Sunday, October 21, 2012

Bất động sản ì ạch nên nhiều công ty dùng chính nhà chung cư của mình làm quà biếu sếp nhân dịp Tết (ảnh minh họa)

TÂY THI

NỮ GIÁN ĐIỆP ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ


 



ĐỖ ĐỨC THU
HUỲNH NGUYỆT ANH



Bốn vị tuyệt sắc giai nhân thời cổ Trung Hoa được truyền lại là Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Triệu Phi Yến và Dương Ngọc Hoàn. Trong số đó người đẹp nhất là Tây Thi. Người ta thường chỉ biết Tây Thi là người đẹp mà không biết Tây Thi còn là đệ nhứt nữ gián điệp trong lịch sử loài người.

Tây Thi sinh ở Triết Giang phủ Thiệu Hùng thôn Trữ La, chính tên nàng là Di Quang, cha làm nghề Tiều phu đốn củi. Tây Thi thường giặt lụa ở sông Hoán. Trên sông có một phiến đá, tương truyền là nơi nàng giặt lụa. Đường thi có thơ rằng:

Tây Thi tích nhật hoán sa tân
Thạch thượng thanh đài sầu sát nhân
Nhất khứ Cô Tô bất phục phản
Đạo bàng đào lý vị thúy xuân?


Tục truyền rằng Tây Thi giặt lụa bên sông, bóng nàng chiếu xuống lòng sông, cá trong sông đều lặn sâu xuống đáy để thưởng thức vẻ đẹp, do đó có câu "sắc đẹp cá lặn".

Theo Ngô Việt Xuân Thu, năm thứ hai mươi đời Chu Kính Vương, Ngô vương Phù Sai đánh bại Việt vương Câu Tiễn, bắt cầm tù rồi sau mới thả. Đại phu nước Việt là Văn Chủng biết Phù Sai hiếu sắc, dâng bảy điểm để trả thù Ngô, trong đó có kế mỹ nhân.

Vua Việt theo lời sai quan đại phu là Phạm Lãi đi kiếm gái đẹp, tìm được Tây Thi và Trịnh Đán, đem về tập luyện cho cách ăn nói, ca vũ, dáng điệu, ba năm thành công. Liền sai Phạm Lãi đem hiến dâng vua Ngô. Vua Ngô khoái quá, quả nhiên bị mê hoặc mà bỏ việc trị nước. Trịnh Đán ghen với Tây Thi, uất ức mà chết, thành ra Tây Thi được chuyên sủng. Ngô Vương sai làm Cô Tô đài, Khuê Cung quán, Hưởng Điệp Lang để Tây Thi ở. Lý Bạch có thơ vịnh như sau:

Phong động hà diệp mãn điện hương,
Cô Tô đài thượng kiến Ngô vương,
Tây Thi túy vũ kiều vô lực
Tiếu ỷ đông song bạch ngọc sàng.


Sau nhân vua Ngô tranh bá với Tấn ở Hoàng Trì, Việt vương thừa hư đánh Ngô, thái tử Hửu nước Ngô bị chết trận, vua Ngô vội vàng rút quân cùng Việt cầu hòa. Đời Chu Nguyên Vương năm thứ ba, Việt diệt Ngô, đem năm trăm nóc nhà phong cho vua Ngô ở Lâu Đông. Phù Sai không chịu nổi sự nhục nhã tự tử mà chết.

Sau khi Ngô bị diệt, tin tức về Tây Thi rất lờ mờ. Có nơi nói, khi Phạm Lãi đưa Tây Thi sang hiến Ngô, 3 năm mới tới kinh nước Ngô đã tư thông cùng nàng, sinh một con trai. Sau này nàng lại về với Phạm Lãi, cùng chu du Ngũ hồ. Sau có thơ: " Đái tương Tây tử khởi vô ý, khủng lưu tuyệt sắc ngộ quân vương". Có nơi nói phu nhân Việt Vương Câu Tiễn, sợ Tây Thi lại mê hoặc vua Việt, sai người dìm chết ở Thái Hồ. Lại một thuyết nói: Ngô vương không nghe lời Ngũ Tử Tư can gián về việc nạp Tây Thi, bắt Tử Tư phải tự tận, nên trước khi mất nước, Phù Sai đã dìm chết Tây Thi ở Thái Hồ để tạ Tử Tư.

Những danh nữ Trung Quốc thường được nhiều người nghiên khảo về quãng đời sau. Duy có đệ nhất mỹ nhân là Tây Thi thì không ai biết rõ. Về thuyết Tây Thi bị dìm chết không phải là không đáng tin nhưng không biết là ai đã dìm chết nàng.

Những người đẹp thời xưa gặp nạn, không như Tây Thi, nói là báo oán thì phụ lòng Ngô vương sủng ái, còn nói báo ân thì sai với nhậm mệnh của nước Việt. Người đời Thanh có thơ:

Thiếp tự báo ân, nhân báo oán
Bổng tâm thường giác bất phân minh


Đúng là tâm sự của Tây Thi vậy!

Khảo về chiến tranh Ngô Việt, từ Câu Tiễn bị bắt tới Phù Sai tự vẫn là hai mươi mốt năm. Phạm Lãi dâng người đẹp vào năm thứ ba mươi đời Chu Kính Vương. Tây Thi vào Ngô, ít nhất cũng vào khoảng mười lăm, mười sáu tuổi. Ngô mất sau hai mươi năm. Tử Tư có nói: "Nước Việt nuôi quân mười năm, luyện quân mười năm, sau hai mươi năm, còn gì nước Ngô?" Dù có bị dìm chết hay không, Tây Thi lúc đó cũng đã về già rồi vậy.

BÁCH VIỆT SỬ:
NHỮNG LỚP BỤI MỜ CỦA LỊCH SỬ


Sở楚 là Việt 越 ...là Văn-Lang

Bất động sản ì ạch nên nhiều công ty dùng chính nhà chung cư của mình làm quà biếu sếp nhân dịp Tết (ảnh minh họa)- Phải.
Sử Ký Tư Mả Thiên ghi rỏ Sở và Việt đồng tông đồng tộc, ngày xưa là ngôn ngữ giống nhau, sau nầy thì còn giống nhau 1/2, ngày nay tiếng Quan-thoại đã chiếm lỉnh vùng đất Sở, nhưng vẫn còn nhiều từ cổ Việt được dùng, và đối chiếu với tiếng Việt bên Ngô-Việt và Mân Việt là giống nhau, và dĩ nhiên có từ cũng giống như tiếng Việt -Nam.

Văn Hóa Sở có thời xưng mình là Shan 商-Thương, Ân Thương殷商  Âu-Nhân 甌 人 ( Âu-Nhân chỉ là phiên âm , Âu-Nhân 甌 人= Ân, tức là Ân Thương ) rồi xưng là Sở
楚. Sở là 1 quốc gia rộng lớn, văn hóa và ngôn ngữ đa dạng, ngôn ngữ và văn minh Sở tiến bộ rất sớm, đã tồn tại và ảnh hưởng bao trùm nhiều nơi, "Sử Ký" chép rằng Vua Sở Chúc Hùng 楚鬻熊 là Thầy dạy học cho Châu Văn Vương cuả NHà CHU.
_Sở còn có nhiều tên gọi của Đất Sở, nước Sở, Người Sở, do Cách phiên âm khác nhau cuả từ "Sở" thành ra nhiều chử sở. Phiên âm là 1 hình thức dùng chử đã có rồi đễ diễn đạt chử chưa có cuả tiếng nói, ví dụ cụ thể là cho đến ngày nay thì rất nhiều tiếng Việt vùng Quảng-Đông và 20% tiếng Mân Việt / Triều châu còn chưa có chử viết !
Sở còn Gọi là Kinh, Kinh Sơ, Cửu Khuẩn, Kinh Man, và 1 số tên khác cũng trong phạm vi SỞ.
_Còn Gọi là Si-Vưu, là Triều -Ca, Thương Ngô, Cứ Âu .
_Còn gọi là Phù Dung Quốc, Dương Việt .
_Còn Goị là Cộng Nhân, Quỉ Phương, Cổ Muội .
_Gọi là Việt-Khu.

_ Phạm Vi của Sở gồm phần đất ngày nay thuộc: Các tỉnh 湖南Hồ Nam、湖北Hồ Bắc、重庆Trùng Khánh、河南Hà Nam、安徽An Huy、江苏Giang Tô、江西Giang Tây v v...và các bộ tộc "Cữu-Lê九黎".
           ***Giải Mã Bí Mật Cổ Sử Sở Bằng Tiếng Việt ***
        _Sở : Chử xưa là tượng hình, chử Sở gồm 2 cây ( Chử Lâm 林 phía trên gồm 2 chử mộc  木 ) và phía dưới là dây leo quấn hai chân cây  疋 = Sơ( chử Sơ 疋 bộ tẩu ) phát âm theo Tiếng Madarin là CHsùa, tiếng Mân Việt là chsó, tiếng Việt-Quảng-Châu, Phiên Ngung là chsỏ, Đúng ra thì phải đọc phát âm là "Sở " theo chiếc tự của Sơ -Lâm, nhưng lại có 1 cách đọc phát âm là: " Trầu ", và dấu tích của âm đọc là Trầu còn lưu lại qúa nhiều ...Chử Si- vưu chính là phiên âm của chử Trầu: Si-Vưu=蚩尤, Bỡi vì Si-Vưu vô nghiã, Si-Vưu chỉ là phiên âm, và đánh vần phiên âm là ra chử Trầu mới là "có nghiã" và "Đúng nghiã " với chử tượng hình đã thể hiện, nếu như phiên âm đánh vần là  "Sưu " hoặc "Sừu" thì lại vô nghiã, nhưng, dân vùng Phiên Ngung ở Quảng Châu ngày nay vẫn đọc 蚩尤 là Chsia-Dầu, Chsia -ầu-Chsầu, tức là thật ra là " Trầu " ( Đọc theo tiếng Việt Chuẩn là giọng nói của Miền Bắc thì TR phát âm như là CH, "Trầu" là "Chầu"  )  và đã có 1 âm Sơ-Lâm là Sở thì mới đúng Chử 楚  đã vẽ hình dây Trầu quấn trên cây, bỡi vì xét về thực vật: dây trầu quấn cây Cau là Đúng nhất cho chử Sở, và khi  cổ sử nói về Si-Vưu / Chsia-Dầu là luôn nói về Si-Vưu ở vùng đất Sở.CHƯA CÓ AI PHÂN TÍCH THEO KIỂU NẦY ! VÌ: theo tài liệu Sử thì Sở là Việt, cho nên tôi thử dùng các "phương ngôn:"Việt" đễ giải mã những điều khó hiểu, và đây là 1 lối suy luận hửu lý, chứ không có tài liệu sử sách đễ dẫn chứng, đúng hay sai ? thời gian và sự tiến bộ trong việc tập trung tài liệu của nhiều người nghiên cứu sẽ kiểm chứng lập luận của tôi và  có câu trả lời ... 

_Vậy Si-vưu theo cổ Việt -nhả ngữ là Chsén-Dầu, đó là phiên âm Chs-ầu.

=>chsầu=Trầu; Si-Vưu=蚩尤=Trầu. tương tợ Chsầu, chsỏ , chsó ,chsùa , tsù ..viết là :

...Sở là Việt, mà lại dính líu với chử "Trầu" ? đúng vậy! Người Việt Nam và người Đài Loan ngày nay vẫn còn rất nhiều người ăn Trầu, và là 1 đặc điểm hiếm hoi của nhân loại. 

    ( Ngoài ra:  Người Mèo  tôn Si-Vưu là thần "Thái tổ", và gọi là " txiv -yawg "...đọc nhanh cũng đúng là 1 dạng của âm chử TRẦU ...Đây là 1 đặc tính Bách Việt mà ngày nay người ta còn chưa hiểu hết; Nghiã là ngày xưa Sở hay Việt-Trầu đã thống lãnh hàng trăm bộ tộc "Bách -Việt ).
_Theo Khảo cứu của tôi thì Si-Vưu  Ở nước Sở và chính là Sở, vì bản thân chử Si-Vưu đã là "Trầu" là "Sở" như phân tích...nhưng có qúa nhiều thuyết, ...nhiều đến mức kinh-hoàng cho những người khảo cứu đầy đủ, có thuyết tôn Si-Vưu và Viêm Đế là 1, có thuyết: Si-Vưu và Viêm Đế là 2 đế khác nhau, có thuyết Si-Vưu là Quan dưới quyền Viêm Đế v v...
    _Xin Trích 1 đoạn chử Cổ -Việt / Hoa nói về Si-Vưu có liên quang đến Cữu Lê: ....蚩尤為首的九黎族=Si vưu vi thủ đích Cữu Lê tộc..., có qúa nhiều truyền thuyết nói về Si-Vưu, có thuyết nói Si-Vưu ở tây, có thuyết nói ở đông, có thuyết nói ở nam với người Mèo / Hmong, có thyết nói ở Bắc như người Korea có quyển sách 《Hằng Đàn Cổ ký桓檀古記》 -(환단고기)nói rằng Si-Vưu là Vua ở Bán Đảo TRiều Tiên; nhưng, chú ý: Si-Vưu được tôn làm " Chiến Thần " nên nhiều người tranh dành ...cũng phải !!! và qúi vị thích nghiên cứu sử cần chú ý điều nầy: phiên -âm chử "Cữu- lê" sẽ ra chử "kỳ ", phiên âm chử "Giao-Chỉ " hay "cao-Chỳ "sẽ ra chử "kỳ",và đặc biệt là Cửu-Lê lại rất giống ...gần như 100 phần trăm với "Cao-Lệ -高麗-Korea", và cũng có tài liệu Korea liên quan đến Bách Việt, ngày nay các bạn trẻ người Việt khi học tiếng Hàn Quốc - Korea sẽ không lạ gì các từ "Han kok" là Hàn Quốc, "huynhdai" là Hiện Đại , "yu Hạc senh" là Du học sinh, tên gọi "Kim Yang" là Kim - Anh, "Dong kun" là Đông Quân v v...
      _Vì theo những khảo cứu vừa được nêu trên thì chử viết trong sữ "Si-Vưu": chẵng qua chỉ là phiên âm chử  "Trầu ", mà người ta đã lầm, không dùng tiếng Việt, phủ nhận gốc Việt, không biết hay không đọc là Trầu mà lại đi đọc là Si-Vưu cho nên vô nghĩa, và từ cái vô nghĩa, cái không hiểu nghĩa đã sinh ra ngộ nhận và cho là "HánTự- chử Tàu", rồi thêu dệt truyền thuyết ! truyền thuyết đã thêu dệt "Ông" Si-Vưu là lảnh tụ rất thiện chiến, khi ra trận biết phun lữa, chặt đầu nầy lại có đầu khác..., rỏ ràng đó là sự diễn tả Si-Vưu là 1 tập thể thiện chiến, giỏi trận pháp, dương đông kích tây, du kíck chiến, mai phục v v.., và biết dùng hỏa công chứ không phải là 1 người ! chẳng qua vì sự ngộ nhận của các đời sau phủ nhận gốc Việt hay không hiểu tiếng Việt mà người ta dựng ra 1 nhân vật như thần tiên vậy! Ở Trung -Quốc Từ xưa và cho đến nay vì ...người ta đã tôn thờ "ông" Si-Vưu là "chiến -Thần ", nên trước khi ra trận đánh giặc là làm lễ cúng bái "Chiến thần " là ông Si-Vưu !!! thật ra ..."Chiến Thần" đó phải là nước Trầu  và lại là lảnh đạo, là "Vua" của các bộ tộc Cửu -Lê 九黎 -Cửu lê lại vô nghiã !!!  theo truyền thuyết thì liên quang đến Cửu lê có đến hàng 100 bộ tộc, thuyết nói 9 bộ tộc là căn cứ theo chử "CỮU 九", thuyết chánh yếu mà nhiều người tin và trích dẫn nói là có đến 81 bộ tộc-81 lại là cách dùng 9 x 9 .., 81 hay hàng 100 bộ tộc thì không thể là " CỮU九" ! "Cửu -Lê 九黎" chỉ là phiên âm đễ chỉ hàng trăm bộ tộc ở phía nam có tên gọi là "Kỳ ", Sở trong Hoa sử có đất KINH, mà lại có "Trầu" lảnh đạo 九黎Cửu-Lê là Kỳ! Sử Việt thì gọi đất Việt là Đất Kinh và Đất Kỳ! nghiên cứu mới cho thấy rỏ đường thiên di của nhân loại là từ Đông nam Á tiến lên phía bắc v v..,  nếu đánh vần theo giọng Việt Quảng Đông, thì Cửu-lê là "Cao-chìa" sẽ ra chử "kỳ"...còn đọc theo "Cữu-lê" sẽ ra âm "kê" hay "kề", đọc CỮU-LI sẽ ra âm "KY" hay "KỲ", tiếng Phổ thông cũng đọc "li" chứ không đọc "lê", về sau thì xuất hiện chử "giao Chỉ " mà nếu đánh vần phiên âm cũng là "kỳ", dân thành phố PHiên Ngung ngày nay ở tỉnh Quảng Đông vẫn đọc Giao Chỉ là "Cao-Chĩa/ cao chìa ", đối chiếu lại thì thấy rỏ ràng "cửu Lê " và "giao Chỉ " chỉ là 1 tên có phát âm là  "kỳ", và GIAO-CHỈ hay CỮU-LÊ là vô nghiã, cho đến thế kỷ 21 mà khi tra cứu tự điễn Bách Khoa  và cổ thư v v...thì thấy giải thích sở dĩ gọi là "Giao Chỉ"  vì dân vùng đó có 2 ngón cái của 2 bàn chân chià ra, khi đứng thì giao nhau, nên gọi là Giao Chỉ !!! và lại có cách giải thích khác là dân vùng đó ...khi ngủ thì 2 chân đễ chéo chử thập, 2 chân giao nhau nên gọi là giao chỉ !!! Cách giải thích như viết truyện thần thoại hay ...làm phim  "khoa học tưỡng tượng" như vậy mà đã tồn tại trong lịch sử mấy ngàn năm...thì rỏ ràng là những người có tâm huyết ở thế kỷ 21 nầy nên phải bỏ công ra đễ viết lại lịch sử là 1 điều bắt buột phải nên làm !!! âm Quảng Đông của "CỮU-Lê" lại có 1 phát âm là "Cẩu -lỳ", Có lẽ chính vì âm "Cẩu" không tốt khi ĐỌC và NGHE, cho nên mới được người ta tránh mà sau nầy không còn dùng "Cữu-Lê" nữa, chỉ còn có âm Cao-Chỳ, Giao-Chỉ xuất hiện mà thôi, những tên xưa thường hay được dính líu và kéo dài đễ dùng đến tận ngày nay, Vùng Lạng-sơn có sông Kỳ-Cùng và Phố Kỳ-Lừa là 1 thí dụ thú vị; chữ viết ngày xưa khác nhau từng vùng vì giao thông đâu có thuận tiện và tính thống nhất đâu có mạnh như bây giờ, cho nên sau nầy Tần Thủy Hoàng mới ra lịnh thống nhất chử viết ;_ Hàng 100 bộ tộc Cữu-lê/ kỳ có lảnh đạo  là si-Vưu /Trầu nhập lại... tính ra hẵn là bờ cỏi phải mêng mông lắm và cổ thư còn ghi lại gọi là "Liệt -San thị": thật ra "Liệt-San" đó chính là phiên âm chử "Lang-sang" tức là Lang ! "Lang" là khi ngôn ngữ đó đã được đơn âm hóa, và "Lang-sang" hay "Van" "Lang-Sang" hay người Hoa Viết Sử gọi vắng tắt là Shan商 "có nghiã là "Vạn Tượng" chính là nước "VĂN-LANG"...; qúi vị nào hiểu nghĩa tiếng Thái, Lào, Choang ngày nay sẽ hiểu nghĩa nầy, "Van" là "Vạn" của 1 vạn, "Lang" là "lang-sang" là  "Liệt -San" hay Shan商, hay "VănLang", Văn-Lang của người Việt cũng chỉ là 1 quốc gia duy nhất mà người ta đã viết và đọc theo nhiều cách, qúi vị chú ý chử Shan商 dịch theo từ Hán-Việt là "Thương" hoàn toàn trùng hợp với tiếng Việt là "Tượng"  tức là "Voi","Tượng" ngày xưa đọc là "Tương" là lẽ thường tình! Bỡi vì cổ Việt ngử đâu có A B C và dấu Nặng! vùng "Sở", "Trầu" "Vănlang" phải là rất rộng như truyền thuyết nước Văn-Lang bắc giáp Động -Đình Hồ, Đông Giáp biễn và Nam giáp nước Hồ-Tôn, Hồ-Tôn là giọng Mân Việt Ô-sinh >Ying, giọng Quảng-Đông là Wùa hay Huà-siń >wiǹg, âm Wìng, hay Ying̃ / yin đều là chữ Vin / Vân của Vân-Nam là tỉnh Vân Nam bây gìờ; còn âm của chử viết  là Liệt-San, yue-Lang, Văn Lang đều phát âm giống nhau, nghiã là nước "VanLangshan" cuả người Việt, "Văn-Lang" qúa rộng thì các bộ tộc qúa nhiều và có "đánh nhau" cũng là chuyện thường, đều đó càng làm cho Bách Việt Sử rối mù bỡi "Tinh thần địa phương", truyền thuyết Phù-Đổng thiên vương chống giặc "Ân THương" nếu xét cho kỹ lưỡng biết đâu là chuyện nội bộ ??? truyện Trụ -Vương mê Đắc-kỹ , sa đọa và phung phí ở Cung Đình nên phải thu thuế tô địa nhiều, bắt lao công v v...nên nhiều dân địa phương phải chống lại và tự lập lảnh địa "quốc" riêng là đúng thôi ! ...Ai chứng Minh được Trụ Vương là Du Mục hay là Hung-Nô ???  Chử viết lưu lại là Trụ Vương tên Đế Tân, chử Trụ chẵng qua là Chử "Trư" là "Con heo" cuả tiếng Việt, "Đắc-Kỳ", "Na-tra", "Khương Tử-Nha" "Cơ Phát" "Cơ Xương" đều là tiếng Việt, 1 số những tên tiếng Việt Đa âm còn sót lại trong câu truyện tự nó sẽ làm rỏ nguồn gốc Việt! những ai hiểu Hoa văn 100 phần trăm ngày nay có thể nào giãi thích cho tôi nghe "Trụ" vương và "Đắc-Kỷ" nghiã là gì ??? nỗi oán hận của người dân thời đó theo tiếng Việt đã chữi "Đế Tân" là "Heo" vì dâm dục mê gái cho nên gọi là vua Heo -"Trư", "Đắc-Kỷ" là dấu tích tiếng Việt Đa âm, đa âm "Đắc-Kỷ" là "Đĩ" , khi biến thành đơn âm, chỉ có tiếng Việt và người Việt mới hiểu nổi chứ còn ai vào đây được? theo tôi thì khi "Trụ" Vương tỏ tình với "Đắc-Kỷ" thì nói là "Anh yêu em" chứ không phải là giọng "Wò ái nìa" của Hung-Nô! Ngày nay chúng ta vẩn còn dùng từ đa âm nhiều qúa nhiều, ví dụ như: lang-thang, lôi-thôi, thẩn-thờ, lác-đác, ngoe-ngoẩy, kẻo-kẹt, lệch-lạc, lung-tung, liếng-thoắn, bạc-bẻo, tiu-ngỉu, mênh-mông, lung-linh, dịu-dàng, v v...nhiều kinh khủng lắm -Xin qúi vị đọc bài khảo cứu trước của tôi -là tiếng Việt sinh ra Hoa ngữ và Hoa Ngữ chỉ là những tộc khác học được 1 phần của tiếng Việt mà thôi! và cũng chính vì vậy mà Hoa ngữ không thể phiên dịch được hết Việt ngữ, còn Việt ngữ có thể phiên dịch được hết Hoa ngữ 1 cách dễ dàng, có những sách và những người lập luận rằng Từ ngữ Hán-Việt được du Nhập từ Trung Hoa sang Việt Nam vào thời nhà Đường! Xin Chân thành cảm ơn những sách và những người đó! ...Lập luận đó tự thân nó đã khẵng định là từ xưa cho đến đời nhà Đường là bên Trung Hoa vẫn còn dùng tiếng Việt; Có 1 bài "Việt nhân Ca" cổ đại đã hơn hai ngàn mấy trăm năm và nổi tiếng toàn thế giới, tiếng Hoa, tiếng Anh và tiếng Pháp v v...đều đã "phiên dịch" bài nầy 1 cách ...sai bét !!! tiếng Việt phiên dịch lại từ bản "hoa_Văn" nên cũng sai luôn !!! Vì người ta không hiểu tiếng Việt ...và người "Hoa" đã dùng bài nầy đễ chứng minh cổ sử của Trung quốc là "Hoa" chứ không phải Việt! Với lập luận vì là "hoa" nên không hiểu được tiếng Việt của "Việt nhân Ca", và chuyện bài hát "Việt nhân ca" nầy xảy ra ở nước Sở, xin qúi đọc giả đón đọc những bài khảo cứu sau thì tôi sẽ trình bài rỏ ràng chung quanh bài "Việt Nhân Ca" ở nước Sở ngày xưa chính là 1 bằng chứng Sở là Việt ! Điều nầy là rất quang Trọng:  CÓ thể nói rằng đây là Tâm điểm cuả sự nhập nhằn Việt và Hoa, Bới vì ông Lưu Bang và Ông Hạn Vỏ đều là Người Sở, và Lưu Bang đã lập nên nhà Hán, Có thể nói rằng Chứng minh được Sở là Hoa thì nghiã là Hoa đồng hóa Việt !!! và chứng minh được rằng Sỡ là Việt thì nghiã là Việt đồng Hóa Hung-Nô thành Việt mà đổi tên là Hoa. Bài nầy đã chứng minh rỏ ràng Sở là Việt đễ làm mất đi lớp bụi mờ của lịch sử; Tuy nhiên, đễ cho rỏ ràng và chi tiết thêm thì tôi sẽ viết thêm bài "Tự điển Thuyết Văn của Hứa Thận thời nhà Hán" và "Việt nhân Ca".
Xin trở lại chủ đề:
_đánh vần cổ ngử "Liệt-San" > tức là Li(ệt)- (S)an =>Lan = Lang .
_Viêm Đế / Si-Vưu / Trầu / Kỳ / Văn Lang là thị tộc Việt  " Hùng ", chử viết trong sử là " Hửu hùng Thị ": đọc là "Dồ Hùng'' , đó là một âm của Diệt Hùng , tức là Việt Hùng ( xin xem bài khảo cứu Bách Việt Sử khác sấp đưa ra online ) và Con Cháu các đời vua sau luôn xưng là Hùng Vương như Hùng Tao  熊蚤, Hùng LỆ  熊麗 , HÙNG CUỒNG  熊狂, HÙNG Dịch 熊繹, HÙNG NGẢI熊艾 , HÙNG ĐẢN  熊, HÙNG THẮNG  熊勝, Hủng Dương  熊楊, Hùng cừ  熊渠, Hùng Chí 熊摯, Hùng Diên  熊延, Hùng Dũng  熊勇, Hùng Nghiêm 熊嚴, Hùng Tương  熊霜, Hùng Tuân  熊徇, Hùng Ngạc  熊咢, Hùng Nghi  熊儀, Hùng Khảm  熊坎, Hùng Thông 熊通, Hùng Chất  熊貲, Hùng Giang  熊艱, Hùng Uẩn  熊惲, Hùng Thương -Thần  熊商臣, Hùng Lử  熊侶 , Hùng Thẩm 熊審, Hùng Chiêu  熊招, Hùng Viên  熊員Hùng Vi,  v v...
    Theo Truyền Thuyết: Hoàng Đế 黄帝Có 1 người con là Xương Ý昌意...-Xương Ý昌意 là 1 trong 25 người con cuả Hoàng đế黄帝, Xương-Ý  cưới vợ là người của Thuc̣ sơn thị 蜀山氏tên là Xương Bộc 昌僕 có được 1 người con là Đoan -Hạn 颛顼. Hậu duệ cuả Đoan Hạn sinh ra Cổn 鯀, Cổn Sinh Ra Vủ禹 (...Con Cuả Vủ Là Khải lập ra triều Hạ).
-Đế Đoan-Hạn颛顼 là Con Cuả Xương-Ý.
-Ngô Hồi 吳回 là Cháu đời thứ 5 cuả đế Đoan Hạn颛顼.

_Lục-Tung 陸終 , hay Lộc-Tục do cách đọc khác nhau, là con cuả NGô Hồi 吳回.

   _Qúi Liên 季連, về Sau gọi là Chúc Hùng lả con của cuả "Lộc Tung" hay Lộc Tục: có 6 người con, con út là Qúi-Liên.
_Chúc Hùng là Cha cuả Hùng Tao, Hùng Tao là Cha cuả Hùng lệ, Hùng lệ là cha cuả Hùng Cuồng.
-Sở Hùng Dịch楚熊繹 là con của Hùng Cuồng, là cháu chít của Qúi Liên/Chúc Hùng và là Thầy cuả Châu Văn Vương Cuả nhà Chu ...và Sau đây là phần tên Vua được đưa vào Sách Sử...viết bằng cổ văn .


     ***Bảng  tên hiệu Sở: Hùng Vương / Tên Họ / năm lên ngôi / năm thoái vị ...bằng Cổ Việt Văn: gồm Tên Các vua ...


君主 國君名称 上任時間 退位時間
在位年数
楚熊蚤 熊蚤(芈蚤)芈=Mi


楚熊麗 熊麗(芈麗)


楚熊狂 熊狂(芈狂)


楚熊繹 熊繹(芈繹)


楚熊艾 熊艾(芈艾)


楚熊 (芈


楚熊勝 熊勝(芈勝)


楚熊楊 熊楊(芈楊)
(Tiền: trước công nguyên)
楚熊渠 熊渠(芈渠)
年:Năm
楚熊摯 熊摯(芈摯)


楚熊延 熊延(芈延)
前848年
楚熊勇 熊勇(芈勇) 前847年 前838年 10年
楚熊嚴 熊嚴(芈嚴) 前837年 前828年 10年
楚熊霜 熊霜(芈霜) 前827年 前822年 6年
楚熊徇 熊徇(芈徇) 前821年 前800年 22年
楚熊咢 熊咢(芈咢) 前799年 前791年 9年
楚若敖 熊儀(芈儀) 前790年 前764年 27年
楚霄敖 熊坎(芈坎) 前763年 前758年 6年
楚蚡冒 熊眴(芈眴) 前757年 前741年 17年
楚武王 熊通(芈通) 前740年 前690年三月 51年
楚文王 熊貲(芈貲) 前689年 前675年六月庚申 15年
楚堵敖 熊艱(芈艱) 前674年 前672年 3年
楚成王 熊惲(芈惲) 前671年 前626年冬季十月 46年
楚穆王 熊商臣(芈商臣) 前625年 前614年 12年
楚莊王 熊侶(芈侶) 前613年 前591年秋季 23年
楚共王 熊審(芈審) 前590年 前560年 31年
楚康王 熊招(芈招) 前559年 前545年九月以後 15年
楚郏敖 熊員(芈員) 前544年 前541年冬季 4年
楚靈王 熊圍(芈圍) 前540年 前529年五月 12年
楚王比 熊比(芈比) 前529年春季 前529年五月 未改元
楚平王 熊居(芈居) 前528年 前516年九月 13年
楚昭王 熊珍(芈珍) 前515年 前489年秋季七月以後 27年
楚惠王 熊章(芈章) 前488年 前432年 57年
楚簡王 熊中(芈中) 前431年 前408年 24年
楚声王 熊当(芈当) 前407年 前402年 6年
楚悼王 熊疑(芈疑) 前401年 前381年 21年
楚肅王 熊臧(芈臧) 前380年 前370年 11年
楚宣王 熊良夫(芈良夫) 前369年 前340年 30年
楚威王 熊商(芈商) 前339年 前329年 11年
楚懷王 熊槐(芈槐) 前328年 前299年 30年
楚頃襄王 熊横(芈横) 前298年 前263年秋季 36年
楚考烈王 熊元(芈元) 前262年 前238年 25年
楚幽王 熊悍(芈悍) 前237年 前228年正月 10年
楚哀王 熊猶(芈猶) 前228年正月 前228年三月 未改元
楚王負芻 熊負芻(芈負芻) 前227年 前223年 5年
昌平君   前223年 前223年
楚隠王(張楚隱王) 陳勝 前210年 前209年
楚假王 景駒 前209年 前209年
楚義帝 熊心(芈心) 前209年 前207年
楚霸王(西楚霸王) 項羽 Hạn Vỏ 前206年 前202年

        Sở Bá Vương  楚霸王_Hạng Vỏ 項羽 là con cháu đích tôn của Hùng Triều họ Mi 米 ( Mi hay Mị ,Mì , Mễ ) vì tổ tiên được phong đất cho ở Đất Hạn, cho nên lập Tổ dòng họ Hạn; ( cũng như Khuất Nguyên vậy, thời phong kiến thì dòng họ vua thường hay được phong cho Đất đễ lập ấp, lập quốc nhỏ làm chúa nơi địa phương nhỏ và thường hay đổi họ theo đất mình được làm chúa nơi đó ) ...Sở Bá vương Hạn Vỏ và Lưu Bang lảnh đạo dân Quân Sở-Việt lật đổ nhà Tần...
***Khảo cứu Một số phong tục vùng Sở -(Trầu / Kỳ / Liệt San-yue Lang -Văn Lang- Việt Lang mà ngày xưa goị là "Sở " )và ngay nay qúi vị cọ thể tìm hiểu và tham khảo dễ dàng trên các web của các bloger hay trên trang web của tỉnh Hồ Nam hay Hồ Bắc của Tân Hoa Xã:
_Khách đến nhà khi đả mời ngồi rồi thì kỵ lau bàn hay quét nhà, vì như vậy là có ý đuổi khách.
_Khi mời khách ăn trứng gà thì không được đải ăn số trứng lẽ 1 hay 3, nhưng kỵ nhất là đãi khách ăn 2 trứng, Vì "ăn hai" giống như tiếng chữi ..."ăn Hại" của tiếng Sở.
_Trước khi ăn, không được dùng đủa gỏ chén, vì chỉ có ăn mày mới gỏ chén ăn xin.
_Sau khi ăn, không được gác đủa lên chén, vì gác đủa lên chén là cúng cơm cho vong linh.
_Đầu của phái nam, và vùng eo của phái nữ là chỉ được nhìn, không được rờ ..., nếu bị tùy ý đụng chạm thì coi như là một điều bị sĩ nhục.
_Phải phơi quần áo phụ nữ nơi kính đáo, không được cầm sào phơi quần áo phụ nữ băng qua đường; đồ lót của phụ nữ khi phơi phải tìm ở chổ người ta không nhìn thấy; khi phụ nữ có thai thì không được tham gia tiệc đám cưới; phụ nữ đang có kinh kỳ thì không được vào chùa, miếu; phụ nữ không được tham gia việc xây bếp hay dựng kèo cột trong xây cất.
_Kỵ những từ ngữ hung hiểm, ví dụ: không nói "Chêt́" mà nói "Đi" rồi, hay "không còn nữa", Quan tài thì nói "thọ tài ", "thọ mộc "; ngày tết không được nói "thấy bà"," thấy qủy", "đồ...qủy sứ"...nói chung là kỵ từ ngữ hung hiểm hay xui xẻo.
_ Cha mẹ qua đời thì con trai không cắt tóc trong thời gian 7 Thất (Tuần ) đễ tỏ lòng hiếu thảo khi để tang.
_ Kêu chuột bằng "ông", chuột rất khôn lanh, nên sợ chuột cắn phá quần áo v v...nên tỏ ra tôn kính mà gọi là "ông" Tí.
_Con một của gia đình thì thường goị là "Chó con", "Bé ", "Nữ", "Nố","Náo "...Vì sợ ma quỉ xâm hại, sợ khó nuôi.

                   Ngày Nay thì Văn Hoá Sở đã biến thành đã biến thành văn hóa cuả tiếng Phổ thông / Quang Thoại, nhưng những nghiên cứu về từ ngữ cỗ của lịch Sử còn sót lại mà người ta còn dùng và được biết ở các vùng thuộc Sở lại làm cho tôi giật mình:
-Dù đã bị tiếng phồ thông-quan-thoại thay đỗi, nhưng Nhiều vùng "sở" ngày nay vẫn gọi con của mình là phái nam bằng "trai " như tiếng Việt, đó là vùng: Nam Xương 南昌/ đọc là "ʦai" như "Chai " Hay "Trai" 、đó là các vùng Đô Xương 都昌、An Nghiã安義、Tu Thuỷ修水、Bình Giang 平江、Dương Tân陽新、Tuyên Phong宜豐、Tân DU 新喻 、v v...vẫn gọi con trai là "TSai".
 và....
-2 chân giang rộng ra gọi là: "Mở" và Viết là chử 摸 /Mạc - nhưng đọc là  "mở".
-Con ngổng gọi là  Ngang, ngo.
-Lớn, goị là "Đại ", viết là 軚/ đọc là Đại.
-Cái Rổ làm bằng bằng tre: gọi là Rổ, viết là 蘿 / đọc là Rổ; có nơi nay đọc lô hay lo, loa, lóa...
_"Hiểu", vùng Kiến-Ninh  建寧 ngày nay vẫn đọc "Hiểu'' 曉 như tiếng Việt .
-"Phan", vất đồ vật gọi là Phan, viết là 拌 / đọc là "Phan".
-Bất kể, bất cần mạng sống gọi là "Bán mạng", những vùng còn nói là  "bán mạng" là: ( phát âm có khác nhau 1 chút giữa các vùng ): Nam xương 南昌 / pʰɔn miaŋ、An Nghiã  安義 / pʰɔn miaŋ、Cao An 高安 / pʰɛn miaŋ、Tân Du 新喻 / pʰɔn miaŋ、Bình Hương 萍鄉 / pʰɔ̃ miã、Lễ Lăng 醴陵 / pʰõŋ miaŋ、Kiến Nnh 建寧 / pʰɔn miaŋ、Thiệu Vủ 邵武 / pʰon miaŋ。
_cái lá cây Trúc gọi là Lá, viết là 箬 / đọc là "lá".
_thấy, viết là 睇 đọc là  "Thấy".
_vùng nước Sâu gọi là "thầm" hay "Than", nghiã là "Đầm" so với tiếng Việt .
        Tất cả những phần khảo cứu tiếng nói và phong tục Sở nêu trên là vào trang nhà trên Internet của tỉnh Hồ Bắc  thuộc Tân Hoa Xã là sẽ đọc thấy (trong hiện tại).
        ...Từ những chứng cứ nêu trên, có thể thấy ngày xưa vủng Sở vừa Đúng là "Trầu", vừa đúng là Nước Việt / Văn Lang rộng lớn với hàng trăm bộ tộc  "kỳ -Cữu lê" nói tiếng Việt, Nếu vậy thì nên đọc địa danh và tên người cũa cổ Sử theo tiếng Việt ...
_ khảo cứu 1 số tên Sở theo hướng "việt-Ngữ" thì  thấy là, Ví Dụ :
1/ CAN TƯƠNG: phiên âm Can-Tương > "Cương" hay  "Cường" / vì chẳng có ai tên là Can -Tương, nếu Can-Tương đúng là tên 1 người thì trước đây đã có người dùng, sau nầy phải có người dùng, và bây giờ cũng phải có người dùng; suy ra, Can-Tương là "Cường".
2/ MẠC TÀ: ...chưa thấy có ai trong sử sách có tên là "Mà""Tà" hay "Mạ" "tà", phiên âm nầy chỉ theo Mân Việt ngữ mới có nghiã, đọc là "Bạc-ghé'' > "Bé", còn 1 cách đọc khác là "mo -ghé" ra âm "Moẽ"- ( Moẽ là bé gái ), ở đâu có người Triều -Châu và tiếng Mân Việt thì có người gọi con gái là "Moẽ", ở đâu có người Việt là ở đó có người gọi con gái là "Bé" *** ghi chú : tiếng Mân Việt là Phước Kiến và Triều Châu giữ được rất nhiều Việt Cổ Ngữ, khi phục chế ngôn ngữ Sở hay đối chiếu đễ rỏ nghiã thì các học giã bên Trung Quốc hay so sánh với Mân Ngữ mà tìm đáp số; Ngày nay chúng ta đọc là Mạc-tà, nhưng theo phân tích kỷ lưỡng của tôi thì "bạc -chsé"> tức là "Bé" là tên đúng nhất của người vợ của Can-tương >Cường.
3/CỬU KHUẨN: ...Vần phiên âm "Cữu -khuân" >là " Quân"  nầy độc đáo, dù đọc theo giọng Quảng Đông / Triều Châu / Phước Kiến hay Việt Nam đều có kết quả là "Quân", Đất "Quân" ( Đất Quân hay Quan , Âm thanh gần nhau là tên 1 vùng đất nơi ...được gọi là: Sở, Vậy ..không thể nào là "cưũ -khuẩn " vì nó hoàn toàn vô nghiã ...
4/TRIỀU CA: kinh đô của triều Thương / Trụ Vương là Triều Ca, phiên âm giọng Việt Quảng Đông là Chsiều -Co >Chso / chsò, chính là vùng đất "Trầu" hay "Sở", Vậy không có "Triều -Ca " chỉ có "Trà" là phiên âm của Triều Ca và phát âm rất giống âm "Trầu", ...chỉ có chso , chsò , Trầu , Sở ...bỡi vậy cho nên không có ai tìm ra được kinh đô " Triều Ca " cuả Trụ Vương ở Đâu !!! này nay người ta cho rằng Triều-Ca ở huyện Kỳ của tỉnh Hà Nam ... và đó cũng là lý do tôi tin rằng Trụ Vương / nhà Thương là người Việt vì kinh đô Mang tên "Triều- ca" thì chính là Sở, và vua nhà Thương họ Chử, là con cháu đế Nghiêu,và có chứng cứ tài liệu là họ biết nuôi Voi thì càng đúng là "VanLangshan" tức là Văn-Lang, thần thánh "phong phú như truyện "phong Thần" là sãn phẫm của văn minh nông nghiệp lúa nước đã định cư thì mới có được truyện như vậy v v... Và người Việt Nam không xa lạ với họ Chử ...qua truyện "Chử Đồng Tử"; Triều-Ca là 楚sở. 
5/ THƯƠNG NGÔ: đọc theo phiên âm Quảng Đông là "CHSén-ngùa " > CHsùa =楚sở. 
6/ CỨ ÂU: đọc theo phiên âm Quảng Đông "Chsìa-Ngâu" > Chsầu =楚sở. 
7/CỘNG NHÂN: Cộng -nhân> Cân; Cong-nan> Can, Cúng -dành> Cánh; Can , cân , cánh , đều là gịong việt, mân, Quảng Đông đễ goị đất "cống" (đất "Quang" ) là Vùng Sở.
8/ QỦI PHƯƠNG: Quỉ -Hoang > Quang là giọng Mân Việt, Đất " Quang " là 1 tên khác của Đất sở, Có thể giọng "Quang" là Chính Thức vì rất phù hợp với tiếng Việt; và cũng chính là " Quang" là chủ ngữ đã sinh ra qúa nhiều tên gọi theo sau: Cân / Can / Cánh, Cung, Cúng và Trở thành Cống ngày nay.
19/ CỔ MUỘI: giọng phổ thông Cuà -Mi >ky hay " Kỳ ".
10/ 昌意Xương-Ý: giọng Việt Phiên-Ngung còn đọc là Chsen-ià > tức là phiên âm của Chsià 其, "Chsià" hay "Khỳ" hay "Kỳ" ? ..."khỳ" hay "Kỳ" là tùy giọng nói của từng địa phương.
11/陸終Lộc tục hay Lộc tung đều có phiên âm là >Lùn ( tiếng Quảng Đông "Lùn" là Rồng ), Long.
    ....Qua Những khảo cứu và đối chiếu phía trên đả đủ cho ta thấy "Bí Mật" sé được dần dần sáng tỏ. SỞ là Việt như Tư Mả Thiên đã Viết trong Sử Ký là "Sở Việt đồng tông đông̀ tộc", và cũng thấy được nhà "thương" -"trụ Vương " cũng là Sở ngày trước, và còn biết được "Can-Tương" và "mạc -Tà" tên thật là gì v v...; và người Sở là Hạng Vỏ và Lưu Bang lật đổ nhà tần rồi lập nên nhà Hán chính là người Sở và nói tiếng Sở và đó chính là  "Sở" "văn -Lang" với "Cữu-Lê / Kỳ " và ngôn ngữ chính là Việt Ngữ; Sách "Thuyết Văn" thời Hán là đọc theo Việt Ngữ lại là 1 minh chứng thêm...; Sở Là Việt, là Văn Lang, người Việt làm sao quên được Văn-Lang? Hoa Sử viết rầng Triều Shan (Nhà Thương) qúa nhiều lần dời thủ đô, mà không nghiên Cứu hoặc chối bỏ là Shan từ đâu đến! Văn-Lang đã bắc tiến từ nam ...Đâu dễ gì có 1 ngọn núi là "Lạng Sơn" mà lại trở thành tên của 1 tỉnh? Lạng Sơn hay Lạng-San, hay Lang-Shan, chính là tên của nước "Vănlangshan" còn sót lại khi những vùng đất kia của nước Văn-Lang đá bị đỗi tên thành các vương triều và quốc gia khác nhau theo dòng lịch sử...
       Vì có những ngộ nhận hay gian trá và hàng hàng lớp lớp bụi mờ phủ lên bề dầy lịch sử Bách Việt...cho nên bài khảo cứu nầy được suy xét rất thận trọng. Đễ làm sáng tỏ...
       Sở là Việt, là Văn-Lang trải dài từ phương nam lên Động Đình Hồ với nhiều đời vua với phong hiệu là Hùng Vương.
    ______________________________________________
   * Ghi chú: Can-Tương và Mạc -Tà là tên kiếm và cũng là tên của Vợ chồng nỗi danh đúc kiếm.
-Bài nầy có tham khảo các website dưới đây.
  • 楚國
  • 贛語的歷史
  • 贛語中的古百越語詞一覽
  • 贛語中的古吳語詞一覽



  • Chân thành cáo lỗi cùng tác giả và độc giả
    vì những chữ Hán không thể hiện ra được theo ý muốn của NVA

    © tác giả giữ bản quyền.
    . đăng ngày 27.11.2009 theo nguyên bản của tác giả .

    . Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com
    Nam quốc sơn hà Nam đế cư

    - 南 國 山 河 南 帝 居 -

    Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư

    - 截 然 定 分 在 天 書 -

    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

    - 如 何 逆 虜 來 侵 犯 -

    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

    - 汝 等 行 看 取 敗 虛



    NGƯỜI QUÉT CHỢ Jul 18, '11
    Category:Other


    "Nhớ dâng trà cúng sư thúc và dì Linh nghe con?" thầy nhắc chú tiểu khi thấy chú sửa soạn lên chánh điện để cúng ngọ.
    "Bạch thầy, con nhớ," chú đáp.
    Đó là câu mà thầy cứ nhắc chú mỗi ngày trước mỗi thời kinh. Chú chẳng biết sư thúc là ai, dì Linh là ai. Trên chiếc bàn thờ nhỏ đặt cạnh bàn Tổ, chú chỉ thấy hai cái bài vị được viết bằng chữ Hán chứ chẳng có hình ảnh gì cả. Vì thầy nhắc mãi nên chú không lúc nào quên, vậy mà thầy cứ nhắc. Nghe nhắc hoài, ban đầu chú hơi bực mình, nhưng riết rồi cũng quen. Và khi chú rót trà cúng cho hai người đó, chú cũng làm như một cái máy chứ không suy nghĩ gì. Chùa chỉ có một thầy một trò, nên thầy thương chú lắm và chú cũng quí kính thầy vừa như cha mẹ, vừa như thầy, và thỉnh thoảng như một người bạn đạo. Chú không có tên thế tục. Chú chẳng hiểu lý do vì sao. Có lẽ vì chú sống ở chùa từ nhỏ nên thầy đã không đặt tên thế tục cho chú mà chỉ đặt cho chú một pháp danh là Thanh Thị. Chú lớn lên ở trong chùa, quen với tên gọi mà thầy đặt cho, chẳng thắc mắc gì. Nhưng đến khi được thầy dạy cho học chữ Hán, chú mới hiểu được cái tên đọc nghe như tên con gái của mình lại có một ý nghĩa kỳ cục, không được thanh nhã cho lắm. Nó có vẻ như được đặt ra để đánh dấu một kỷ niệm nào đó của thầy, hoặc cho chính chú. Chú băn khoăn suy nghĩ mãi về ý nghĩa của cái tên mà mình đeo mang. Nhân lúc cùng thầy nhổ cỏ sau vườn chùa, chú hỏi:
    "Bạch thầy, tại sao thầy đặt tên con là Thanh Thị?"
    "Vì thầy thích đặt như vậy," thầy chú thản nhiên trả lời.
    "Lâu nay con tưởng rằng chữ thị có nghĩa là đây, như vầy, giống như chữ thị trong như thị, đích thị hoặc chữ thị như trong biểu thị, thị hiện... nhưng mới hôm qua, thầy viết tên con bằng chữ thị có nghĩa là chợ. Con không rõ là tên con sao lại có cái nghĩa không được hay. Xin thầy giải thích cho con."
    Thầy nghiêm giọng nói:
    "Chỉ là tên gọi thôi, có gì mà phải bận tâm, nhổ cỏ đi."
    Chú cúi xuống nhổ cỏ tiếp, nhưng được một lúc, chú lại hỏi:
    "Con biết đó chỉ là tên gọi thôi, nhưng tên gọi cũng phải nói lên một cái gì, một ý nghĩa gì chứ."
    "Thì chợ cũng là một cái gì, một ý nghĩa gì rồi đó," thầy đáp.
    "Con thấy chợ chỉ có ý nghĩa là dơ, ồn ào, phức tạp... toàn là xấu không à. Con không tìm ra được ý nghĩa nào hay đẹp ở trong nó. Khi thầy đặt tên con, chắc chắn là thầy có nghĩ đến một ý tưởng hay một hình ảnh gì đó về cái chợ, phải không, bạch thầy?"
    "Nhiều chuyện quá," thầy nói, "nhổ cỏ đi."
    Chú im lặng nhổ cỏ, không dám hỏi nữa. Nhưng trong đầu óc chú bắt đầu nẩy ra những suy tưởng, những phán đoán về sự đặt tên của thầy. Chú nghĩ, năm nay chú đã mười sáu tuổi rồi, có thể nói là chú đủ trưởng thành để nghe thầy kể về lai lịch của chú. Lâu nay mỗi lần chú hỏi đến vấn đề đó, thầy chỉ nói là chú chưa trưởng thành, chưa đến lúc cần biết. Nhưng dù thầy chẳng nói ra, chú cũng không đến nỗi ngu độn để không biết rằng chú là một đứa bé mồ côi. Ai cũng có cha mẹ, riêng chú không có. Cái thực tế đó làm gì thầy che giấu được. Nhưng tại sao lại đặt tên là Thị, có nghĩa là chợ? Có lẽ... có lẽ cha hay mẹ của chú là người bán hàng ngoài chợ, hoặc là người chủ chợ. Nhưng ba mẹ chú đâu mà để cho thầy phải đặt tên? Cũng có thể mẹ chú đi ngang chợ thì sinh ra chú. Không, nếu mẹ chú sinh ra chú ở chợ thì cũng đem về nhà, và chú vẫn còn người mẹ đó chứ chú đâu có mồ côi để cho thầy phải đặt tên! Hay là... hay là thầy lượm được chú ngoài chợ, đem về chùa nuôi cho đến ngày hôm nay? Chính vì kỷ niệm đó mà thầy đặt tên cho chú là Thị (chợ)?
    "Bạch thầy..." chú không ngăn được nỗi háo hức tìm hiểu thân phận mình, lại mở miệng hỏi.
    "Gì nữa đây?" thầy không nhìn chú.
    "Có phải... có phải con là đứa con rơi thầy lượm ở ngoài chợ đem về hay không?"
    Thầy ngưng tay nhổ cỏ. Im lặng một lúc, thầy tiếp tục nhổ, vừa nói:
    "Nhổ cỏ."
    Đến chiều, sau giờ ăn cháo, thầy gọi chú cùng dạo sân với thầy. Hai thầy trò tản bộ cho đến vườn sau, nơi có hai ngôi mộ mà thỉnh thoảng chú thấy thầy ra thắp hương. Một cái mộ thì chú biết là của sư thúc chú, còn cái còn lại chú chẳng biết của ai và cũng không để ý lắm.
    "Con đã dâng trà cho sư thúc và dì Linh lúc công phu chiều rồi hả?" thầy hỏi.
    "Bạch thầy, rồi," chú trả lời như máy.
    Thầy nhặt mấy chiếc lá nằm trên mộ sư thúc, nhổ vài bụi cỏ mới mọc quanh hai ngôi mộ. Rồi thầy bắt đầu kể chuyện cho chú nghe.
    *
    Thầy Hải Chấn đang ngồi đọc sách thì Hải Thanh, sư đệ của thầy, bước vào, mặt buồn dàu dàu. Hải Chấn hỏi:
    "Gì mà sư đệ có vẻ rầu lo vậy?"
    Hải Thanh buồn bã đứng nhìn ra cửa sổ một lúc rồi nói:
    "Đệ... đã phạm giới..." Hải Thanh nói đến đó thì rơi nước mắt.
    Hải Chấn kéo tay sư đệ ngồi xuống, vỗ về:
    "Có trầm trọng lắm không? Đệ đã sám hối chưa?"
    "Đã sám hối. Nhưng đó là cho tự tâm. Không giải quyết gì được cho hoàn cảnh."
    "Chuyện gì vậy? Nói đi, để xem huynh có thể giúp gì cho đệ không."
    "Huynh đừng trách mắng đệ nghe..."
    "Phạm tội thì sám hối; huynh trách mắng có thay đổi gì được đâu! Nói đi, đừng chất chứa trong lòng," Hải Chấn nói với giọng đầy cảm thương.
    Hải Thanh đưa hai tay ôm lấy đầu, mặt gục xuống bàn, nói:
    "Cô ấy đã có mang."
    Hải Chấn sửng sốt một lúc, rồi thở dài, hỏi:
    "Cô ấy là ai vậy?"
    "Sư huynh không biết đâu. Cô ấy không hề đến chùa mình."
    "Vậy làm sao đệ quen để đến nỗi..."
    "Thôi, huynh hỏi làm gì chuyện đó cho mệt. Bây giờ, đệ chỉ hỏi huynh một điều là đệ phải làm sao đây?"
    Hải Chấn nhíu mày, thấy khó xử. Theo luật, Hải Thanh đã phạm một trong các tội Ba-la-di, tức những trọng giới mà đương sự bị coi như mất cả giới thể, không còn là tỳ-kheo thanh tịnh nữa, không thể chữa được nữa—như cây dừa, cây cau, đã chặt đi khúc đầu (đoạn đầu) thì không thể mọc lại tàu lá mới. Đã tới nước đó thì Hải Chấn biết góp ý với Hải Thanh điều gì nữa. Hải Chấn thở dài nói:
    "Huynh cũng chẳng biết phải góp ý với đệ làm sao. Chuyện không đơn giản đâu. Đệ phải nói rõ sự việc may ra..."
    Hải Thanh ngập ngừng lúc lâu rồi kể:
    "Cũng vì cái hạnh quét chợ mà đệ vướng phải nghịch cảnh này. Huynh cũng biết mà, mỗi sáng đệ quét từ sân ra tới chợ, mặc ai cười ai chê, đệ quét thì cứ quét, vừa quét vừa quán niệm về sự cấu bẩn của thế gian và thanh tịnh của niết bàn... năm này qua năm nọ, mưa hay nắng, đệ cũng không bỏ ngày nào. Thế rồi... cô ấy lưu ý đến đệ. Và... một ngày nọ, đệ sa ngã."
    "Buồn thay cho đệ. Cô ấy bán ngoài chợ à?"
    "Không, cô chỉ đi ngang chợ thôi."
    "Vậy bây giờ gia đình cô ấy đã biết rằng chính đệ đã làm... cái chuyện gì đó chưa?"
    "Chưa, cô ấy không nói ra là ai. Nhưng... có lẽ có ngày họ cũng biết. Mà họ có biết hay không thì... mình cũng phải tự liệu."
    "Tự liệu?"
    "Ý đệ nói là mình phải giải quyết vấn đề đó bằng cách đến nói chuyện với gia đình cô ấy, xin hỏi cưới cô ấy, hoặc là... đệ cùng cô ấy trốn đi xa để khỏi mang tai tiếng cho gia đình cô ấy và cho chùa nữa."
    "Nghĩa là đệ sẽ hoàn tục?"
    "Chứ biết sao bây giờ. Huynh có cách gì hay hơn không?"
    Hải Chấn ứa nước mắt, thương sư đệ mình gặp nghịch duyên đến phải bỏ đường tu, nhưng chẳng biết phải giúp bằng cách nào. Hải Chấn ngồi lặng thinh. Một chặp, Hải Chấn nói:
    "Huynh chẳng biết cách nào hết, mong đệ tha thứ cho sự chậm lụt của huynh. Huynh nghĩ chắc phải làm theo một trong hai cách mà đệ nêu ra thôi. Mà cho dù chọn giải pháp nào, huynh cũng xin lưu ý đệ một điều rằng đệ nên giải bỏ hình thức tăng sĩ trước khi..."
    "Đệ hiểu."
    Hai huynh đệ im lặng, mỗi người một dòng suy tưởng.
    Hải Chấn nhớ lại bao kỷ niệm mà thầy cùng Hải Thanh trải qua nơi ngôi chùa này từ thuở còn để chóp đến nay. Hải Thanh thông minh, nhanh nhẹn mà lại siêng năng nên cái gì cũng vượt qua mặt sư huynh. Nhưng đến khi sư phụ sắp viên tịch, sư phụ lại giao trọng trách trụ trì cho Hải Chấn. Lúc đó Hải Chấn đã không nhận vì cho rằng sư đệ vượt trội hơn mình quá nhiều. Hải Thanh cũng không chịu nhận chức trụ trì, còn sư phụ thì nhất quyết phải giao chức ấy cho Hải Chấn dù Hải Chấn học hành chậm lụt. Rốt cuộc Hải Chấn phải nhận. Giờ ra đi, sư phụ không nói gì nhiều ngoài việc khuyên răn hai huynh đệ nương nhau tu tập, và những lời cuối cùng của sư phụ đều nhắm vào Hải Thanh, cảnh giác Hải Thanh là không nên chú trọng vào sở kiến sở văn mà bỏ quên phần tu tập. Sau khi sư phụ mất, Hải Thanh thức tỉnh, nỗ lực hành trì, không bao giờ chểnh mảng. Rồi một ngày đó, Hải Thanh bỗng phát nguyện quét luôn cả chợ thay vì chỉ quét sân chùa. Hải Chấn không ngăn cản chi hạnh nguyện của sư đệ mình vì nghĩ rằng đó cũng là hạnh tốt thôi. Hải Thanh cho rằng hình ảnh người tu sĩ hiền lành nhẫn nại có mặt nơi phố chợ đông người sẽ cảm hóa và gây được tín tâm cho nhiều người. Ngoài ra, quét chợ cũng là một cách tu luyện cho tâm được định tĩnh ngay giữa chốn náo động. Không ngờ, chính hạnh nguyện cao đẹp đó lại đốn ngã Hải Thanh trong một nghịch duyên đau xót.
    Hải Thanh không ôn lại kỷ niệm xưa mà chỉ ưu tư vấn đề xảy ra trước mắt. Hải Thanh nhớ đến Thùy Linh, cô gái đã có mang với mình. Cô ấy rất đẹp và là một tiểu thư con của quan huyện. Với sự thông minh vốn có, lại thêm sự giúp đỡ bày mưu của cô nữ tì, cô ấy đã tạo đủ điều kiện để lôi kéo Hải Thanh ngã vào vòng tay mình. Từ những phút đầu Hải Thanh đã biết mình rơi vào lưới tình, nếu không thức tỉnh quay lại ngay với thiền môn thì khó bề giữ gìn được đạo hạnh của mình, nhưng bóng sắc lộng lẫy kiêu sa của nàng đã không để cho Hải Thanh chùn bước mà còn kéo thầy lậm sâu thêm vào cơn men ái dục. Bây giờ chuyện đã lỡ rồi, không cưỡng lại được nữa. Hải Thanh muốn rủ Thùy Linh cùng bỏ huyện này trốn đi với mình qua xứ khác sinh sống và cũng để tránh tiếng cho cả đôi bên, nhưng Thùy Linh không dám. Nàng đã ở lại để rồi không che dấu được cái thai càng lúc càng lớn. Nàng đã bị cha đánh đập, mắng chửi dữ dội. Hải Thanh nghe nữ tì nói lại như vậy nhưng chẳng biết phải làm sao. Nhiều lúc Hải Thanh muốn lẻn vào tư dinh quan huyện để cứu nàng ra khỏi đó, nhưng lính gác canh phòng nghiêm mhặt, không cách gì vào được. Dù đã từng xem thế sự như một giấc mộng hư huyễn, trước tình cảnh đau xót mà Thùy Linh phải hứng chịu, Hải Thanh không khỏi nghe tan nát trong lòng.
    Đêm đó, hai huynh đệ ngồi thức trắng bên bàn sách. Đến lúc mờ sáng, Hải Thanh mới rời phòng sách vào phòng riêng, lấy khăn chít lấy đầu để che dấu cái đầu tròn tu sĩ của mình, thay đổi y phục như một người thế tục rồi từ giã Hải Chấn mà đi. Hải Chấn hỏi:
    "Đệ đi đâu vậy?"
    "Đến tư dinh quan huyện nói chuyện thẳng với cha cô ấy."
    "Sao huynh thấy ái ngại cho chuyến đi này của đệ quá. Thấy có gì không ổn. Đệ liệu có thể thuyết phục được cha mẹ cô ấy không?"
    Hải Thanh không đáp, chỉ nhún vai rồi đi. Hải Chấn níu lại, dúi vào bọc vải của sư đệ một túi tiền nhỏ:
    "Đó là tiền riêng của huynh, không phải của chùa đâu, đừng ngại. Đệ mang theo để có gì..."
    "Cám ơn huynh. Đệ đi đây. Nếu có tin tốt đẹp, đệ sẽ cùng Thùy Linh ghé thăm huynh trước khi rời xứ này."
    Và Hải Thanh đi luôn, không trở lại. Hải Chấn bồn chồn lo lắng suốt cả ngày và đêm hôm đó. Sáng hôm sau, khi Hải Chấn ra vườn thì thấy xác Hải Thanh nằm ở trước sân chùa, thân thể tím bầm vì bị đánh đập đến tắt thở. Hải Chấn đến khiếu nại với quan huyện nhưng huyện đường đóng cửa, lính gác xua thầy về. Thầy đành ngậm ngùi chôn xác sư đệ sau vườn chùa. Nghĩ rằng có làm to chuyện lên thì sư đệ nhắm mắt cũng không được yên.
    Hai tháng sau, Thùy Linh sinh hạ một bé trai. Nửa đêm nàng lẻn trốn khỏi dinh, mang con ra chợ, ngồi nơi sạp hàng mà ôn lại chuyện xưa khi nàng đi ngang đây và bắt gặp nhà sư quét chợ lạ kỳ. Nàng ngồi giữa trời sương cho đến sáng thì chết, tay vẫn còn ôm đứa bé sơ sinh đang khóc.
    Quan huyện lâu nay cố che dấu chuyện con gái mình nhưng nay, cái chết của Thùy Linh ngay giữa chợ đã làm cho câu chuyện nhanh chóng truyền đi; ông bực dọc và căm giận đến độ sai lính treo bảng thông báo rằng ông đã từ đứa con trắc nết phá hoại gia phong, rằng ông không chịu trách nhiệm về cái chết của Thùy Linh cũng như không chấp nhận đứa con của người quét chợ. Thông cáo của ông có vẻ như ngầm phán rằng đứa bé phải chịu chết giữa chợ đời, không ai được phép cứu nó. Vì uy quyền hống hách cũng như sự giận dữ của quan huyện, không ai dám mang đứa bé sơ sinh về nuôi. Người ta gỡ đứa bé khỏi vòng tay lạnh giá và cứng đờ của mẹ nó rồi đặt nó nằm trong một chiếc nôi, để giữa chợ để chờ kẻ nào động lòng trắc ẩn đến mang nó đi. Những người đàn bà bán hàng ngoài chợ đã chăm lo sữa cho đứa bé suốt ngày đó, nhưng cũng không ai chịu nhận đứa bé về. Còn xác Thùy Linh thì được quấn sơ sài bằng một cái chiếu, đặt ở gần đó. Đến chiều tối thì chuyện đến tai Hải Chấn. Thầy liền tức tốc ra chợ, ôm chiếc nôi nhỏ mang về chùa. Còn xác Thùy Linh, thầy bảo những người phật-tử bán hàng ở chợ giúp đem về chùa chôn. Ấy vậy mà quan huyện không dám động đến Hải Chấn vì cả nể đức hạnh và uy tín của thầy. Đứa bé được yên thân sống và lớn lên trong cửa chùa.
    *
    Nước mắt ràn rụa trên hai gò má bầu bĩnh, chú tiểu Thanh Thị quì xuống chân thầy:
    "Tạ ơn thầy cứu sống và nuôi dưỡng con."
    Thầy đỡ chú dậy, nói tiếp:
    "Sư thúc của con có linh vị thờ trong chùa mà thầy thường nhắc con rót trà dâng cúng chính là Hải Thanh cha của con đó. Sư thúc với thầy tu học với nhau từ nhỏ nên ngoài tình đạo bạn còn coi nhau như anh em ruột. Chuyện của sư thúc khiến thầy đau lòng quá mà không biết giúp bằng cách nào. Nuôi dưỡng con chỉ là một chuyện nhỏ để biểu lộ sự mến tiếc của thầy đối với sư thúc thôi. Huống chi, làm sao thầy có thể bỏ mặc một đứa trẻ kêu khóc không người đoái hoài..."
    Chú tiểu Thanh Thị bây giờ đã hiểu vì sao chú có cái tên lạ kỳ đó: Thanh là tên của cha chú còn Thị chính là chợ, là nơi ghi lại kỷ niệm chua xót đầu đời của cha chú, mẹ chú, và cả chú nữa.
    "Vậy quan huyện hiện nay chính là ông ngoại của con hở, bạch thầy?"
    "Không. Ông và phu nhân đều đã qua đời. Quan huyện hiện nay là người mới được bổ nhiệm."
    "Vậy những người ở ngoài chợ... đều biết chuyện của con hở thầy?"
    "Mười sáu năm rồi, nhiều người đã dọn đi xứ khác, nhiều người đã chết, chỉ còn lại rất ít người là biết chuyện của con, nhưng chắc họ cũng quên khuấy đi rồi. Mà sao con hỏi vậy? Con không muốn người ta biết rằng con đã xuất thân từ đâu, phải vậy không?"
    "Bạch thầy không phải, không phải."
    "Như vậy thì tốt. Nhân cách không nằm ở chỗ xuất thân từ đâu mà từ chính giá trị thực có của mình."
    "Dạ, con biết," chú cúi mặt nói nhỏ.
    Theo như lời thầy kể, rồi nhìn hai ngôi mộ song song trước mặt, đọc những chữ Hán viết trên mộ bia, chú thấy rõ đó chính là song thân của mình. Chú quỳ xuống nhìn thật lâu nơi hai mộ bia, lặng người một lúc lâu, chú bật khóc thảm thiết.
    Vậy đó mà chú vẫn không sao tẩy xóa được nỗi mặc cảm đè nặng trong tâm khảm mình: rằng chú là một đứa trẻ vô thừa nhận, được sinh ra bởi một người cha tu sĩ phá giới, một người mẹ khuê các phá gia phong; rằng chú bị bỏ rơi giữa chợ đời như một tội nhân tử hình ngay từ lúc sơ sinh. Bao nhiêu ý nghĩ đó ám ảnh chú suốt mấy ngày kế tiếp sau khi nghe thầy kể rõ sự tình. Thầy theo dõi từng biến động tâm tư hiện trên mặt chú, bèn gọi chú hỏi chuyện:
    "Con sẽ mang buồn cho đến bao giờ? Có sinh tức có diệt, sao phải ôm mãi nỗi đau khổ biệt ly như thế!"
    Chú lặng thinh không đáp lời thầy. Thầy biểu lộ tình cảm, lấy tay xoa đầu chú:
    "Thương cha mẹ, con rán tu học để cha mẹ vui lòng. Cha con là một tu sĩ thông minh, có tuệ căn, làu thông kinh điển. Chỉ một phút yếu lòng mà đánh mất sự nghiệp cao cả. Con có thương cha thì nối tiếp sự nghiệp đó mới phải, sao cứ ôm lòng buồn rầu mãi. Con đến rót trà dâng ba đi, rồi lên tụng kinh."
    Chú cúi mặt bặm môi một chặp, bỗng ngước lên nói:
    "Chỉ có thầy mới là cha con thôi. Ông ấy không phải là cha con!"
    Nói rồi chú vụt đứng dậy, bỏ đi vào phòng riêng, đóng cửa lại. Thầy sững sờ ngồi nhìn theo, lắc đầu buồn bã. Chú bỏ tụng kinh chiều hôm đó. Thầy lặng lẽ đắp y áo, thắp hương, rót trà cho sư đệ Hải Thanh rồi thầy tụng kinh thay chú.
    Suốt mấy ngày, chú vẫn không ra khỏi phòng. Thầy đến gõ cửa, gọi mãi mà không được. Mọi việc trong chùa thầy làm thay chú hết. Chú không ra khỏi phòng nên cũng nhịn ăn luôn cả mấy ngày. Hai thầy trò sống bên nhau mười sáu năm rồi, chưa lần nào vào bữa ăn mà thiếu thầy hay thiếu trò. Cho nên, khi chú nhịn, thầy cũng nhịn theo, không buồn ăn nữa, chia xẻ nỗi đau khổ nặng nề của chú. Đến ngày thứ tư, chú mới mở cửa bước ra, phờ phạc, bệnh hoạn. Chú đến quỳ dưới chân thầy và khóc nức nở. Thầy chỉ lấy tay xoa đầu chú.
    Hai thầy trò bỗng dưng mà sống một cuộc sống lặng câm, buồn tẻ. Thầy để chú tự do trong những suy tưởng riêng tư chứ không gợi chuyện gì với chú cả. Không khí trong chùa vì vậy mà nặng nề. Cho đến một ngày nọ, sau khi cùng làm lễ sám hối với thầy xong, chú mới cất được gánh nặng trong lòng. Chú thưa với thầy:
    "Con đã sai lầm. Con không thể phủ nhận công ơn sanh thành của cha mẹ."
    "Tốt, con biết vậy là tốt. Mẹ con vì sinh mạng của con, vì muốn lưu giữ giọt máu và hình bóng của cha con mà nhẫn nhục sống giữa bao lời xỉ vả, bao trận đánh đập của gia đình để chờ ngày sinh ra con. Mẹ con tuy phá gia phong nhưng, theo thầy, bà là người tinh mắt, thông minh, một phụ nữ đức hạnh biết vượt lên cái hình thức bề ngoài để nhìn thấy được giá trị tinh thần nơi cha con. Còn cha con, tuy phạm cấm giới, nhưng biết ăn năn, biết trách nhiệm, đã can đảm bước vào tư dinh của ông ngoại con với ước mong là cứu được hai mẹ con ra ngoài... và cha con đã chết vì dám đứng ra đối đầu với nguy hiểm. Với truyền thống, với tập tục, cả hai đều bị lên án. Nhưng họ đã chết một cách cao cả, ít nhất là đối với sinh mạng của con, phải không? Ở một khía cạnh nào đó, một hoàn cảnh đặc biệt nào đó, con sẽ thấy rằng cái mà người ta gọi là truyền thống, tập tục, gia phong, lễ giáo v.v... thật ra chẳng là gì cả. Rỗng tuếch! Chỉ có những tấm chân tình mới thực sự là có ý nghĩa mà thôi."
    "Dạ, con hiểu," chú nói trong giọng xúc động và tri ân thầy đã chỉ giáo.
    Chú không dám coi thường cha mẹ mình nữa. Chú thăm mộ cha mẹ hàng ngày, chú rót trà dâng cha mẹ vào mỗi thời kinh. Sư thúc và dì Linh, chú không còn gọi hai tên đó nữa mà gọi bằng cha mẹ. Chú cảm thấy có cái gì ngọt ngào và khiến chú ấm lòng khi gọi lên hai tiếng cha mẹ đó. Tuy nhiên, trên thực tế, chú chỉ vui sướng sống trong tình cảm và vòng tay vô hình vô ảnh của cha mẹ; còn đối với những mặc cảm về thân phận mình, chú vẫn không sao tẩy xóa đi một cách thoải mái được. Đến nỗi khi đi ra đường với thầy, chú có cảm giác như mọi người đang nhìn mình, xầm xì, chỉ trỏ, bàn tán về "người quét chợ". Từ đó, chú hết muốn ra khỏi chùa. Và đôi lúc, chú muốn cải đổi cái tên Thanh Thị mà chú mang. Chú thấy cái tên đó chỉ nhắc nhở chú về thân phận buồn tủi của chú mà thôi.
    Vì thương chú, và vì chưa biết cách nào giải tỏa mặc cảm của chú một cách hữu hiệu, thầy cũng chiều lòng chú, không sai chú ra ngoài nhiều và cũng tránh cho chú những dịp phải ra trước đám đông.
    Trải qua bốn năm, với tuổi đời thêm lớn, với sự học hỏi giáo lý, với sự tu tập thiền định, và với sự tiếp thọ đại giới để trở thành một vị tỳ kheo, chú dần dần thấy vơi đi những tình cảm lưu luyến xót xa cho chuyện tình thương tâm của cha mẹ. Nhưng cái mặc cảm sợ người khác biết rõ thân phận mình vẫn cứ đeo bám mãi trong lòng chú, không sao gột bỏ. Thầy biết vậy, cố gắng tháo gỡ cái mặc cảm đó cho chú lần nữa bằng một cuộc nói chuyện sau thời tụng kinh khuya:
    "Thanh Thị, con đã trở thành một vị đại đức, một vị lãnh đạo tinh thần xứng đáng cho đồ chúng noi gương tu tập. Vậy mà thầy thấy con như vẫn còn ôm ấp cái mặc cảm rằng mình thấp hèn, phải vậy không? Con nói đi, cái gì khiến con nghĩ như thế? Con có biết rằng chỉ một cái phiền não nhỏ nhặt còn sót lại trong tâm cũng đủ ngăn trở con tiến đến giải thoát hay không?"
    Thanh Thị không nói không rằng, lặng lẽ bỏ vào phòng. Thầy đến gõ cửa, đứng ngoài cửa nói vọng vào:
    "Hãy nhìn kỹ những gì thầy làm. Nếu việc thầy làm khiến con thấy thầy không xứng đáng là thầy của con nữa thì con hãy rời thầy mà đi tìm một minh sư khác để tham vấn. Con không thay đổi thì suốt một đời ở bên thầy cũng chỉ vô ích mà thôi. Làm sao thấy được vòm trời giải thoát chứ!"
    Nói rồi thầy bỏ đi. Thanh Thị thấy không khí im quá, biết là thầy không còn đứng ngoài cửa phòng mình. Thanh Thị thắc mắc không hiểu thầy đi đâu và làm gì. Chú bước ra, tìm thầy. Thầy không có trong chùa. Thầy đã đi ra ngoài. Chú bước ra cổng chùa nhìn hai bên thì thấy thầy đang cầm chổi quét ở xa xa. Thầy quét về hướng chợ. Chú bặm môi, rồi cắn răng chạy vào phòng mình, ôm mặt khóc như một đứa trẻ. Thầy đã quét chợ như cha chú đã làm trước đây. Thầy muốn chứng minh cho chú thấy rằng việc quét chợ không có gì xấu mà còn là một hạnh nguyện cao cả chỉ có cha chú mới làm nổi. Nhưng, sự cố gắng của thầy không mang lại kết quả gì. Chú vẫn không sao chấp nhận được hành vi quét chợ cho dù thầy có khoác lên đó bao nhiêu ý nghĩa cao đẹp.
    Khi thầy quét chợ về, cất chổi dưới bếp, chú đón lạy thầy ngay ở thềm bếp, năn nỉ:
    "Lạy thầy, xin thầy đừng vì con mà phải nhọc đến thân tâm như thế. Xin thầy đừng làm vậy nữa, con không chịu nổi."
    Thầy không nói. Ngày mai thầy lại tiếp tục quét chợ. Chú lại lạy lục xin thầy chấm dứt. Thầy kiên quyết:
    "Ta chỉ ngưng khi nào con thực sự đốt cháy được cái mặc cảm và ý nghĩ cho rằng quét chợ là việc xấu hay thấp hèn. Con không thay đổi, sẽ không giải thoát, sẽ không tìm thấy an lạc cho dù đang khoác mặc tăng bào. Và nếu con không thay đổi, ta sẽ quét chợ cho đến khi nào ta nhắm mắt mới thôi."
    Thầy tiếp tục quét. Thanh Thị vẫn không thay đổi mà còn đau khổ hơn. Đến nỗi, chú bỏ thầy mà đi, chỉ ghi lại vài dòng vắn tắt rằng chú muốn đi tham học ở phương xa.
    Chú đi xa thật xa khỏi nơi chốn sinh ra và trưởng thành của mình để xóa đi bao hình ảnh, bao ý nghĩ đau buồn về thân phận. Chú tìm tới nhiều vị thầy để học hỏi, nhưng không vị thầy nào đả thông được những mặc cảm của chú. Một hôm, nghe đến danh tiếng của một vị thiền sư tên là Đại Ngốc, chú tức tốc tìm đến vị này để học đạo vì chú hy vọng rằng ông ta cũng mang một cái tên không được tao nhã, có thể ông ta sẽ có thuốc hay để chữa căn bệnh mặc cảm của chú. Chú nghĩ có lẽ đằng sau cái tên của vị thiền sư này cũng mang một quá khứ nếu không đau xót như chú thì cũng cay chua buồn cười chứ chẳng không.
    Thiền sư Đại Ngốc ẩn cư trong một am tranh trên núi cao. Khi lên tới nơi, chú thấy một cái bảng nhỏ treo trên một thân cây: "Đại Ngốc Am". Chú bước vào đảnh lễ thiền sư, hỏi ngay:
    "Bạch thầy, làm sao có thể gột bỏ được một danh từ chỉ đem lại cho mình những buồn phiền, khổ đau?"
    "Nó chỉ là một tên gọi giả tạo thì cần gì phải gột bỏ!"
    "Nhưng... rõ ràng là nó đeo bám và gợi lên bao điều đau xót cho con từ nhiều năm nay."
    "Đeo bám chỗ nào? Gợi lên cái gì? Ở đâu? Nói ta nghe!"
    Thanh Thị hốt nhiên giác ngộ lẽ sinh diệt huyễn hóa của muôn sự muôn vật, liền sụp lạy thiền sư mà về. Chú đi ngày đêm không dừng nghỉ, những mong về quỳ dưới chân thầy mà sám hối.
    *
    Từ hai năm rồi, khi Thanh Thị bỏ chùa mà đi, thầy Hải Chấn cứ mang chổi ra quét sân chùa rồi quét luôn tới chợ. Ban đầu thầy quét chỉ để thức tỉnh Thanh Thị, nhưng khi quét, thầy cảm nhận được nhiều ý nghĩa cũng như công dụng tu tập ngay trong chính sự việc quét chợ đó. Thầy tập trung tâm mình vào từng động tác quét, lắng nghe tiếng chổi khua nhẹ trên đất, nhìn ngọn chổi vờn trên cỏ rác... không phút giây nào mà không lắng lòng vào việc quét. Đến độ, thầy với cây chổi chỉ là một. Vì vậy, âm thanh náo loạn của chợ búa không ảnh hưởng, không tổn hại gì đến tự tâm thanh tịnh của thầy. Chính trong loạn động thầy tìm thấy sự tịch lặng. Và thầy có thể an lạc trong chính việc quét chợ tầm thường hàng ngày. Trong khi đó, hình bóng của thầy, việc quét dọn của thầy giữa chợ đời cũng làm cho khu chợ sạch sẽ hơn, bớt huyên náo xô bồ, và người ta cũng bớt cạnh tranh cãi vả nhau. Mỗi lúc thấy thầy quét đến chợ, người ta bỗng dưng giảm chuyện nói năng, có nói thì nói nhỏ giọng xuống. Đức độ của thầy làm thay đổi không khí chợ một cách rõ rệt.
    Hôm nay thầy đang quét đến giữa chợ, bỗng có người nắm lấy cây chổi của thầy, nói với giọng cung kính:
    "Bạch thầy, thầy hãy về nghỉ ngơi để con quét thay thầy."
    Thầy ngưng tay ngước nhìn và thấy Thanh Thị. Khuôn mặt của chú ấy không còn dấu vết của mặc cảm, khổ đau và phiền não. Thầy mỉm cười trao chổi cho chú quét, và thầy bước theo chú, từng bước chậm.
    Từ đó, cứ mỗi sáng, người ta thấy hai thầy trò tu sĩ cùng quét đường, quét chợ. Bóng dáng họ xuất hiện nơi đâu, sự an lạc lan tỏa ra đến đó.
    Hai năm sau, thầy Hải Chấn viên tịch. Trước khi từ giã cuộc đời, thầy gọi Thanh Thị đến bên thiền sàng, trao cho Thanh Thị cây chổi mà thầy thường dùng để quét chợ hàng ngày:
    "Đời thầy mấy mươi năm học đạo không ngờ đến tuổi xế chiều mới tìm thấy được đạo lớn từ cây chổi tầm thường này. Đây là tất cả công phu và ý chỉ của thầy. Con hãy giữ lấy mà đi cho trọn con đường của con."
    Nói rồi thầy hóa. Thanh Thị cất cây chổi đó trong phòng riêng của mình như một kỷ vật ghi lại hình ảnh cao đẹp của cha, của mẹ, và nhất là của thầy mình.
    Sáng hôm sau, Thanh Thị vẫn cứ quét chợ. Người ở chợ thấy Thanh Thị quét một mình thì biết rằng thầy Hải Chấn đức độ khả kính của họ đã mất.
    Thanh Thị quét chợ cho đến tuổi già. Mấy mươi năm không hề xao lãng. Bây giờ Thanh Thị đã trở thành một vị hòa thượng đạo đức thanh cao, nổi tiếng với cây chổi và hạnh nguyện quét chợ. Hải Thanh quét chợ sáu năm. Hải Chấn quét chợ bốn năm. Riêng Thanh Thị thì quét chợ đến sáu mươi năm. Bao khuôn mặt mới có cũ có, thay nhau ngồi bán hoặc đi mua sắm ở khu chợ, không ai mà không biết đến Thanh Thị quét chợ. Hình ảnh Thanh Thị đã trở nên quen thuộc và gắn liền với khu chợ khiến cho mọi người nẩy ý lấy tên vị hòa thượng này để đặt cho khu chợ: chợ Thanh Thị—một cái chợ sạch. Ngày Thanh Thị ngưng quét thì tuổi đã tám mươi tư. Ngày ấy, bầu trời u ám. Ngoài khu chợ, cỏ rác đầy mà chẳng thấy tăm dạng Thanh Thị đâu. Chợt nghe chuông chùa vẳng lại ba hồi buồn bã. Mọi người ở khu chợ bỗng sa lệ vì biết rằng vị hòa thượng già mang tên Thanh Thị sẽ không bao giờ cầm chổi ra quét chợ này nữa. Cả người bán lẫn khách mua đều sụt sùi khóc.

    No comments:

    Post a Comment

    Followers

    Blog Archive