. Để chiến thắng những điều này, cậu phải nhận biết được sự nhất thời của chúng. Cuối cùng cậu sẽ thấy rằng những tranh đấu mà cậu đương đầu không là gì hết so với cái cậu đạt được.”
“Đồng ý,” tôi nói, “Có lý lắm. Nhưng còn đại học thì sao? Tương lai thì sao?”
“Tương lai chẳng sợ. Cậu đang bỏ qua những điều tích cực đấy. Ở trường đại học cậu sẽ tiếp cận những nguồn đáng giá dư thừa. Cậu sẽ ở với nhiều người thuộc mọi nền văn hóa. Sau đó, cậu sẽ tìm việc làm. Hãy nhớ, không phải mọi việc làm đều vô nghĩa. Hãy tìm cái gì đó lôi cuốn cậu.”
“Em vẫn còn vài câu hỏi nữa. Chuyện gì đang xảy ra vậy? Nơi này có thật không? Cô gái đó là ai? Ngài là ai?”
Schopenhauer gật đầu và đôi mắt xám của ông ta mở lớn. “Tôi đang chờ cậu hỏi những câu hỏi ấy đấy. Cậu đã biết câu trả lời rồi, nhưng dù sao đi nữa thì tôi cũng sẽ nói cho cậu. Đây là một ảo giác. Đây là tiềm thức của cậu nỗ lực giải quyết vấn đề mà ý thức của cậu không thể. Cô gái ấy là sự thể hiện tinh thần của hai khía cạnh mà đã bị đặt sai trong cuộc sống của cậu – tình yêu và sắc đẹp. Tôi là giáo viên mà cậu chưa bao giờ có.”
“Vậy, nếu đây là tiềm thức của em giải quyết các vấn đề của em thì tại sao em vẫn cảm thấy cũng thế thôi?”
“Bởi vì chỉ có mình cậu là người phải chọn xem cậu muốn sống hay không. Tôi đơn giản là cho cậu một khả năng chọn lựa. Tôi đang chỉ cho cậu khía cạnh của chính cậu mà cậu không bao giờ thấy. Tôi chắc cậu biết rằng cậu có khả năng đóng góp đầy ý nghĩa. Để hoàn thành điều này, mặc dù vậy, cậu phải chấp nhận ý chí của mình. Cuối cùng, cậu phải chọn lựa.”
Tôi chỗi dậy khỏi ghế đẩu. “Cảm ơn ngài đã hướng dẫn. Những lời của ngài em sẽ không bao giờ quên.”
Schopenhauer bắt tay tôi và nói, “Cậu rất được hoan nghênh. Giờ xin hãy nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra cậu đã trở về nhà. Vĩnh biệt, Luke.”
Cái lò đóng lại. Bóng tối của nhà bếp bao quanh tôi.
4 giờ 59 phút sáng. Tôi ngồi trong phòng. Tôi đang có một sự xuất thần đầy u uất khác. Để tôi kể cho các bạn nghe tôi đã đến đây như thế nào.
Hãy phác họa cuộc đời như một dòng chảy khổng lồ luôn luôn lao về phía trước. Bây giờ hãy phác họa hàng triệu con người đổ dọc theo dòng chảy này trên những chiếc thuyền và những chiếc bè, một số người thậm chí đang bơi. Hãy phác họa tôi bên dưới, trên đáy của dòng chảy này. Hãy nhìn xem, qua nhiều năm cái bè của tôi cứ mất không khí cho đến lúc nó hoàn toàn xẹp lép. Tôi cố bơi như người khác, nhưng tôi cứ chìm xuống đáy thôi.
5 giờ 20 phút sáng. Ngoài cửa sổ bóng tối nhạt dần. Đường phố, xe cộ và nhà cửa đang trở nên rõ rệt. Chúng tựa như những cái bóng nổi lên trong một thế giới đang thay đổi.
Tôi đang ở trạng thái cân bằng. Tôi có thể cảm thấy cô gái tóc đen đứng cạnh tôi. Tôi có thể nghe những lời đanh thép của Schopenhauer lơ lửng trên không trung. Tôi hoàn toàn sẵn sàng chọn lựa.
6 giờ 13 phút sáng. Mặt trời đang lên. Những tia nắng màu vàng đang xuyên qua cửa sổ và chiếu sáng căn phòng của tôi. Cuối cùng đêm cũng đã qua.
7 giờ sáng. Tôi chọn sống.
Nguyễn Hoàng dịch(Nguyễn Hoàng, 241/1 Trường Chinh, P.12, Q. TB, HCM,Tel : 8428257 – 0909263726)
The Choice
by Jordan D., Patten, ME
It's 11:47 p.m.
Alone in my room I feel the pressure. Questions from my teachers and family pulsate in my head: What's your plan? Have you chosen a college? Why don't you care? I try to respond, but can't. Why don't you say anything? Come on Luke, you must have some idea of where you want to go. The other seniors in your class have already applied to colleges. You can't waste any more time. You've got to do something.
12:01 a.m. Darkness obscures the world. I've never been this lost before. Every day my friends and family ask me about the future. I really don't know what to tell them. I do know what they want to hear. They want me to say that I'm excited about college and life. In other words, they want me to lie.
Even if I go to college, what then? Will I be stuck in a dull job for the next 50 years? Will I be forced to spend my days scavenging for money? Will life pass me by like a falling star? Sources say yes.
The truth is, I'm tired of hearing about war and disease. I'm sick of watching people suffer as they blindly follow their thoughtless desires in circles. My tolerance has been shattered. No longer can I stomach our materialistic decadence. The redundancy of our actions, mind-numbing television, our cyclic way of life - it is killing me.
These are the feelings I never share. People would think me crazy if I told them. Who knows, maybe I am crazy. Every rule has its exception; every system has its flaw.
Outside, the sky is dark with no moon in sight. For a moment my head is calm. Then, from deep in my thoughts, the question surfaces and takes control. It's the question that haunts us all. I can feel myself giving in to it. All I can do is find an answer.
1:23 a.m. Head aching, eyes stinging. I leave my room for the kitchen. I stare blankly into the fridge. Then, out of nowhere, something combusts inside me.
When I turn around, there is a tall, dark-haired girl standing there. Her brown eyes sparkle like diamonds. Her smile is glossy and warm.
"Hello," I whisper.
We stand on the shady tile, lost in each other. Then she asks, "Do you want to go somewhere fun?"
I nod. The girl's delicate hair brushes my cheek as she walks past me. She opens the oven door and vanishes down a wooden staircase. The girl waits a few steps down. "Don't be afraid," she says. "Follow me."
I hesitate, trying to analyze the situation. What are you doing? Who is that girl? You haven't slept in days, you're hallucinating. I give these comments a second's contemplation, then crawl into the oven and head down the staircase toward a new reality.
We rush down hundreds of steps. "We're almost there," she calls.
"What's your name?" I ask.
"My name means nothing."
"Yeah, I guess you're right."
At the bottom of the steps there is a golden doorway that we walk through.
"Where are we going now?"
The dark-haired girl looks over her shoulder and smiles. "To a beautiful place."
We're in a shimmering green valley set against a series of colossal mountains. The sky is vibrantly blue. The clouds seem to swirl around you like wisdom after knowledge. For the first time in my life, I feel pure.
We walk through the valley for hours, for days. Then we come upon a boundless ocean. The girl sits on the white sand and I join her. Her slender legs reflect light from the sun. Being with her makes me forget my problems in the other world. I feel totally peaceful.
The girl rises. Her eyes beckon me forward. We dive into the transparent water and swim downward. When my lungs are about to explode, I swim deeper. Incredibly, my chest opens up and I'm able to breathe. I swim past rocks and caves as hundreds of fish dart around me. I find the girl on the ocean's lowest level. She looks down at an area of sand that swirls until there is a hole big enough to swim through.
We fall for miles. I crash into pavement. I listen to my legs break and watch the blood seep down from my forehead. The girl stands close by.
"I'm dying."
"No, you're living." She lifts me up and our lips collide. Her taste and touch heal my body. I hold her tightly, already knowing what's next. She pulls away. "I'm sorry, but I must leave you. When I'm gone, a green door will appear. Enter it."
"But, wait, I -"
"Please, don't say anything. Just remember."
When the dark-haired girl is gone, a green door materializes. I open it. A shadowy room with a stool in the center appears. I go to it and sit. The room brightens into soft yellow. A lectern is on the stage in front of me. I hear the green door open and close. A stern-faced man in a brown cloak positions himself behind the lectern. Clumps of white hair show vertically from the back of his head. His eyes, like the girl's, are welcoming.
"Greetings," he says. "I am Arthur Schopenhauer."
Shock and disbelief overcome me. The greatest philosopher of the nineteenth century is alive and communicating with me?
"This evening I will be giving you a private lecture, my troubled friend. Let us begin with the past. More specifically, let us begin with your past." Schopenhauer clears his throat. "Youth, in all its glorious ignorance, is the only complete path to happiness. Consequently, your unhappiness can partially be explained by an early loss of youth. At the age of eleven your mind had already plunged into the depths of the human condition. By 13, questions of life's ultimate purpose were plentiful in your thoughts. The next few years brought you tragedy. You witnessed death and watched your family separate. You discovered the pitfalls of materialism. You realized the loopholes and hidden agendas of governments, societies and religions. Then, in a melancholic epiphany, the truth of this world blossomed inside you.
"Life is suffering. Everywhere you turned there was mass suffering. In an effort to combat this agony, you buried yourself in books. However, the misery survived, unwilling to succumb to fits of denial."
Schopenhauer pauses. The echo of his words reverberates through the room. He proceeds, "Now, Luke, we have reached the present. This is your darkest hour. The truth of life has crippled you. The idea of conforming has sickened you. Prematurely, you have absorbed the most profound philosophies. This is a tremendous burden, especially at the age of 17. I can see you have reached a breaking point. I can also see that in your desperation you have formulated a solution. Contrary to what you may think, your solution is entirely incorrect. Suicide will solve nothing. You shouldn't poison yourself with this cowardly thought. Killing yourself is merely adding to the suffering."
I am perplexed. How could he have known?
"Beyond suicide, there is one more alternative. You need to dig deeper. You must continue your quest for knowledge and truth. Embrace your chance to be alive. Transcend nihilism and welcome the unknown. Follow your soul in its search for purpose and peace. This alone is your salvation. This alone is your will to live."
Schopenhauer falls silent. He motions me to reply. "What you've said about my past is unarguably true. The world has made me suffer. I have contemplated suicide. What I don't understand is when you said that I should dig deeper. How can I keep going if I know that the torment will only strengthen? How can I move forward if it causes so much pain?"
"That is a decent question, Luke. The best answer I can give is a quote from my successor, Friedrich Nietzsche: 'The charm of knowledge would be small if so much shame did not have to be overcome on the road to it.' You will encounter detours and tribulations, that is certain. To conquer those, you must be aware of their impermanence. In the end you will find that the struggles you face are nothing compared to your gain."
"Okay," I say, "that makes sense. But what about college? What about the future?"
"The future is not to be feared. You're overlooking everything that is positive. In college you will have access to a plethora of valuable resources. You'll be around people of all cultures. After, you will find work. Remember, not every job is meaningless. Find something that appeals to you."
"I have only a few more questions left. What has been happening? Is this place real? Who was the girl? Who are you?"
Schopenhauer nods his head and his gray eyes widen. "I've been waiting for you to ask those questions. You already know the answers, but I'll tell you anyway. This is a hallucination. This is your subconscious attempting to solve a problem that your consciousness could not. The girl is your mental projection of the two aspects that have been misplaced in your life - love and beauty. I am the teacher you never had."
"So, if this is my subconscious solving my problems, why do I feel the same?"
"Because you alone are the one who must choose whether or not you want to live. I'm simply giving you an alternative. I'm showing you the side of yourself that you never see. I'm making sure you know that you have the ability to contribute meaningfully. To accomplish this, though, you have to accept your will. Ultimately, you have to make the choice."
I rise from the stool. "Thank you for the guidance. Your words will never be forgotten."
Schopenhauer shakes my hand and says, "You are most welcome. Now, please close your eyes. Upon opening them you will have returned home. Farewell, Luke."
The oven is closed. The darkness of the kitchen surrounds me.
4:59 a.m. I sit in my room. I'm having another melancholic epiphany. Let me tell you how I got here.
Picture life as a giant stream that is always rushing forward. Now picture millions of people cascading along this stream in boats and rafts, some are even swimming. Picture me below, on the stream's floor. See, over the years my raft kept losing air until it was completely deflated. I tried to swim like the others, but I just sank to the bottom.
5:20 a.m. Outside my window the darkness is fading. Streets, vehicles and houses are becoming visible. They're like emerging shadows in a changing world.
I'm in a state of harmony. I can feel the dark-haired girl standing next to me. I can hear Schopenhauer's compelling words floating through the air. I'm almost ready to make the choice.
6:13 a.m. The sun is rising. Rays of golden light are breaking through the window and illuminating my room. Night has finally passed.
7 a.m. I choose to live.
reply
hongdwc wrote on Aug 7, '09
@ tất cả các bạn:
Bài này có những ký hiệu phiên âm theo hệ thống Phiên Âm Quốc Tế nhưng lại không có font nên các ký tự trong ngoặc vuông bị sai. Nếu muốn hiểu kỹ hơn, xin download file doc và cài thêm font phiên âm vào máy mới đọc được. (đang upload, xin chờ... 1 ngày.)
Và... có vài câu quá dài xin tùy nghi sửa lại vì mình chưa có hứng để sửa. (Thành thật xin lỗi vì tội lười: Học thuật của nước nhà mà mình còn lười, trách chi thanh niên ta.)
tôi tin trong tương lai nguyên tắc này sẽ được chấp nhận, vì nó đúng và hợp lý hơn. Thật vậy, chỉ có nguyên tắc duy nhất cho luật chính tả chữ I và Y là từ Hán-Việt thì dùng Y trong khi từ thuần Việt thì dùng I. Cái khó là phải xem coi từ đó có phải là Hán-Việt hay là thuần Việt. Tôi thấy từ điển của Viện Ngôn Ngữ Học ở Việt Nam hình như theo nguyên tắc này, và tôi căn vào đó để sửa lại chính tả tiếng Việt của mình. Với tôi, tôi xem Viện Ngôn Ngữ Học ở Việt Nam làm chuẩn cho Việt Ngữ, mặc dù họ không tự nhận họ là chuẩn mực cho Việt Ngữ.
Một điều tôi không hiểu là căn vào đâu mà dân Việt hải ngoại lại xem quyển từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức gì đó làm chuẩn, rồi sửa Y thành I ráo trọi. Cái tôi sợ là ngày nay nhiều người trong nước đang bắt đầu theo cái nguyên tắc mà tôi cho là “phá hoại tiếng Việt” đó, vì cái nguyên tắc viết I và Y theo quyển từ điển kia rất dễ nhớ và không rắc rối.
Thật, tôi có được đọc một hai quyển sách về ngữ pháp tiếng Việt của mấy giáo sư, tiến sĩ người Việt ở hải ngoại mà vừa đọc vừa…..mếu! Vì mấy ông tiến sĩ giáo sư này đang “gò” ngữ pháp tiếng Việt theo ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Pháp. Ví dụ như họ bảo trong tiếng Việt có thì. “Đã” là chỉ quá khứ, “đang” là chỉ hiện tại, nhấn mạnh hành động liên tục, “sẽ” là chỉ tương lai, còn “mới, rồi” là chỉ…..quá khứ gần, lại có “sắp” chỉ tương lai gần nữa chứ. Đọc xong, trộm nghĩ cái thứ ngữ pháp quái quỷ này mà du nhập vào Việt Nam thì sẽ tai hại vô cùng. Hồi còn ở Việt Nam, tôi chưa thấy vị giáo sư tiến sĩ nào giảng như vậy cả.
Rất khổ tâm phải nhắc bạn là chủ đề của bài này là chuyện I ngắn hay I dài chứ không phải chuyện người Việt ở đâu đúng đắn hơn.
Nếu rảnh tôi sẽ suy nghĩ thành câu chữ vấn đề dùng chữ của người Việt ta mọi nơi, cho vui và giúp các giới hiểu "tiếng lóng" của nhau. Hay là bạn làm việc này đi, sẽ rất thú vị và bổ ích. Tôi thì chắc phải năm sau mới sắp xếp được thời gian để hưởng cái thú viết phiếm luận về ngôn ngữ.
nhưng ông ta lại……không làm đúng với nguyên tắc của chính mình là chỉ phân biệt giữa I và Y trong các từ có Y hay I đứng một mình, mà bỏ qua những chữ khác như là “lý tưởng”, “phi lý”, “hý trường”…..
Nguyên tắc của ông nên áp dụng cho mọi chữ chứ không phải cho những chữ Y hay I đứng một mình.
Tôi không khiêu khích, cũng không hồ đồ. Nếu tôi ở Việt Nam thì bạn có thể nói vậy được, nhưng tôi đang ở nước ngoài, và bản thân lại vốn là một dịch giả, nên tôi có quan tâm đặc biệt đến ngôn ngữ, nhất là tiếng Việt. Hồi ở trong nước tôi cũng nghĩ tiếng Việt ở hải ngoại hay trong nước cũng thế thôi, vì tôi coi Thúy Nga thấy tiếng Việt của dân hải ngoại có khác gì đâu. Nhưng ở trong chăn mới biết chăn có rận bạn ạ.
Liên khúc Tâm tình gửi Huế - Trở về Huế
Sáng tác: Hoàng Thi Thơ - Văn Phụng
Trình bày: Họa Mi - Ý Lan
Mùa thu đến bao giờ
Lòng chợt thấy bơ vơ
nghe tâm tư chạnh nhớ
quê hương tôi ngoài nớ
Con sông Hương tình tứ
Bên tiếng thông Ngự Bình
Gửi vài chữ tâm tình
Về xứ Huế xa xôi,
Thương Kim Luông vành nón
Thương Vân Lâu điệu hát
Thương Đông Ba giọng nói
Thương khói trên sông chiều
Chuông nức nở trên đồi
chuông Thiên Mụ trầm ngâm
làm hồn ai trầm lắng
Văng vẳng muôn câu hò
tưởng chừng giữa giấc mơ
Giờ thương nhớ tơi bời
Ngày đêm nhớ khôn nguôi
khi mưa rơi nẻo vắng
hay chuông buông chiều nắng
tôi tương tư trời Huế
Ôi xứ Huế xa vời
--
Bao năm sống xa quê nhà
Cuộc đời phiêu lưu với nắng mưa
Nhìn về quê xưa, biết bao tình thương chan chứa
Đây nơi chốn xưa bao tình
Thần Kinh bên nước non Hương Bình
Kìa ai duyên dáng đang nghiêng mình đón người xa về
Giòng sông Hương vẫn mơ
Thời gian trôi chưa xóa màu xanh mơ hồ
Buồm ai theo gió đưa
Thuyền đi xa nhưng vẫn còn vang câu hò
Về nơi đây ấm êm
Nhìn muôn tà áo tím trên cầu Tràng Tiền
Kìa làn tóc mây u huyền
Vờn đôi mắt bao dịu hiền
Làn môi thắm đang cười tươi khoe bao nét duyên
Ôi bao năm xa cách quê hương,
Tình hoài hương tha thiết vấn vương
Trở về đây vui với quê xưa bao niềm thương
Nghe đâu đây ai hát đôi câu
Nhịp chèo đưa khua nước sông sâu
Giàn hoa xưa nay đã lên mầu
Nhớ khi nào còn xanh mái đầu
Về đây bao thiết tha
Nhìn Nam Giao sau khóm dừa xanh la đà
Đường về Thôn Vỹ xa
Lòng lâng lâng xao xuyến tình quê chan hòa
Giờ đây sau chiến chinh
Miền Thần Kinh non nước Hương Bình tràn tình
Về xa lánh nơi đô thành
Và xây đắp bao duyên lành
Cùng chung sống bên giòng sông Hương bao mến thương.
LỚP HỌC ESL ĐẦU TIÊN
May 22, '08
Ngày đầu tiên đi học, làm bài thi xếp lớp(placement test), làm quen với các bạn mới, toàn là người Châu Á, thì lớp ESL là dành cho người ngoại quốc không dùng Anh ngữ làm tiếng mẹ đẻ mà. Trong lớp tôi có một chú người Hàn Quốc, 43 tuổi(tại chú tự khai lúc giới thiệu về mình chứ người Mỹ kỵ hỏi tuổi tác lắm), có vợ và con rồi. Nhân vật đặc biệt nhất là một dì nữ tu, mặc tu phục trắng toát, từ Tây Ban Nha đến. Nhân vật ấn tượng nhất là chị người Nhật, phong cách, lời nói và y phục đậm chất Nhật Bản. Có người Hàn Quốc, người Thượng Hải và dĩ nhiên có cả người Việt Nam nữa, không chỉ mình tôi mà còn có hai bạn nữ là người Việt Nam nữa.
Trong khi làm kiểm tra, cô giáo dạy ESL gọi từng người lần lượt ra ngoài, thực hiện…phỏng vấn riêng. Chỉ là cuộc nói chuyện thân mật nho nhỏ, để cô giáo biết được kế hoạch tương lai của sinh viên mà định hướng dễ dàng sau này cho sinh viên đó. Tôi rất hài lòng với cuộc phỏng vấn này. Không chỉ làm kiểm tra không thôi, chúng tôi còn được giới thiệu biết một số nhân viên quan trọng trong trường mà trong tương lai chúng tôi có lẽ cần gặp. Giám đốc Viện Tiếng Anh Chuyên Sâu(Intensive English Language Institute), cô Susan Seibel, nói cho chúng tôi một số thông tin quan trọng về khóa học và giải thích các bước tiếp theo cần làm với một sinh viên mới của trường. Cô Katey Palumbo, tư vấn viên cho sinh viên quốc tế, chuyên lo giải quyết các thủ tục về thị thực và cấp I-20, chuyển trường. Sau đó chúng tôi được cô Susan dẫn đi tham quan trường. Người ta nói không sai, nếu bạn muốn học tập thật sự, thì môi trường học tập ở nước này quả là tuyệt vời. Trường học không thiếu một tiện ích và công nghệ nào phục vụ cho việc học hành và nghiên cứu. Đó là lý do tại sao sinh viên hay học sinh Việt Nam qua đây nếu thật sự muốn học thì đều học giỏi hết. Vì trang thiết bị phục vụ cho việc học, các học cụ, phòng thí nghiệm và thư viện quá tốt.
Lúc đi thì bác đưa đi, đi sớm cả hơn hai tiếng, 9 giờ mới bắt đầu tại Student Center(Trung tâm sinh viên), North/South Auditorium(Thính phòng Bắc/Nam). Tôi đi loanh quanh trong trường, ra ngoài đi vòng vòng, thoáng chốc đã đến giờ. Đúng là trường quá rộng! Vẫn biết là dùng tiếng Việt nói chuyện trước mặt người Mỹ hay người nước ngoài không biết ngôn ngữ này, nói chung dùng tiếng mẹ đẻ ở nước ngoài là không nên, vì làm vậy người khác sẽ thấy khó chịu khi họ không hiểu ta muốn nói gì hay đang nói gì. Thậm chí còn bị xem là bất lịch sự khi làm vậy. Nhưng khi chỉ có riêng tư với nhau, thì nên dùng tiếng Việt, vì sẽ thật buồn cười khi hai người Việt, đọc và viết rành tiếng Việt lại dùng tiếng Anh mà nói chuyện. Thế mà cô bé “Việt Nam da vàng” kia lại thích nói với tôi bằng tiếng Anh. Mấy người Hàn Quốc nói với nhau bằng tiếng của họ, dĩ nhiên khi chỉ có họ với nhau thôi, khi ai đó góp vào, chắc họ sẽ dùng tiếng Anh lại.
Lúc về, đón xe búyt lên City Hall(Tòa thị chính) ngay downtown(phố dưới), nghĩa là trung tâm thành phố, chuyến xe búyt đó đông quá trời! Toàn là học sinh Mỹ đen, chắc người Nam Mỹ, chúng nói tiếng Xì(tiếng Tây Ban Nha), nghe chẳng hiểu gì. Đến tòa thị chính lại đón chuyến xe búyt số 5 về đường Sunderland, rồi đi bộ về đại lộ Lake.
Mang về từ trường quá trời giấy tờ, thông tin, báo miễn phí, mới có cũ có.
No comments:
Post a Comment