VIỆT NHÂN CA
(越人歌)
Việt nhân ca quá nổi tiếng. Sau khi được đưa vào phim và hát thì nổi lên phong trào tìm hiểu Việt nhân ca trong dân gian chứ không còn là chuyện của các chuyên gia nghiên cứu văn hóa. Nổi tiếng vì có thể nói đó là bài thơ tình đầu tiên, bài dân ca xuất hiện sớm nhất được ghi nhận trọn vẹn, cách nay khoảng 2800 năm…
Tóm tắt về bối cảnh ra đời của Việt nhân ca: Lưu Hướng (刘向) là cháu bốn đời của Lưu Giao (刘交). Lưu Giao là em của Lưu Bang (刘邦) cao tổ của nhà Hán. Lưu Hướng là tác giả của sách Thuyết uyển (说苑). Sách có chương kể chuyện “Tương Thành Quân Thủy phong chi nhật” (襄成君始封之日). Tương Thành Quân là Sở Tương Vương (楚襄王) tên hiệu là Hùng Hoành (熊橫). Trong câu chuyện có nhắc đến Ngạc Quân Tử Tích (鄂君子皙) là vua Sở Hùng Ngạc (楚熊咢) dùng thuyền dạo mát ngoạn cảnh thì có người chèo thuyền hát bài dân ca Việt. Ngạc Quân Tử Tích nhờ người ghi lại và phiên dịch ra tiếng "Sở" là bài "Việt nhân ca".
Nguyên văn đoạn đó như sau:
"襄成君始封之日,衣翠衣,带玉剑,履缟舄(舄:xi4,古代一种双层底加有木垫的鞋;缟舄:白色细生绢做的鞋),立于游水之上,大夫拥钟锤(钟锤:敲击乐鼓的锤子),县令执桴(桴:鼓槌)号令,呼:“谁能渡王者于是也?”楚大夫庄辛,过而说之,遂造托(造托:上前求见)而拜谒,起立曰: “臣愿把君之手,其可乎?”襄成君忿然作色而不言。庄辛迁延(迁延:退却貌)沓手(沓:盥之误字,盥手即洗手)而称曰:“君独不闻夫鄂君子皙之泛舟于新波之中也?乘青翰之舟(青翰:舟名,刻成鸟形的黑色的船),极(:man2,上艹下两;芘:bi4。芘:不详为何物,疑为船上帐幔之类),张翠盖而检 (检:插上)犀尾,班(班,同“斑”)丽袿(袿:gui1,衣服后襟,指上衣)衽(衽:ren4,下裳),会钟鼓之音,毕榜枻(榜:船;枻,yi4,桨。榜枻:这里指代船工)越人拥楫而歌,歌辞曰:‘滥兮抃草滥予,昌枑泽予昌州州,饣甚州州焉乎秦胥胥,缦予乎昭,澶秦踰渗,惿随河湖。’鄂君子皙曰:‘吾不知越歌,子试为我楚说之。’于是乃召越译,乃楚说之曰:‘今夕何夕兮,搴中洲流。今日何日兮,得与王子同舟。蒙羞被好兮,不訾诟耻。心几顽而不绝兮,知得王子。山有木兮木有枝,心说君兮君不知。’ 于是鄂君子皙乃揄修袂,行而拥之,举绣被而覆之。鄂君子皙,亲楚王母弟也。官为令尹,爵为执圭,一榜枻越人犹得交欢尽意焉。今君何以踰于鄂君子皙,臣何以独不若榜枻之人,愿把君之手,其不可何也?”襄成君乃奉手而进之,曰:“吾少之时,亦尝以色称于长者矣。未尝过僇(僇:lu4,羞辱)如此之卒也。自今以后,愿以壮少之礼谨 命。”
Dịch nghĩa:
“Ngày đầu tiên Tương Thành Quân được phong quan tước, mặc áo đẹp, đeo kiếm ngọc, mang cao guốc, đứng phía trên dòng nước, đại phu gõ nhạc, đánh trống. Lệnh rằng: "Ai có thể đưa bổn vương lên đò?" Sở đại phu Trang Tân bước lên phía trước bái kiến, đứng thẳng nói rằng: "Thần nguyện nắm tay của quân vương, có được không ?" Tương Thành Vương phẫn nộ, mặt biến sắc và im lặng. Trang Tân mất mặt, phủi tay nói rằng: " Quân vương không nghe qua chuyện Ngạc Quân Tử Tích dạo thuyền trên làn sóng mới sao? Trên thuyền Thanh Hàn, cắm cờ xí, khoác áo choàng đẹp. Trong tiếng chuông trống, người chèo thuyền là người Việt đã hát. Lời hát là "Lạm hề biện thảo biện dư, xương Hoàn trạch dư xương châu châu, Thực thẩm châu châu yên hô tần tư tư, mạn dư hô chiêu, thẳn tần du sâm, đề tùy hà hồ ." Ngạc Quân Tử nói: " Ta không hiểu Việt ca, thử cho ta hiểu bằng tiếng Sở." Thế là cho người phiên dịch, bằng tiếng Sở nghiã là: "Kim tịch hà tịch hề, khiên trung châu lưu, kim nhật hà nhật hề, đắc dĩ vương tử đồng Chu. mông tu bị hảo hề, bất hiềm cấu sĩ. tâm kỷ phiền nhi bất tuyệt hề, tri đắc vương tử. Sơn hửu mục hề mục hửu chi, tâm thuyết quân hề quân bất tri.” "Nghe xong, Ngạc Quân Tử Tích xăn tay áo, đến ôm lấy, dùng mền thêu mà đắp lên. Ngạc Quân Tử Tích là em cùng mẹ với Sở vương, làm quan Lịnh-Doãn, tước vị cao sang, mà còn có thể cùng vui tận hết ý với người chèo thuyền Việt. Nay sao quân vương lại do dự hơn Ngạc Quân Tử Tích, thần tại sao không bằng người chèo thuyền, muốn nắm tay quân vương, tại sao lại không được ?" Tương Thành Quân đưa tay ra bước tới, nói: "ta từ nhỏ đã được người lớn khen đàng hoàng, chưa từng bất ngờ gập qua cảnh nầy. Từ nay về sau xin nghe lời chỉ dạy của tiên sinh."
Chính nhờ đoạn văn này mà Bài ca của người Việt còn tới ngày nay. Từ văn bản Hán ngữ đã nhiều người dịch ra tiếng Việt. Và đây là bản dịch có thể được coi là chuẩn:
Việt nhân ca
(Bản dịch Việt ngữ trên Diễn Đàn của Viện Việt Học)
Đêm nay đêm nào chừ, chèo thuyền giữa sông
Ngày này ngày nào chừ, cùng vương tử xuôi dòng.
Thẹn được chàng mến yêu chừ, nào chê phận thiếp long đong
Lòng rối ren mà chẳng dứt chừ, được gặp chàng vương tông
Non có cây chừ, cây có cành chừ; lòng yêu chàng chừ, chàng biết không?
Hơn hai nghìn năm nay, giai thoại vẫn nằm trong sách. Bao thế hệ đã đọc và ngợi ca đều bằng lòng với bản dịch mà chưa ai nghiên cứu nguyên văn của bài ca tức là bản tiếng Việt! Phải chăng đó là thứ ngôn ngữ bị mai một mà bao tháng năm do không hiểu được nên lớp lớp tài tử văn nhân bằng lòng với cái bóng, cái hình?
Biết bao nhiêu chuyên gia ngôn ngữ học cuả nhiều thế kỷ cận đại đã bỏ công nghiên cứu Ký âm của Việt Nhân Ca là ngôn ngữ gì? tập hợp cuả tập thể nghiên cứu Việt nhân ca gồm những người am hiểu hầu hết các ngôn ngữ, họ dẫn chứng là ký âm của Việt nhân ca có thể giãi thích bằng tiếng nói các dân tộc : Tráng tộc壮族、Đồng Tộc侗族, Bố y Tộc布依族, Thái tộc傣族, Thủy tộc水族, Mao Nam tộc毛南族, Hạ lào tộc仫佬族, Lê tộc黎族...Vì các dân tộc nầy đều có nguồn gốc từ Cổ-Việt-Tộc古越族。Và cuối cùng thì Thuyết Ký âm Việt Nhân Ca được kết luận là của người Choang-Tráng Tộc ...
...Hiện giờ Việt nhân ca được biết như là bài dân ca của dân tộc "Choang", được ghi lại bằng ký âm bởi người Sở thời Xuân-Thu.* Một số ý kiến cho rằng lịnh doãn nước Sở là Ngạc Quân Tử Tích sau khi nghe bài hát của người Việt rồi nhờ người phiên dịch ra tiếng Sở. Sở quá rộng lớn nên Bắc Sở thường tự xưng là Kinh Sở và Nam Sở tự xưng là Tương Sở hay Tượng Sở. Trong lịch sử xưa có khi Nam Sở tách ra độc lập là nước Dương Việt. Nếu ngược thời Xuân thu đi về xa nữa, thì tận xa xưa có “lịnh doãn" của nước Sở là Tử Văn vào triều đình nhà Chu nói chuyện bằng tiếng Sở mà nhà Chu xưng là Hoa lại không ai hiểu... Điều nầy được ghi nhận trong Sử ký. Xin quí vị xét kỹ yếu tố câu chuyện nầy mà đừng lầm rằng tiếng Sở là tiếng Hoa. Ngay cả "lịnh-doãn" nước Sở nghĩa là gì thì người Hoa cũng không biết, nên chỉ ghi chú: quan "lịnh-doãn" là chức quan tương đương với "tể tướng" hay gọi là "thừa tướng". Thực ra lịnh-doãn (令尹) là từ đa âm cổ: quan lịnh-doãn hay quan loãn à quan loan à quan lang chỉ có trong tiếng Việt và người Việt mới hiểu. Quan chức người Việt thời Hùng Vương được gọi là quan lang à loan, khi ký âm bằng chữ vuông thì biến thành lịnh - doãn (令尹). Thời Xuân thu vẫn dùng ngôn ngữ Việt làm tiếng phổ thông giữa các quốc gia nhỏ ở Trung Nguyên và gọi là Nhã ngữ. Nhã ngữ là Việt ngữ mà ngày nay cũng bị gọi là Hoa ngữ, đã đơn âm hóa nên nhiều người lầm tưởng "Việt" "Hoa" là hai ngôn ngữ khác nhau. Ví dụ "Trữ-la" thôn thì thực ra là "Tử la" thôn có nghĩa là “thôn Tả". "Trả" “tả” hay "trái" chính là "Tó" (Triều Châu), “Chỏ" (Quảng Đông), "Chò" (Bắc Kinh) dù chung một gốc mà sau khi biến âm thì vùng nầy lại không hiểu ngôn ngữ vùng kia.
*Điều quan trọng cần lưu ý, là nhà nghiên cứu cổ nhạc cuả các dân tộc ở Trung quốc là ông Phùng Minh Tường đã khẳng định "Việt Nhân ca" bị cho là tiếng Choang thật sự không ổn! vì tìm hết các thể điệu Dân Ca cuả Choang không hát được "Việt Nhân ca" trong khi đó là 1 bài dân ca. nhưng ông ta cũng không tìm ra được "Việt nhân Ca" là của Dân tộc nào.
-Ký âm tiếng Việt của bài ca được ghi lại là:
滥兮抃草滥予 Lạm hề biện thảo lạm dư
昌枑泽予昌州州 Xương hằng trạch dư xương châu châu
饣甚州焉乎秦胥胥 Thực thầm châu yên hồ tần tư tư
缦予乎昭 Mạn dư hồ chiêu 澶秦逾渗惿随河湖 thìn tần du sâm, đề tuỳ hà hồ
(Bản ký âm nầy khi phiên ra Hán-Việt thì thường bị thiếu một chữ ở câu số 3:"饣", đó chính là chữ 飠-Thực.)
Phiên dịch ra Hán Việt cho một bài dùng chữ tượng hình cổ để "phiên âm" tiếng Việt thì sẽ rất là khó vì có chữ không còn được dùng nữa, nên không có trong từ điển. Mà dù cho có tra tự điển thì chưa chắc đúng bởi vì giọng đọc ở các địa phương khác nhau. Thêm nữa, cách nhau đến ngàn năm thì tiếng nói và cách viết của một số chữ có thể thay đổi và lại biến âm theo từng miền ngôn ngữ v v... Bản ký âm nầy cho đến nay vẫn bị cho là phiên âm để ghi lại tiếng "Choang" tức là tiếng "Thái" của Tráng tộc.
Nay tôi xin trình bài "Phục nguyên" những chữ ký âm cuả Việt Nhân ca như sau :
Chữ đã ghi lại Việt nhân ca được thể hiện bằng 33 chữ. Xin trình bày lại và xếp theo ý tôi:
滥 兮 抃 草 滥 予 昌 枑 泽 予 昌 州 州 飠 甚 州 焉 乎 秦 胥 胥 缦 予 乎 昭 澶 秦 踰 渗 惿 随 渗 惿 随 ...河 湖。
- Đó là tiếng Việt, xin sắp xếp lại, vì rất quan trọng, cho đúng thơ lúc -bát , 6-8: (chú ý 2 chữ có gạch nối là 1 chữ "đa âm")
滥 兮 抃 - 草 滥 予 Lạm hề biện-thảo lạm dư
昌 枑 泽 - 予 昌 州 州 飠 Xương hoàng trạch-dư xương châu thực
甚 州 焉 乎-秦 胥 胥 Thẩm châu yên hô-tần tư tư
缦 予 乎-昭 澶 秦 踰 渗 惿-随 Mạn dư hô-chiêu thìn tần du sâm đề-tùy.
...河 湖。 Hà Hồ.
-Để dịch bài này từ tiếng Việt xưa ra tiếng Việt nay : xin giải thích những ký âm của Việt nhân ca:
滥 : "Lạm" là "Lam" hay "nam" tức là "Năm", "L" và "N" thường là biến âm, ngày nay màu "Lam" tiếng Triều Châu là "Nam". Rất nhiều nơi ở Quảng, Triều, Việt thường lẫn lộn "L" và "N".
兮: Hề... hầy, nầy, nè, đây... nhiều biến âm.
抃草: Biện-thảo là từ đa âm của "bảo".
予: "Dư" còn có âm "ia" (Triều Châu, Bắc kinh): Năm "dư" có thể như ngày nay là "năm kia", "năm Xưa" ;
昌: ký âm "xương" là "thương". Ngày nay tiếng Quảng Đông-thuần Việt là "Sẹc", Triều Châu-thuần Mân Việt là "Siaiê".
枑: "Hằng" hay "Hoàng".
泽予: "Trạch-Dư" hay "Trạch-Dử" là "Trử” hay "Tử",
飠: Thực, tiếng Quảng Đông à sực, Bắc kinh à Sữa: phát âm như là "Xưa".
甚 : Thẩm hay Thậm là Sẩm, sửm, sơm tiếng tiếng Quảng Đông, và Bắc kinh "Sum" phát âm như "Sớm".
州: Châu, phát âm Mân Việt -Triều Châu thì đọc là "Chiêu", "Chiệu" như "Chiều".
焉: (zen)Hiện nay phiên âm là "Yan" phát âm tiếng Bắc Kinh như em.
乎秦: "Hô-tần" đa âm, là "Hận" đơn âm.
乎昭: "Hô-chiêu" đa âm là "Hiểu" đơn âm.
澶: "Thẳn" hay "Đặng" hay "được". Nếu tra tự điển và phiên dịch là "Thìn" hay "chiền" là không đúng! Bên trái là bộ "Thủy" và bên phải là chữ "Đàn", đọc là "Thẳn" hay "đặng" và nghĩa là "nước xối... thẳng, thông, đặng". Tiếng Quảng Đông: "Thànn", Tiếng Triều Châu: "thànn" hay "thạnn".
胥胥: "tư tư" là Tương Tư.
秦 踰: Tần Du, là ký âm "tình duyên" hay "tình yêu", 秦 là Tsình của tiếng Triều Châu ngày nay, 踰, du, Duyè (Quảng đông), Dua (Triều Châu).
渗: "Sâm" là Sâu, tiếng Quảng Đông ngày nay "sâu" vẫn là "Sâm".
惿随: "Đề-Tuỳ" đa âm là "đùy" đơn âm, là "đầy"
河- Hà: Hò 湖- Hồ: Hớ
Như vậy, nghĩa Việt của bài ca như sau:
Năm nầy bảo năm xưa
Thương Hoàng tử thương chiều chiều xưa
Sớm chiều em hận tương tư
Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy.
....Hò Hớ.
Theo khảo cứu của tôi thì Việt nhân ca là thơ lục bát của tiếng Việt, phù hợp với câu hò của dân ca Việt. Nếu thể hiện bài ca bằng thể lục bát ngày nay thì sẽ là:
Hò... ... hớ...
Năm nầy bảo với năm xưa
Thương chàng hoàng tử thương chiều chiều xưa
Sớm chiều em hận tương tư
Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy.
Việc khảo cứu và giải mã bí mật của Việt nhân ca, đối với tôi rất là dễ bởi vì tôi biết chữ tượng hình người Hoa đang dùng vốn là chữ Việt. Khi nghiên cứu cổ sử, tôi thường đọc theo nhiều phương ngữ khác nhau là Bắc Kinh, Quảng Đông, Triều Châu, Hán Việt. Vì thế có thể nói, nhìn vào Việt nhân ca là thấy được bài thơ Việt liền! Thích thú với chi tiết 2800 năm về trước, tiếng Việt đã dùng "biện- thảo" là "bảo" , "nầy" kia, "nầy" xưa, "thương chiều chiều xưa", "em hận tương tư" v v... Nhưng có điều tôi chưa biết "Hò...hớ" là nghĩa gì và cũng chưa bao giờ nghĩ đến sẽ tìm hiểu "Hò......Hớ" là gì! Vậy mà Việt nhân ca bản gốc đã làm tôi kinh ngạc và "ngộ" ra rằng "Hò...hớ" là dân ca của người Việt khi gắn bó với sông hồ, với ghe, thuyền: Hò...Hớ nghĩa là "Hà 河" ..."Hồ 湖"
______________________________________________________
Ghi Chú : xin Tham Khảo các trang :
Việt nhân ca - Bài ca Việt nữ cổ:Th.s Nguyễn Ngọc Thơ (Trường ĐH khoa học xã hội và Nhân Văn TP. HCM).
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=220916&ChannelID=119
Thảo luận Việt Nhân ca: Viện Việt Học
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,34172,page=3
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?13,28483
-Nhà nghiên cứu: Phùng Minh Tường- 冯明洋:Việt Nhân Ca- 越人歌 có liên hệ Tráng Ngữ? -Dân tộc Choang-: không chính xát, vì không phù hợp thể điệu dân ca Tráng Ngữ : http://www.ce.cn/kjwh/ylmb/ylzl/200907/11/t20090711_19510768.shtml
Yue-Rin-Ge : http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/clao_0153-3320_1991_num_20_2_1345
Thảo luận và phân tích Việt Nhân Ca bên tiếng Hoa ...rất hay, nhưng rất tiếc...chưa đúng: http://forum.bomoo.net/showthread.php?t=1851
-Dùng Từ "越人歌" search trên Google:sẽ thấy 69,900 trang
-Dùng từ "越人歌" tìm trên Baidu.com: sẽ thấy 196,003 trang:
-Có rất nhiều bloger sưu tầm và thảo luận "越人歌"
Chân thành cáo lỗi cùng tác giả và độc giả
nếu những chữ Hán không thể hiện ra được theo ý muốn của NVA
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng ngày 15.12.2009 theo nguyên bản của tác giả .
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com BÁCH VIỆT SỬ:
NHỮNG LỚP BỤI MỜ CỦA LỊCH SỬ
Sở楚 là Việt 越 ...là Văn-Lang
- Phải.
Sử Ký Tư Mả Thiên ghi rỏ Sở và Việt đồng tông đồng tộc, ngày xưa là ngôn ngữ giống nhau, sau nầy thì còn giống nhau 1/2, ngày nay tiếng Quan-thoại đã chiếm lỉnh vùng đất Sở, nhưng vẫn còn nhiều từ cổ Việt được dùng, và đối chiếu với tiếng Việt bên Ngô-Việt và Mân Việt là giống nhau, và dĩ nhiên có từ cũng giống như tiếng Việt -Nam.
Văn Hóa Sở có thời xưng mình là Shan 商-Thương, Ân Thương殷商 Âu-Nhân 甌 人 ( Âu-Nhân chỉ là phiên âm , Âu-Nhân 甌 人= Ân, tức là Ân Thương ) rồi xưng là Sở 楚. Sở là 1 quốc gia rộng lớn, văn hóa và ngôn ngữ đa dạng, ngôn ngữ và văn minh Sở tiến bộ rất sớm, đã tồn tại và ảnh hưởng bao trùm nhiều nơi, "Sử Ký" chép rằng Vua Sở Chúc Hùng 楚鬻熊 là Thầy dạy học cho Châu Văn Vương cuả NHà CHU.
_Sở còn có nhiều tên gọi của Đất Sở, nước Sở, Người Sở, do Cách phiên âm khác nhau cuả từ "Sở" thành ra nhiều chử sở. Phiên âm là 1 hình thức dùng chử đã có rồi đễ diễn đạt chử chưa có cuả tiếng nói, ví dụ cụ thể là cho đến ngày nay thì rất nhiều tiếng Việt vùng Quảng-Đông và 20% tiếng Mân Việt / Triều châu còn chưa có chử viết !
Sở còn Gọi là Kinh, Kinh Sơ, Cửu Khuẩn, Kinh Man, và 1 số tên khác cũng trong phạm vi SỞ.
_Còn Gọi là Si-Vưu, là Triều -Ca, Thương Ngô, Cứ Âu .
_Còn gọi là Phù Dung Quốc, Dương Việt .
_Còn Goị là Cộng Nhân, Quỉ Phương, Cổ Muội .
_Gọi là Việt-Khu.
_ Phạm Vi của Sở gồm phần đất ngày nay thuộc: Các tỉnh 湖南Hồ Nam、湖北Hồ Bắc、重庆Trùng Khánh、河南Hà Nam、安徽An Huy、江苏Giang Tô、江西Giang Tây v v...và các bộ tộc "Cữu-Lê九黎".
***Giải Mã Bí Mật Cổ Sử Sở Bằng Tiếng Việt ***
_Sở 楚: Chử xưa là tượng hình, chử Sở gồm 2 cây ( Chử Lâm 林 phía trên gồm 2 chử mộc 木 ) và phía dưới là dây leo quấn hai chân cây 疋 = Sơ( chử Sơ 疋 bộ tẩu ) phát âm theo Tiếng Madarin là CHsùa, tiếng Mân Việt là chsó, tiếng Việt-Quảng-Châu, Phiên Ngung là chsỏ, Đúng ra thì phải đọc phát âm là "Sở " theo chiếc tự của Sơ -Lâm, nhưng lại có 1 cách đọc phát âm là: " Trầu ", và dấu tích của âm đọc là Trầu còn lưu lại qúa nhiều ...Chử Si- vưu chính là phiên âm của chử Trầu: Si-Vưu=蚩尤, Bỡi vì Si-Vưu vô nghiã, Si-Vưu chỉ là phiên âm, và đánh vần phiên âm là ra chử Trầu mới là "có nghiã" và "Đúng nghiã " với chử tượng hình đã thể hiện, nếu như phiên âm đánh vần là "Sưu " hoặc "Sừu" thì lại vô nghiã, nhưng, dân vùng Phiên Ngung ở Quảng Châu ngày nay vẫn đọc 蚩尤 là Chsia-Dầu, Chsia -ầu-Chsầu, tức là thật ra là " Trầu " ( Đọc theo tiếng Việt Chuẩn là giọng nói của Miền Bắc thì TR phát âm như là CH, "Trầu" là "Chầu" ) và đã có 1 âm Sơ-Lâm là Sở thì mới đúng Chử 楚 đã vẽ hình dây Trầu quấn trên cây, bỡi vì xét về thực vật: dây trầu quấn cây Cau là Đúng nhất cho chử Sở, và khi cổ sử nói về Si-Vưu / Chsia-Dầu là luôn nói về Si-Vưu ở vùng đất Sở.CHƯA CÓ AI PHÂN TÍCH THEO KIỂU NẦY ! VÌ: theo tài liệu Sử thì Sở là Việt, cho nên tôi thử dùng các "phương ngôn:"Việt" đễ giải mã những điều khó hiểu, và đây là 1 lối suy luận hửu lý, chứ không có tài liệu sử sách đễ dẫn chứng, đúng hay sai ? thời gian và sự tiến bộ trong việc tập trung tài liệu của nhiều người nghiên cứu sẽ kiểm chứng lập luận của tôi và có câu trả lời ...
_Vậy Si-vưu theo cổ Việt -nhả ngữ là Chsén-Dầu, đó là phiên âm Chs-ầu.
=>chsầu=Trầu; Si-Vưu=蚩尤=Trầu. tương tợ Chsầu, chsỏ , chsó ,chsùa , tsù ..viết là : 楚
...Sở là Việt, mà lại dính líu với chử "Trầu" ? đúng vậy! Người Việt Nam và người Đài Loan ngày nay vẫn còn rất nhiều người ăn Trầu, và là 1 đặc điểm hiếm hoi của nhân loại.
( Ngoài ra: Người Mèo 苗 tôn Si-Vưu là thần "Thái tổ", và gọi là " txiv -yawg "...đọc nhanh cũng đúng là 1 dạng của âm chử TRẦU ...Đây là 1 đặc tính Bách Việt mà ngày nay người ta còn chưa hiểu hết; Nghiã là ngày xưa Sở hay Việt-Trầu đã thống lãnh hàng trăm bộ tộc "Bách -Việt ).
_Theo Khảo cứu của tôi thì Si-Vưu Ở nước Sở và chính là Sở, vì bản thân chử Si-Vưu đã là "Trầu" là "Sở" như phân tích...nhưng có qúa nhiều thuyết, ...nhiều đến mức kinh-hoàng cho những người khảo cứu đầy đủ, có thuyết tôn Si-Vưu và Viêm Đế là 1, có thuyết: Si-Vưu và Viêm Đế là 2 đế khác nhau, có thuyết Si-Vưu là Quan dưới quyền Viêm Đế v v...
_Xin Trích 1 đoạn chử Cổ -Việt / Hoa nói về Si-Vưu có liên quang đến Cữu Lê: ....蚩尤為首的九黎族=Si vưu vi thủ đích Cữu Lê tộc..., có qúa nhiều truyền thuyết nói về Si-Vưu, có thuyết nói Si-Vưu ở tây, có thuyết nói ở đông, có thuyết nói ở nam với người Mèo / Hmong, có thyết nói ở Bắc như người Korea có quyển sách 《Hằng Đàn Cổ ký桓檀古記》 -(환단고기)nói rằng Si-Vưu là Vua ở Bán Đảo TRiều Tiên; nhưng, chú ý: Si-Vưu được tôn làm " Chiến Thần " nên nhiều người tranh dành ...cũng phải !!! và qúi vị thích nghiên cứu sử cần chú ý điều nầy: phiên -âm chử "Cữu- lê" sẽ ra chử "kỳ ", phiên âm chử "Giao-Chỉ " hay "cao-Chỳ "sẽ ra chử "kỳ",và đặc biệt là Cửu-Lê lại rất giống ...gần như 100 phần trăm với "Cao-Lệ -高麗-Korea", và cũng có tài liệu Korea liên quan đến Bách Việt, ngày nay các bạn trẻ người Việt khi học tiếng Hàn Quốc - Korea sẽ không lạ gì các từ "Han kok" là Hàn Quốc, "huynhdai" là Hiện Đại , "yu Hạc senh" là Du học sinh, tên gọi "Kim Yang" là Kim - Anh, "Dong kun" là Đông Quân v v...
_Vì theo những khảo cứu vừa được nêu trên thì chử viết trong sữ "Si-Vưu": chẵng qua chỉ là phiên âm chử "Trầu ", mà người ta đã lầm, không dùng tiếng Việt, phủ nhận gốc Việt, không biết hay không đọc là Trầu mà lại đi đọc là Si-Vưu cho nên vô nghĩa, và từ cái vô nghĩa, cái không hiểu nghĩa đã sinh ra ngộ nhận và cho là "HánTự- chử Tàu", rồi thêu dệt truyền thuyết ! truyền thuyết đã thêu dệt "Ông" Si-Vưu là lảnh tụ rất thiện chiến, khi ra trận biết phun lữa, chặt đầu nầy lại có đầu khác..., rỏ ràng đó là sự diễn tả Si-Vưu là 1 tập thể thiện chiến, giỏi trận pháp, dương đông kích tây, du kíck chiến, mai phục v v.., và biết dùng hỏa công chứ không phải là 1 người ! chẳng qua vì sự ngộ nhận của các đời sau phủ nhận gốc Việt hay không hiểu tiếng Việt mà người ta dựng ra 1 nhân vật như thần tiên vậy! Ở Trung -Quốc Từ xưa và cho đến nay vì ...người ta đã tôn thờ "ông" Si-Vưu là "chiến -Thần ", nên trước khi ra trận đánh giặc là làm lễ cúng bái "Chiến thần " là ông Si-Vưu !!! thật ra ..."Chiến Thần" đó phải là nước Trầu và lại là lảnh đạo, là "Vua" của các bộ tộc Cửu -Lê 九黎 -Cửu lê lại vô nghiã !!! theo truyền thuyết thì liên quang đến Cửu lê có đến hàng 100 bộ tộc, thuyết nói 9 bộ tộc là căn cứ theo chử "CỮU 九", thuyết chánh yếu mà nhiều người tin và trích dẫn nói là có đến 81 bộ tộc-81 lại là cách dùng 9 x 9 .., 81 hay hàng 100 bộ tộc thì không thể là " CỮU九" ! "Cửu -Lê 九黎" chỉ là phiên âm đễ chỉ hàng trăm bộ tộc ở phía nam có tên gọi là "Kỳ ", Sở trong Hoa sử có đất KINH, mà lại có "Trầu" lảnh đạo 九黎Cửu-Lê là Kỳ! Sử Việt thì gọi đất Việt là Đất Kinh và Đất Kỳ! nghiên cứu mới cho thấy rỏ đường thiên di của nhân loại là từ Đông nam Á tiến lên phía bắc v v.., nếu đánh vần theo giọng Việt Quảng Đông, thì Cửu-lê là "Cao-chìa" sẽ ra chử "kỳ"...còn đọc theo "Cữu-lê" sẽ ra âm "kê" hay "kề", đọc CỮU-LI sẽ ra âm "KY" hay "KỲ", tiếng Phổ thông cũng đọc "li" chứ không đọc "lê", về sau thì xuất hiện chử "giao Chỉ " mà nếu đánh vần phiên âm cũng là "kỳ", dân thành phố PHiên Ngung ngày nay ở tỉnh Quảng Đông vẫn đọc Giao Chỉ là "Cao-Chĩa/ cao chìa ", đối chiếu lại thì thấy rỏ ràng "cửu Lê " và "giao Chỉ " chỉ là 1 tên có phát âm là "kỳ", và GIAO-CHỈ hay CỮU-LÊ là vô nghiã, cho đến thế kỷ 21 mà khi tra cứu tự điễn Bách Khoa và cổ thư v v...thì thấy giải thích sở dĩ gọi là "Giao Chỉ" vì dân vùng đó có 2 ngón cái của 2 bàn chân chià ra, khi đứng thì giao nhau, nên gọi là Giao Chỉ !!! và lại có cách giải thích khác là dân vùng đó ...khi ngủ thì 2 chân đễ chéo chử thập, 2 chân giao nhau nên gọi là giao chỉ !!! Cách giải thích như viết truyện thần thoại hay ...làm phim "khoa học tưỡng tượng" như vậy mà đã tồn tại trong lịch sử mấy ngàn năm...thì rỏ ràng là những người có tâm huyết ở thế kỷ 21 nầy nên phải bỏ công ra đễ viết lại lịch sử là 1 điều bắt buột phải nên làm !!! âm Quảng Đông của "CỮU-Lê" lại có 1 phát âm là "Cẩu -lỳ", Có lẽ chính vì âm "Cẩu" không tốt khi ĐỌC và NGHE, cho nên mới được người ta tránh mà sau nầy không còn dùng "Cữu-Lê" nữa, chỉ còn có âm Cao-Chỳ, Giao-Chỉ xuất hiện mà thôi, những tên xưa thường hay được dính líu và kéo dài đễ dùng đến tận ngày nay, Vùng Lạng-sơn có sông Kỳ-Cùng và Phố Kỳ-Lừa là 1 thí dụ thú vị; chữ viết ngày xưa khác nhau từng vùng vì giao thông đâu có thuận tiện và tính thống nhất đâu có mạnh như bây giờ, cho nên sau nầy Tần Thủy Hoàng mới ra lịnh thống nhất chử viết ;_ Hàng 100 bộ tộc Cữu-lê/ kỳ có lảnh đạo là si-Vưu /Trầu nhập lại... tính ra hẵn là bờ cỏi phải mêng mông lắm và cổ thư còn ghi lại gọi là "Liệt -San thị": thật ra "Liệt-San" đó chính là phiên âm chử "Lang-sang" tức là Lang ! "Lang" là khi ngôn ngữ đó đã được đơn âm hóa, và "Lang-sang" hay "Van" "Lang-Sang" hay người Hoa Viết Sử gọi vắng tắt là Shan商 "có nghiã là "Vạn Tượng" chính là nước "VĂN-LANG"...; qúi vị nào hiểu nghĩa tiếng Thái, Lào, Choang ngày nay sẽ hiểu nghĩa nầy, "Van" là "Vạn" của 1 vạn, "Lang" là "lang-sang" là "Liệt -San" hay Shan商, hay "VănLang", Văn-Lang của người Việt cũng chỉ là 1 quốc gia duy nhất mà người ta đã viết và đọc theo nhiều cách, qúi vị chú ý chử Shan商 dịch theo từ Hán-Việt là "Thương" hoàn toàn trùng hợp với tiếng Việt là "Tượng" tức là "Voi","Tượng" ngày xưa đọc là "Tương" là lẽ thường tình! Bỡi vì cổ Việt ngử đâu có A B C và dấu Nặng! vùng "Sở", "Trầu" "Vănlang" phải là rất rộng như truyền thuyết nước Văn-Lang bắc giáp Động -Đình Hồ, Đông Giáp biễn và Nam giáp nước Hồ-Tôn, Hồ-Tôn là giọng Mân Việt Ô-sinh >Ying, giọng Quảng-Đông là Wùa hay Huà-siń >wiǹg, âm Wìng, hay Ying̃ / yin đều là chữ Vin / Vân của Vân-Nam là tỉnh Vân Nam bây gìờ; còn âm của chử viết là Liệt-San, yue-Lang, Văn Lang đều phát âm giống nhau, nghiã là nước "VanLangshan" cuả người Việt, "Văn-Lang" qúa rộng thì các bộ tộc qúa nhiều và có "đánh nhau" cũng là chuyện thường, đều đó càng làm cho Bách Việt Sử rối mù bỡi "Tinh thần địa phương", truyền thuyết Phù-Đổng thiên vương chống giặc "Ân THương" nếu xét cho kỹ lưỡng biết đâu là chuyện nội bộ ??? truyện Trụ -Vương mê Đắc-kỹ , sa đọa và phung phí ở Cung Đình nên phải thu thuế tô địa nhiều, bắt lao công v v...nên nhiều dân địa phương phải chống lại và tự lập lảnh địa "quốc" riêng là đúng thôi ! ...Ai chứng Minh được Trụ Vương là Du Mục hay là Hung-Nô ??? Chử viết lưu lại là Trụ Vương tên Đế Tân, chử Trụ chẵng qua là Chử "Trư" là "Con heo" cuả tiếng Việt, "Đắc-Kỳ", "Na-tra", "Khương Tử-Nha" "Cơ Phát" "Cơ Xương" đều là tiếng Việt, 1 số những tên tiếng Việt Đa âm còn sót lại trong câu truyện tự nó sẽ làm rỏ nguồn gốc Việt! những ai hiểu Hoa văn 100 phần trăm ngày nay có thể nào giãi thích cho tôi nghe "Trụ" vương và "Đắc-Kỷ" nghiã là gì ??? nỗi oán hận của người dân thời đó theo tiếng Việt đã chữi "Đế Tân" là "Heo" vì dâm dục mê gái cho nên gọi là vua Heo -"Trư", "Đắc-Kỷ" là dấu tích tiếng Việt Đa âm, đa âm "Đắc-Kỷ" là "Đĩ" , khi biến thành đơn âm, chỉ có tiếng Việt và người Việt mới hiểu nổi chứ còn ai vào đây được? theo tôi thì khi "Trụ" Vương tỏ tình với "Đắc-Kỷ" thì nói là "Anh yêu em" chứ không phải là giọng "Wò ái nìa" của Hung-Nô! Ngày nay chúng ta vẩn còn dùng từ đa âm nhiều qúa nhiều, ví dụ như: lang-thang, lôi-thôi, thẩn-thờ, lác-đác, ngoe-ngoẩy, kẻo-kẹt, lệch-lạc, lung-tung, liếng-thoắn, bạc-bẻo, tiu-ngỉu, mênh-mông, lung-linh, dịu-dàng, v v...nhiều kinh khủng lắm -Xin qúi vị đọc bài khảo cứu trước của tôi -là tiếng Việt sinh ra Hoa ngữ và Hoa Ngữ chỉ là những tộc khác học được 1 phần của tiếng Việt mà thôi! và cũng chính vì vậy mà Hoa ngữ không thể phiên dịch được hết Việt ngữ, còn Việt ngữ có thể phiên dịch được hết Hoa ngữ 1 cách dễ dàng, có những sách và những người lập luận rằng Từ ngữ Hán-Việt được du Nhập từ Trung Hoa sang Việt Nam vào thời nhà Đường! Xin Chân thành cảm ơn những sách và những người đó! ...Lập luận đó tự thân nó đã khẵng định là từ xưa cho đến đời nhà Đường là bên Trung Hoa vẫn còn dùng tiếng Việt; Có 1 bài "Việt nhân Ca" cổ đại đã hơn hai ngàn mấy trăm năm và nổi tiếng toàn thế giới, tiếng Hoa, tiếng Anh và tiếng Pháp v v...đều đã "phiên dịch" bài nầy 1 cách ...sai bét !!! tiếng Việt phiên dịch lại từ bản "hoa_Văn" nên cũng sai luôn !!! Vì người ta không hiểu tiếng Việt ...và người "Hoa" đã dùng bài nầy đễ chứng minh cổ sử của Trung quốc là "Hoa" chứ không phải Việt! Với lập luận vì là "hoa" nên không hiểu được tiếng Việt của "Việt nhân Ca", và chuyện bài hát "Việt nhân ca" nầy xảy ra ở nước Sở, xin qúi đọc giả đón đọc những bài khảo cứu sau thì tôi sẽ trình bài rỏ ràng chung quanh bài "Việt Nhân Ca" ở nước Sở ngày xưa chính là 1 bằng chứng Sở là Việt ! Điều nầy là rất quang Trọng: CÓ thể nói rằng đây là Tâm điểm cuả sự nhập nhằn Việt và Hoa, Bới vì ông Lưu Bang và Ông Hạn Vỏ đều là Người Sở, và Lưu Bang đã lập nên nhà Hán, Có thể nói rằng Chứng minh được Sở là Hoa thì nghiã là Hoa đồng hóa Việt !!! và chứng minh được rằng Sỡ là Việt thì nghiã là Việt đồng Hóa Hung-Nô thành Việt mà đổi tên là Hoa. Bài nầy đã chứng minh rỏ ràng Sở là Việt đễ làm mất đi lớp bụi mờ của lịch sử; Tuy nhiên, đễ cho rỏ ràng và chi tiết thêm thì tôi sẽ viết thêm bài "Tự điển Thuyết Văn của Hứa Thận thời nhà Hán" và "Việt nhân Ca".
Xin trở lại chủ đề:
_đánh vần cổ ngử "Liệt-San" > tức là Li(ệt)- (S)an =>Lan = Lang .
_Viêm Đế / Si-Vưu / Trầu / Kỳ / Văn Lang là thị tộc Việt " Hùng ", chử viết trong sử là " Hửu hùng Thị ": đọc là "Dồ Hùng'' , đó là một âm của Diệt Hùng , tức là Việt Hùng ( xin xem bài khảo cứu Bách Việt Sử khác sấp đưa ra online ) và Con Cháu các đời vua sau luôn xưng là Hùng Vương như Hùng Tao 熊蚤, Hùng LỆ 熊麗 , HÙNG CUỒNG 熊狂, HÙNG Dịch 熊繹, HÙNG NGẢI熊艾 , HÙNG ĐẢN 熊䵣, HÙNG THẮNG 熊勝, Hủng Dương 熊楊, Hùng cừ 熊渠, Hùng Chí 熊摯, Hùng Diên 熊延, Hùng Dũng 熊勇, Hùng Nghiêm 熊嚴, Hùng Tương 熊霜, Hùng Tuân 熊徇, Hùng Ngạc 熊咢, Hùng Nghi 熊儀, Hùng Khảm 熊坎, Hùng Thông 熊通, Hùng Chất 熊貲, Hùng Giang 熊艱, Hùng Uẩn 熊惲, Hùng Thương -Thần 熊商臣, Hùng Lử 熊侶 , Hùng Thẩm 熊審, Hùng Chiêu 熊招, Hùng Viên 熊員Hùng Vi, v v...
Theo Truyền Thuyết: Hoàng Đế 黄帝Có 1 người con là Xương Ý昌意...-Xương Ý昌意 là 1 trong 25 người con cuả Hoàng đế黄帝, Xương-Ý cưới vợ là người của Thuc̣ sơn thị 蜀山氏tên là Xương Bộc 昌僕 có được 1 người con là Đoan -Hạn 颛顼. Hậu duệ cuả Đoan Hạn sinh ra Cổn 鯀, Cổn Sinh Ra Vủ禹 (...Con Cuả Vủ Là Khải lập ra triều Hạ).
-Đế Đoan-Hạn颛顼 là Con Cuả Xương-Ý.
-Ngô Hồi 吳回 là Cháu đời thứ 5 cuả đế Đoan Hạn颛顼.
_Lục-Tung 陸終 , hay Lộc-Tục do cách đọc khác nhau, là con cuả NGô Hồi 吳回.
_Qúi Liên 季連, về Sau gọi là Chúc Hùng lả con của cuả "Lộc Tung" hay Lộc Tục: có 6 người con, con út là Qúi-Liên.
_Chúc Hùng là Cha cuả Hùng Tao, Hùng Tao là Cha cuả Hùng lệ, Hùng lệ là cha cuả Hùng Cuồng.
-Sở Hùng Dịch楚熊繹 là con của Hùng Cuồng, là cháu chít của Qúi Liên/Chúc Hùng và là Thầy cuả Châu Văn Vương Cuả nhà Chu ...và Sau đây là phần tên Vua được đưa vào Sách Sử...viết bằng cổ văn .
***Bảng tên hiệu Sở: Hùng Vương / Tên Họ / năm lên ngôi / năm thoái vị ...bằng Cổ Việt Văn: gồm Tên Các vua ...
| 君主 | 國君名称 | 上任時間 | 退位時間 | 在位年数 |
|---|---|---|---|---|
| 楚熊蚤 | 熊蚤(芈蚤)芈=Mi | |||
| 楚熊麗 | 熊麗(芈麗) | |||
| 楚熊狂 | 熊狂(芈狂) | |||
| 楚熊繹 | 熊繹(芈繹) | |||
| 楚熊艾 | 熊艾(芈艾) | |||
| 楚熊䵣 | 熊䵣(芈䵣) | |||
| 楚熊勝 | 熊勝(芈勝) | |||
| 楚熊楊 | 熊楊(芈楊) | 前(Tiền: trước công nguyên) | ||
| 楚熊渠 | 熊渠(芈渠) | 年:Năm | ||
| 楚熊摯 | 熊摯(芈摯) | |||
| 楚熊延 | 熊延(芈延) | 前848年 | ||
| 楚熊勇 | 熊勇(芈勇) | 前847年 | 前838年 | 10年 |
| 楚熊嚴 | 熊嚴(芈嚴) | 前837年 | 前828年 | 10年 |
| 楚熊霜 | 熊霜(芈霜) | 前827年 | 前822年 | 6年 |
| 楚熊徇 | 熊徇(芈徇) | 前821年 | 前800年 | 22年 |
| 楚熊咢 | 熊咢(芈咢) | 前799年 | 前791年 | 9年 |
| 楚若敖 | 熊儀(芈儀) | 前790年 | 前764年 | 27年 |
| 楚霄敖 | 熊坎(芈坎) | 前763年 | 前758年 | 6年 |
| 楚蚡冒 | 熊眴(芈眴) | 前757年 | 前741年 | 17年 |
| 楚武王 | 熊通(芈通) | 前740年 | 前690年三月 | 51年 |
| 楚文王 | 熊貲(芈貲) | 前689年 | 前675年六月庚申 | 15年 |
| 楚堵敖 | 熊艱(芈艱) | 前674年 | 前672年 | 3年 |
| 楚成王 | 熊惲(芈惲) | 前671年 | 前626年冬季十月 | 46年 |
| 楚穆王 | 熊商臣(芈商臣) | 前625年 | 前614年 | 12年 |
| 楚莊王 | 熊侶(芈侶) | 前613年 | 前591年秋季 | 23年 |
| 楚共王 | 熊審(芈審) | 前590年 | 前560年 | 31年 |
| 楚康王 | 熊招(芈招) | 前559年 | 前545年九月以後 | 15年 |
| 楚郏敖 | 熊員(芈員) | 前544年 | 前541年冬季 | 4年 |
| 楚靈王 | 熊圍(芈圍) | 前540年 | 前529年五月 | 12年 |
| 楚王比 | 熊比(芈比) | 前529年春季 | 前529年五月 | 未改元 |
| 楚平王 | 熊居(芈居) | 前528年 | 前516年九月 | 13年 |
| 楚昭王 | 熊珍(芈珍) | 前515年 | 前489年秋季七月以後 | 27年 |
| 楚惠王 | 熊章(芈章) | 前488年 | 前432年 | 57年 |
| 楚簡王 | 熊中(芈中) | 前431年 | 前408年 | 24年 |
| 楚声王 | 熊当(芈当) | 前407年 | 前402年 | 6年 |
| 楚悼王 | 熊疑(芈疑) | 前401年 | 前381年 | 21年 |
| 楚肅王 | 熊臧(芈臧) | 前380年 | 前370年 | 11年 |
| 楚宣王 | 熊良夫(芈良夫) | 前369年 | 前340年 | 30年 |
| 楚威王 | 熊商(芈商) | 前339年 | 前329年 | 11年 |
| 楚懷王 | 熊槐(芈槐) | 前328年 | 前299年 | 30年 |
| 楚頃襄王 | 熊横(芈横) | 前298年 | 前263年秋季 | 36年 |
| 楚考烈王 | 熊元(芈元) | 前262年 | 前238年 | 25年 |
| 楚幽王 | 熊悍(芈悍) | 前237年 | 前228年正月 | 10年 |
| 楚哀王 | 熊猶(芈猶) | 前228年正月 | 前228年三月 | 未改元 |
| 楚王負芻 | 熊負芻(芈負芻) | 前227年 | 前223年 | 5年 |
| 昌平君 | 前223年 | 前223年 | ||
| 楚隠王(張楚隱王) | 陳勝 | 前210年 | 前209年 | |
| 楚假王 | 景駒 | 前209年 | 前209年 | |
| 楚義帝 | 熊心(芈心) | 前209年 | 前207年 | |
| 楚霸王(西楚霸王) | 項羽 Hạn Vỏ | 前206年 | 前202年 |
Sở Bá Vương 楚霸王_Hạng Vỏ 項羽 là con cháu đích tôn của Hùng Triều họ Mi 米 ( Mi hay Mị ,Mì , Mễ ) vì tổ tiên được phong đất cho ở Đất Hạn, cho nên lập Tổ dòng họ Hạn; ( cũng như Khuất Nguyên vậy, thời phong kiến thì dòng họ vua thường hay được phong cho Đất đễ lập ấp, lập quốc nhỏ làm chúa nơi địa phương nhỏ và thường hay đổi họ theo đất mình được làm chúa nơi đó ) ...Sở Bá vương Hạn Vỏ và Lưu Bang lảnh đạo dân Quân Sở-Việt lật đổ nhà Tần...***Khảo cứu Một số phong tục vùng Sở -(Trầu / Kỳ / Liệt San-yue Lang -Văn Lang- Việt Lang mà ngày xưa goị là "Sở " )và ngay nay qúi vị cọ thể tìm hiểu và tham khảo dễ dàng trên các web của các bloger hay trên trang web của tỉnh Hồ Nam hay Hồ Bắc của Tân Hoa Xã:_Khách đến nhà khi đả mời ngồi rồi thì kỵ lau bàn hay quét nhà, vì như vậy là có ý đuổi khách._Khi mời khách ăn trứng gà thì không được đải ăn số trứng lẽ 1 hay 3, nhưng kỵ nhất là đãi khách ăn 2 trứng, Vì "ăn hai" giống như tiếng chữi ..."ăn Hại" của tiếng Sở._Trước khi ăn, không được dùng đủa gỏ chén, vì chỉ có ăn mày mới gỏ chén ăn xin._Sau khi ăn, không được gác đủa lên chén, vì gác đủa lên chén là cúng cơm cho vong linh._Đầu của phái nam, và vùng eo của phái nữ là chỉ được nhìn, không được rờ ..., nếu bị tùy ý đụng chạm thì coi như là một điều bị sĩ nhục._Phải phơi quần áo phụ nữ nơi kính đáo, không được cầm sào phơi quần áo phụ nữ băng qua đường; đồ lót của phụ nữ khi phơi phải tìm ở chổ người ta không nhìn thấy; khi phụ nữ có thai thì không được tham gia tiệc đám cưới; phụ nữ đang có kinh kỳ thì không được vào chùa, miếu; phụ nữ không được tham gia việc xây bếp hay dựng kèo cột trong xây cất._Kỵ những từ ngữ hung hiểm, ví dụ: không nói "Chêt́" mà nói "Đi" rồi, hay "không còn nữa", Quan tài thì nói "thọ tài ", "thọ mộc "; ngày tết không được nói "thấy bà"," thấy qủy", "đồ...qủy sứ"...nói chung là kỵ từ ngữ hung hiểm hay xui xẻo._ Cha mẹ qua đời thì con trai không cắt tóc trong thời gian 7 Thất (Tuần ) đễ tỏ lòng hiếu thảo khi để tang._ Kêu chuột bằng "ông", chuột rất khôn lanh, nên sợ chuột cắn phá quần áo v v...nên tỏ ra tôn kính mà gọi là "ông" Tí._Con một của gia đình thì thường goị là "Chó con", "Bé ", "Nữ", "Nố","Náo "...Vì sợ ma quỉ xâm hại, sợ khó nuôi.
Ngày Nay thì Văn Hoá Sở đã biến thành đã biến thành văn hóa cuả tiếng Phổ thông / Quang Thoại, nhưng những nghiên cứu về từ ngữ cỗ của lịch Sử còn sót lại mà người ta còn dùng và được biết ở các vùng thuộc Sở lại làm cho tôi giật mình:-Dù đã bị tiếng phồ thông-quan-thoại thay đỗi, nhưng Nhiều vùng "sở" ngày nay vẫn gọi con của mình là phái nam bằng "trai " như tiếng Việt, đó là vùng: Nam Xương 南昌/ đọc là "ʦai" như "Chai " Hay "Trai" 、đó là các vùng Đô Xương 都昌、An Nghiã安義、Tu Thuỷ修水、Bình Giang 平江、Dương Tân陽新、Tuyên Phong宜豐、Tân DU 新喻 、v v...vẫn gọi con trai là "TSai".và....-2 chân giang rộng ra gọi là: "Mở" và Viết là chử 摸 /Mạc - nhưng đọc là "mở".-Con ngổng gọi là Ngang, ngo.-Lớn, goị là "Đại ", viết là 軚/ đọc là Đại.-Cái Rổ làm bằng bằng tre: gọi là Rổ, viết là 蘿 / đọc là Rổ; có nơi nay đọc lô hay lo, loa, lóa..._"Hiểu", vùng Kiến-Ninh 建寧 ngày nay vẫn đọc "Hiểu'' 曉 như tiếng Việt .-"Phan", vất đồ vật gọi là Phan, viết là 拌 / đọc là "Phan".-Bất kể, bất cần mạng sống gọi là "Bán mạng", những vùng còn nói là "bán mạng" là: ( phát âm có khác nhau 1 chút giữa các vùng ): Nam xương 南昌 / pʰɔn miaŋ、An Nghiã 安義 / pʰɔn miaŋ、Cao An 高安 / pʰɛn miaŋ、Tân Du 新喻 / pʰɔn miaŋ、Bình Hương 萍鄉 / pʰɔ̃ miã、Lễ Lăng 醴陵 / pʰõŋ miaŋ、Kiến Nnh 建寧 / pʰɔn miaŋ、Thiệu Vủ 邵武 / pʰon miaŋ。_cái lá cây Trúc gọi là Lá, viết là 箬 / đọc là "lá"._thấy, viết là 睇 đọc là "Thấy"._vùng nước Sâu gọi là "thầm" hay "Than", nghiã là "Đầm" so với tiếng Việt .Tất cả những phần khảo cứu tiếng nói và phong tục Sở nêu trên là vào trang nhà trên Internet của tỉnh Hồ Bắc thuộc Tân Hoa Xã là sẽ đọc thấy (trong hiện tại)....Từ những chứng cứ nêu trên, có thể thấy ngày xưa vủng Sở vừa Đúng là "Trầu", vừa đúng là Nước Việt / Văn Lang rộng lớn với hàng trăm bộ tộc "kỳ -Cữu lê" nói tiếng Việt, Nếu vậy thì nên đọc địa danh và tên người cũa cổ Sử theo tiếng Việt ..._ khảo cứu 1 số tên Sở theo hướng "việt-Ngữ" thì thấy là, Ví Dụ :1/ CAN TƯƠNG: phiên âm Can-Tương > "Cương" hay "Cường" / vì chẳng có ai tên là Can -Tương, nếu Can-Tương đúng là tên 1 người thì trước đây đã có người dùng, sau nầy phải có người dùng, và bây giờ cũng phải có người dùng; suy ra, Can-Tương là "Cường".2/ MẠC TÀ: ...chưa thấy có ai trong sử sách có tên là "Mà""Tà" hay "Mạ" "tà", phiên âm nầy chỉ theo Mân Việt ngữ mới có nghiã, đọc là "Bạc-ghé'' > "Bé", còn 1 cách đọc khác là "mo -ghé" ra âm "Moẽ"- ( Moẽ là bé gái ), ở đâu có người Triều -Châu và tiếng Mân Việt thì có người gọi con gái là "Moẽ", ở đâu có người Việt là ở đó có người gọi con gái là "Bé" *** ghi chú : tiếng Mân Việt là Phước Kiến và Triều Châu giữ được rất nhiều Việt Cổ Ngữ, khi phục chế ngôn ngữ Sở hay đối chiếu đễ rỏ nghiã thì các học giã bên Trung Quốc hay so sánh với Mân Ngữ mà tìm đáp số; Ngày nay chúng ta đọc là Mạc-tà, nhưng theo phân tích kỷ lưỡng của tôi thì "bạc -chsé"> tức là "Bé" là tên đúng nhất của người vợ của Can-tương >Cường.3/CỬU KHUẨN: ...Vần phiên âm "Cữu -khuân" >là " Quân" nầy độc đáo, dù đọc theo giọng Quảng Đông / Triều Châu / Phước Kiến hay Việt Nam đều có kết quả là "Quân", Đất "Quân" ( Đất Quân hay Quan , Âm thanh gần nhau là tên 1 vùng đất nơi ...được gọi là: Sở, Vậy ..không thể nào là "cưũ -khuẩn " vì nó hoàn toàn vô nghiã ...4/TRIỀU CA: kinh đô của triều Thương / Trụ Vương là Triều Ca, phiên âm giọng Việt Quảng Đông là Chsiều -Co >Chso / chsò, chính là vùng đất "Trầu" hay "Sở", Vậy không có "Triều -Ca " chỉ có "Trà" là phiên âm của Triều Ca và phát âm rất giống âm "Trầu", ...chỉ có chso , chsò , Trầu , Sở ...bỡi vậy cho nên không có ai tìm ra được kinh đô " Triều Ca " cuả Trụ Vương ở Đâu !!! này nay người ta cho rằng Triều-Ca ở huyện Kỳ của tỉnh Hà Nam ... và đó cũng là lý do tôi tin rằng Trụ Vương / nhà Thương là người Việt vì kinh đô Mang tên "Triều- ca" thì chính là Sở, và vua nhà Thương họ Chử, là con cháu đế Nghiêu,và có chứng cứ tài liệu là họ biết nuôi Voi thì càng đúng là "VanLangshan" tức là Văn-Lang, thần thánh "phong phú như truyện "phong Thần" là sãn phẫm của văn minh nông nghiệp lúa nước đã định cư thì mới có được truyện như vậy v v... Và người Việt Nam không xa lạ với họ Chử ...qua truyện "Chử Đồng Tử"; Triều-Ca là 楚sở.5/ THƯƠNG NGÔ: đọc theo phiên âm Quảng Đông là "CHSén-ngùa " > CHsùa =楚sở.6/ CỨ ÂU: đọc theo phiên âm Quảng Đông "Chsìa-Ngâu" > Chsầu =楚sở.7/CỘNG NHÂN: Cộng -nhân> Cân; Cong-nan> Can, Cúng -dành> Cánh; Can , cân , cánh , đều là gịong việt, mân, Quảng Đông đễ goị đất "cống" (đất "Quang" ) là Vùng Sở.8/ QỦI PHƯƠNG: Quỉ -Hoang > Quang là giọng Mân Việt, Đất " Quang " là 1 tên khác của Đất sở, Có thể giọng "Quang" là Chính Thức vì rất phù hợp với tiếng Việt; và cũng chính là " Quang" là chủ ngữ đã sinh ra qúa nhiều tên gọi theo sau: Cân / Can / Cánh, Cung, Cúng và Trở thành Cống ngày nay.19/ CỔ MUỘI: giọng phổ thông Cuà -Mi >ky hay " Kỳ ".10/ 昌意Xương-Ý: giọng Việt Phiên-Ngung còn đọc là Chsen-ià > tức là phiên âm của Chsià 其, "Chsià" hay "Khỳ" hay "Kỳ" ? ..."khỳ" hay "Kỳ" là tùy giọng nói của từng địa phương.11/陸終Lộc tục hay Lộc tung đều có phiên âm là >Lùn ( tiếng Quảng Đông "Lùn" là Rồng ), Long.
....Qua Những khảo cứu và đối chiếu phía trên đả đủ cho ta thấy "Bí Mật" sé được dần dần sáng tỏ. SỞ là Việt như Tư Mả Thiên đã Viết trong Sử Ký là "Sở Việt đồng tông đông̀ tộc", và cũng thấy được nhà "thương" -"trụ Vương " cũng là Sở ngày trước, và còn biết được "Can-Tương" và "mạc -Tà" tên thật là gì v v...; và người Sở là Hạng Vỏ và Lưu Bang lật đổ nhà tần rồi lập nên nhà Hán chính là người Sở và nói tiếng Sở và đó chính là "Sở" "văn -Lang" với "Cữu-Lê / Kỳ " và ngôn ngữ chính là Việt Ngữ; Sách "Thuyết Văn" thời Hán là đọc theo Việt Ngữ lại là 1 minh chứng thêm...; Sở Là Việt, là Văn Lang, người Việt làm sao quên được Văn-Lang? Hoa Sử viết rầng Triều Shan (Nhà Thương) qúa nhiều lần dời thủ đô, mà không nghiên Cứu hoặc chối bỏ là Shan từ đâu đến! Văn-Lang đã bắc tiến từ nam ...Đâu dễ gì có 1 ngọn núi là "Lạng Sơn" mà lại trở thành tên của 1 tỉnh? Lạng Sơn hay Lạng-San, hay Lang-Shan, chính là tên của nước "Vănlangshan" còn sót lại khi những vùng đất kia của nước Văn-Lang đá bị đỗi tên thành các vương triều và quốc gia khác nhau theo dòng lịch sử...
Vì có những ngộ nhận hay gian trá và hàng hàng lớp lớp bụi mờ phủ lên bề dầy lịch sử Bách Việt...cho nên bài khảo cứu nầy được suy xét rất thận trọng. Đễ làm sáng tỏ...
Sở là Việt, là Văn-Lang trải dài từ phương nam lên Động Đình Hồ với nhiều đời vua với phong hiệu là Hùng Vương.
______________________________________________
* Ghi chú: Can-Tương và Mạc -Tà là tên kiếm và cũng là tên của Vợ chồng nỗi danh đúc kiếm.
-Bài nầy có tham khảo các website dưới đây.
楚國 贛語的歷史 贛語中的古百越語詞一覽 贛語中的古吳語詞一覽
Chân thành cáo lỗi cùng tác giả và độc giả
vì những chữ Hán không thể hiện ra được theo ý muốn của NVA
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng ngày 27.11.2009 theo nguyên bản của tác giả .
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.comTRAN THI BONG GIAY
• Real name: Tran Thi Thu Van.
• Was born in Hue, grew up in Saigon.
• Before 1975 living in Da Lat.
• Now in San Jose, Californie, USA.
WORKS PUBLISHED:
• Nước Chảy Qua Cầu (Bút Ký) .
• Gã Cùi và Miếng Dừa Non (tập truyện).
• Một Truyên Dài Không Có Tên (I, II - tâm bút).
• Nhật Nguyệt Buồn Như Nhau (I, II -tự truyện).
• Tài Hoa Mệnh Bạc (I, II, III, biên khảo tiểu sử danh nhân).
• Trần Sa (tự truyện).
• Tài Hoa và Cô Đơn Như Một Định Mênh (tuyển tập tâm bút).
• Con Tằm Đến Thác Vẫn Còn Vương Tơ (tuyển tập tâm bút).
• Điệu Múa Cuối Cùng Của Con Thiên Nga (I, II, tuyển tập tâm bút).
• River of Time - bản Anh ngữ của Nước Chảy Qua Cầu, Trần Thy Hà chuyển dịch -
(English language version of The Water Flowing Through the Bridge, Thy Tran Ha transfer)
READ ON NEWVIETART.NET:
• RIVER OF THE TIME - novel
TRAN THI BONG GIAY
No comments:
Post a Comment